Mục lục:
LỜI NÓI ĐẦU.
- Phần một: Lý luận chung về mô hình năm lực lượng của Michael
Porter.
1. Mức độ căng thẳng của sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
ngành.
2. Mối đe doạ của những người gia nhập mới.
3.Mối đe doạ của các sản phẩm thay thế.
4. Sức mạnh của người mua.
5. Sức mạnh của những nhà cung ứng.
- Phần hai: Thực trạng cạnh tranh của ngành may mặc nhìn nhận dưới
góc độ "mô hình năm lực lượng".
I. Tìm hiểu chung về ngành may mặc.
II. Thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành.
1. Mức độ ganh đua giữa các đối thủ đang hiện hữu trong ngành.
2. Mối đe doạ của những người gia nhập mới.
3. Sức mạnh của người cung ứng.
4. Sức mạnh của người mua.
5.Mối đe doạ thay thế của các sản phẩm thay thế.
- Phần ba: Phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của ngành may mặc nước ta.
I. Những quan điểm chính.
II. Những giải pháp cụ thể.
1. Giải pháp về mối quan hệ liên kết.
2. Giải pháp về tăng khả năng cạnh tranh cho hàng may mặc xuất khẩu.
3. Các biện pháp về nâng cao khả năng cạnh tranh chung cho ngành may
mặc.
4. Giải pháp về nâng cao năng lực của ngành may mặc trong tiến trình hội
nhập.
Lời nói đầu.
Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện chủ trương đổi mới và phát triển
Phần hai : Thực trạng cạnh tranh của ngành may mặc nhìn nhận dưới góc
độ "Mô hình năm lực lượng ".
Phần ba: Các phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao khẳ năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp ngành may mặc.
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo Phạm Văn Minh cùng toàn thể các
bạn đã giúp em hoàn thành bài viết này.
Phần một:
Lý luận chung về "Mô hình năm lực lượng" của giáo sư Michael Porter
Phương pháp năm lực lượng là phương pháp nổi tiếng nhất về phân
tích cơ cấu ngành do giáo sư Michael Porter- trường kinh doanh Harvard
đưa ra. Phương pháp này được biểu thị bằng sơ đồ sau:
Những người gia
nhập tiềm năng
Mối đe doạ gia nhập
Các đối thủ cạnh
tranh trong ngành
------------------------
Sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp
đang tồn tại
Mối đe doạ thay thế
Các sản phẩm thay
thế
Theo Michael Porter, bản chất và mức độ cạnh tranh trong một ngành
kinh doanh xoay quanh năm lực lượng: mối đe doạ từ những người có
khẳ năng gia nhập ngành, sức mạnh của người mua, sức mạnh của người
cung ứng, mối đe doạ từ các sản phẩm, dịch vụ thay thế và mức độ căng
thẳng của sự cạnh tranh giữa các đối thủ đang hiện hữu trong ngành.
Porter cho rằng bản chất của việc xây dựng chiến lược là để thích nghi
gây ra sự tăng mạnh của chi phí và giảm lợi nhuận. Do đó các doanh
nghiệp sẽ rất quan tâm tới việc duy trì lượng bán và có xu hướng giảm
giá nếu họ cảm thấy có nguy cơ giảm lượng bán. Vì thế cạnh tranh sẽ có
xu hướng liên quan trực tiếp với tầm quan trọng của các chi phí này.
3. Sự vượt công suất không liên tục:
Nếu một ngành trải qua những thời kì vượt công suất hoặc do cầu giao
động hoặc vì tính kinh tế của quy mô đòi hỏi những bổ sung cho công
suất là rất lớn thì cạnh tranh trong ngành có xu hướng căng thẳng hơn.
4. Những khác biệt về sản phẩm, sự xác định nhãn hàng và chi phí chuyển
của khách hàng.
Nếu sản phẩm của một ngành là giống nhau và không có sự xác định
của nhãn hàng và khách hàng có thể chuyển từ người cung ứng này sang
người cung ứng khác mà không mất chi phí thì khách hàng sẽ rất nhạy
cảm đối với giá và cầu về sản phẩm của mỗi doanh nghiệp sẽ rất co giãn,
như trong cạnh tranh hoàn hảo. Trong tình huống đó cạnh tranh sẽ có xu
hướng căng thẳng. ở thái cực đối lập, nếu các doanh nghiệp sản xuất các
sản phẩm khác nhau đáng kể, có sự xác định nhãn hàng rõ ràng và khách
hàng phải chịu chi phí trong việc chuyển từ người cung ứng này sang
người cung ứng khác thì cầu về sản phẩm của mỗi doanh nghiệp sẽ ít co
giãn hơn vì khách hàng có sở thích và lòng trung thành với nhãn hàng và
sự cạnh tranh sẽ kém căng thẳng hơn nhiều.
5. Số các doanh nghiệp và qui mô tương đối của chúng.
Nếu số các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thay thế là tương đối
lớn thì sẽ rất khó giám sát các hoạt động của nhau và sẽ có nguy cơ là
một số doanh nghiệp tin rằng mình có thể tiến hành cạnh tranh mà không
bị phát hiện. Vì thế sự cạnh tranh sẽ có xu hướng căng thẳng. Số các
doanh nghiệp mà nhỏ thì cạnh tranh sẽ ít hơn. Nhưng nếu các doanh
nghiệp trong cùng một ngành có cùng quy mô thì điều đó cũng làm tăng
cạnh tranh và kết quả cũng không rõ ràng, những người quản lý táo bạo
có thể dấn thân vào những nước đi táo bạo tiến công các đối thủ. Mức độ
1. Tính kinh tế của quy mô: Nếu có tính kinh tế của quy mô đáng kể thì
một doanh nghiệp đang cân nhắc có gia nhập ngành hay không hoặc là
xây dựng một thị phần lớn ngay lập tức để đạt được quy mô cần thiết đảm
bảo có chi phí thấp hoặc là chịu chi phí cao hơn doanh nghiệp đang tồn
tại. Do đó tính kinh tế của quy mô là nguồn gốc quan trọng của các hàng
rào gia nhập. Có thể có các ảnh hưởng quy mô quan trọng trong hầu hết
các hoạt động kinh doanh, bao gồm cả nghiên cứu và phát triển,
marketing và phân phối.
2. Sự khác biệt của sản phẩm và lòng trung thành với nhãn hàng.
Nếu các doanh nghiệp đang tồn tại đã gây dựng được lòng trung
thành của người mua đối với sản phẩm của họ thì người ra nhập mới sẽ
phải đầu tư rất nhiều và phải mạo hiểm vào việc quảng cáo và xúc tiến
bán hàng để vượt qua lòng trung thành đó. Nếu sự gia nhập thất bại thì
các khoản đầu tư đó là không có giá trị.
3. Đòi hỏi về vốn:
Trong một số ngành, nếu muốn gia nhập cần phải có một lượng vốn
rất lớn. Khi mà thị trường vốn hoạt động tốt, vốn sẵn có thì việc gia nhập
được xem là một công viẹc mạo hiểm và người đầu tư đòi hỏi lãi cao để
thuyết phục họ chấp nhận rủi ro.
4. Chi phí chuyển đối với người mua.
Nếu khách hàng phải chịu chi phí cao khi chuyển từ người cung ứng
này sang người cung ứng khác thì họ sẽ không sẵn sàng thay đổi người
cung ứng và những người gia nhập mới khó mà thành công được nếu
không đầu tư nhiều để giúp khách hàng vượt qua những chi phí chuyển
này.
5. Có được các kênh phân phối.
Người gia nhập mới phải thiết lập các kênh phân phối riêng của mình,
thuyết phục những người bán buôn và bán lẻ giữ và bán hàng của mình
cùng hoặc ưu tiên hơn sản phẩm của các doanh nghiệp đang tồn tại. Nếu
các doanh nghiệp đã gây dựng được các mối quan hệ tốt với các kênh
thì người mới gia nhập sẽ có cơ hội thành công lớn hơn. Ngược lại, nếu
họ trả đũa quyết liệt thông qua giảm giá hoặc các chiến dịch quảng cáo
xúc tiến bán hàng thì người mới gia nhập chỉ có thể tồn tại được nếu có
những lợi thế to lớn để bù đắp lại sự thiếu kinh nghiệm trong ngành. Do
đó sự trả đũa là một hàng rào quan trọng đối với việc gia nhập.
8. Chính sách của chính phủ.
Trong một só ngành, ở một số nước, chính sách của chính phủ tạo ra
hàng rào gia nhập.ở một thái cực, đó là cấp giấy phép tức là doang nghiệp
được chính phủ cấp giấy phép trước khi gia nhập ngành. Trong các
trường hợp khác hàng rào gia nhập do chính sách của chính phủ tạo ra là
khó phát hiện và thường không được cú ý tới. Ví dụ nếu chính phủ đặt ra
quy định nghiêm ngặt về điều kiện y tế hoặc điều kiện an toàn đối với
ngành thì điều đó có thể làm tăng đồi hỏi về vốn đối với việc gia nhập do
đó nâng cao hàng rào gia nhập.
III. Mối đe doạ của các sản phẩm thay thế.
Nếu tồn tại những sản phẩm tương đồng với những sản phẩm mà
doanh nghiệp trong ngành đó đang cung cấp và khách hàng có thể dùng
chúng để thay thế cho sản phẩm đó thì những hàng hoá thay thế đó đã xác
định ra một mức giá trần cho ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh.
Tầm quan trọng của mối đe doạ này phụ thuộc vào ba yếu tố sau:
1. Giá và công dụng tương đối của sản phẩm thay thế:
Nếu các sản phẩm thay thế là sẵn có và công dụng tương tự ở cùng
một mức giá thì mối đe doạ của các sản phẩm thay thế là rất mạnh.
Ngược lại, nếu các sản phẩm thay thế mà đắt hơn và có công dụng kém
hơn thì sự đe doạ sẽ yếu hơn nhiều.
2. Chi phí chuyển đối với khách hàng:
Yếu tố này đã được đề cập ở trên như một nguồn gốc của hàng rào gia
nhập và nó cũng xác định mmối đe doạ thay thế.
3. Khuynh hướng thay thế của người mua:
Nếu khách hàng ít nỗ lực tìm kiếm các sản phẩm thay thế và không
thuộc vào một danh mục các yếu tố sau:
2.1. Sự tập trung của người mua và dung lượng của người mua
Những người mua mà càng tập trung và mua dung lượng càng lớn thì
sẽ có khả năng chịu nhiều hơn.
2.2. Chi phí chuyển của người mua.
Nếu chi phí chuyển của người mua càng cao thì họ sẽ ít khả năng chịu
hơn, vì họ sợ rằng công việc kinh doanh của họ ở nơi khác sẽ có độ tin
cậy thấp hơn.
2.3. Thông tin của người mua: Người mua được thông tin tốt sẽ có nhiều
khả năng chịu hơn.
2.4. Mối đe doạ của việc người mua liên kết dọc ngược trở lại nguồn
nguyên liệu: Nếu người mua có khả năng đe doạ ngành bằng việc liên kết
dọc nhược thì họ sẽ có khă năng chịu nhiều hơn.
2.5. Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế:
Nếu có các sản phẩm thay thế có thể được cho các sản phẩm của
ngành ở mức độ cao thì người mua sẽ có khă năng chịu lớn hơn.
V. Sức mạnh của người cung ứng.
Lực lượng này được xác định bởi các yếu tố sau:
1. Sự khác biệt của đầu vào.
Nếu các doanh nghiệp trong một ngành phụ thuộc vào những dạng
khác nhau của một đầu vào do những người cung ứng riêng lẻ sản xuất ra
thì những người cung ứng này sẽ tương đối mạnh.
2. Chi phí của việc chuyển sang người cung ứng khác.
Nếu các chi phí này là cao thì người cung ứng có thể tương đối mạnh
vì các doanh nghiệp phải chịu chi phí khi chuyển sang người cung ứng
khác.
3. Sự sẵn có của các đầu vào thay thế.
Nếu các đầu vào thay thế là sẵn có thì sức mạnh của người cung ứng sẽ
giảm.
4. Sự tập trung của người cung ứng.
các lĩnh vực quan trọng nhất của sự cạnh tranh để nắm vững ngành đang
xem xét, chú ý ít hơn đến các đặc điểm không quan trọng. Cũng có thể
đánh giá " sự hấp dẫn" nói chung của mỗi ngành trên quan điểm của
những doanh nghiệp nằm trong đó.
Phần hai.
Thực trạng cạnh tranh của ngành may mặc nhìn nhận dưới góc độ "
mô hình năm lực lượng ".
I. Tìm hiểu chung về ngành may mặc Việt Nam hiện nay.
Đất nước đang trên con đường đổi mới, nền kinh tế nước ta ngày càng
phát triển do đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng như những
nỗ lực không ngừng của mọi tần lớp nhân dân, đời sống của người dân
ngày càng được nâng cao rõ rệt. Chính vì thế nhu cầu may mặc cũng
ngày càng tăng lên cư về số lượng và chất lượng. Công nghiệp may mặc
cũng đã góp phần đáng kể vào việc cung cấp các sản phẩm phục vụ đông
mọi tầng lớp nhân dân với nhiều chủng loại phong phú, mẫu mã, giá cả
khác nhau phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng. Trong lúc đó, chính