Vai trò, ý nghĩa của Thuế với nguồn thu ngân sách nhà nước và sự điều chỉnh cúa pháp luật về thuế để nhằm điều hòa lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác - Pdf 24

Họ và tên: Đoàn Thảo Nguyên
Lớp: K55- LKD
MSV: 10066058
Nhóm: 06
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG
Đề bài: Vai trò, ý nghĩa của Thuế với nguồn thu ngân sách nhà nước
và sự điều chỉnh cúa pháp luật về thuế để nhằm điều hòa lợi ích của nhà
nước và các chủ thể khác.
Bài làm:
A- ĐẶT VẤN ĐÊ
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực tài
chính. Hiện tượng ngân sách nhà nước- với tính cách là một hiện tượng tài
chính đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử, trên nền của kinh tế hàng
hóa- tiền tệ và sự hình thành, phát triển của Nhà nước. Bởi vì, bất kỳ một
Nhà nước nào cũng cần phải có các nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu chi
tiêu, nhằm duy trì sự tồn tại của Bộ máy nhà nước và thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nó. Ngân sách đã luôn luôn được sử dụng để huy động
nguồn tài chính đáp ứng cho những nhu cầu chi tiêu đó của Nhà nước.
Trong xã hôi có nhà nước, điều mang tính quy luật là Nhà
nước phải tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân được sáng tạo ra từ bản thân nền kinh tế. Mục đích của việc tham
gia phân phối của Nhà nước là nhằm thu về tay mình những nguồn của cải
để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, trước hết là để duy trì sự tồn tại
của bộ máy Nhà nước, sau nữa là để thực hiện các chức năng kinh tế- xã hội
mà Nhà nước đảm nhiệm. Ngân sách Nhà nước là một hình thức, một công
cụ để Nhà nước tham gia (thực hiện) quá trình phân phối đó. Do đó, thu
ngân sách nhà nước là một loại hoạt động Nhà nước, hoạt động của một tổ
chức quyền lực công, luôn gắn với yếu tố quyền lực chính trị của Nhà nước.
Từ dó có thể hiểu “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền
lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành Quỹ
ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu ngân

trong xã hội. Và suy cho cùng thì thuế là sản phẩm thặng dư được sáng tạo
ra trong xã hội. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu
khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà
nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước.
2- Các đặc trưng của thuế
2.1. Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.
Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành
qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh
tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc
cơ quan lập pháp. Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của
các nước. Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy
định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu
không được Quốc hội chấp thuận. Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ
một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp
dụng. Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội
Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội
có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế. Tuy
vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể
giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số
loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế.
· 2.2. Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp
nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả
trực tiếp.
Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấu
hiệu và điều kiện được quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đối
với Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.
· 2.3. Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất
dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.
Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà

tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra
và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.
3- Phân loại thuế
Trong hệ thống thuế mà Nhà nước sử dụng để tạo nguồn thu và
điều tiết thu nhập có nhiều loại thuế khác nhau. Mỗi loại thuế, ngoài mục
tiêu Mỗi loại thuế, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
còn có những mục tiêu điều tiết khác nhau, cơ sở tính thuế và mức độ nộp
thuế cũng khác nhau. Việc phân loại thuế thường được thực hiện theo các
cách sau đây:
3.1. Phân loại theo phương thức đánh thuế: Người ta chia thành thuế
trực thu và thuế gián thu:
- Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của người
nộp thuế (tức là người thực hiện hành vi nộp thuế).
Mục đích của Nhà nước áp dụng loại thuế này là điều tiết, động viên trực
tiếp vào thu nhập của những người (tổ chức, cá nhân) có thu nhập. Do vậy,
người nôp thuế cũng chính là người chịu thuế. Hay nói cách khác, người
thực hiện hành vi nộp thuế phải trích một phần từ chính thu nhập của mình
để nộp cho Nhà nước. Ở nước ta hiện nay, thuộc loại thuế trực thu có thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế đối với người có thu nhập cao, thuế sử dụng đất
nông nghiệp…
- Thuế gián thu: là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập của
người nộp thuế mà đánh gian tiếp thông qua giá cả hang hóa, dịch vụ.
Với phương thức đánh thuế gián tiếp, thuế trở thành một bộ phận cấu thành
trong giá cả hang hóa, dịch vụ. do vậy, người nộp thuế không đồng thời là
người chịu thuế. Người chịu thuế ở đây là người tiêu dùng hang hóa, dịch
vụ, còn người nộp thuế không phải lấy từ thu nhập của chính họ để nộp thuế
mà họ được cộng thuế vào giá cả hàng hóa, dịch vụ và sau đó được trích ra
để nộp cho Nhà nước. Như vậy, cũng có thể nói là người thực hiện hành vi
nộp thuế chỉ là người nộp thuế thay cho người tiêu dùng còn người chịu thuế
là người tiêu dùng nộp thuế gián tiếp thông qua người cung cấp hang hóa,

có ý nghĩa là xác định việc nộp thuế là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của
các tổ chức kinh tế và mọi người dân. Như vậy, khái niệm pháp luật thuế
được hiểu như sau:
Pháp luật thuế là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế, bao gồm các quy phạm
quy định về nội dung của các sắc thuế và các quy phạm điều chỉnh các
quan hệ trong việc thu thuế, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.
2- Nội dung của pháp luật thuế
2.1. Thuế giá trị gia tăng
2.1.1- Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Tại điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng đã định nghĩa: “ Thuế giá trị
gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
2.1.2. Phạm vi áp dụng của luật thuế giá trị gia tăng
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng
Theo điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng quy định đối tượng chịu
thuế giá trị gia tăng là “hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và
tiêu dùng ở Việt Nam”.
Như vậy toàn bộ hàng hóa, dịch vụ được mua bán, tiêu dùng
trên thị trường, bao gồm: hàng hóa, dịch vụ được sản xuát và tiêu dùng trong
nước; hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu để tiêu dùng trong nước, trừ 26 loại
hàng hóa và dịch vụ được quy định tại điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng ngày
3/66/2008, có thể xếp thành 5 nhóm sau:
- Các sản phẩm, dịch vụ của một số ngành, lĩnh vực mà hoạt động
sản xuất kinh doanh của các ngành này còn gặp nhiều khó khăn,
cần có sự nâng đỡ của Nhà nước để khuyến khích phát triển như:
Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt
chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế
thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra
và ở khâu nhập khẩu; thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải

công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hoá, dịch vụ
được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và
giữa các khu phi thuế quan với nhau.
- Hàng hóa, dịch vụ của những cá nhân kinh doanh có mức thu
nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước
quy định.
Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, không
phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá
nhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng.
2.1.3. Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế.
Việc đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng là nghĩa vụ pháp lý bắt
buộc đối với các tổ chức, cá nhân có đối tượng chịu thuế là hàng hóa,
dịch vụ theo những điều kiện luật định. Pháp luật thuế giá trị gia tăng
quy định cụ thể về các thủ tục kê khai và nộp thuế, thể hiện kỷ luật thu
nộp rất nghiêm ngặt, kèm theo các chế tài hành chính, phạt vật chất và
nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
a) Về việc đăng ký nộp thuế
- Cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan
thuế trực tiếp quản lý theo hướng dẫn của cơ quan thuế. Đối với cơ sở
kinh doanh mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng
chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.
b) Về việc kê khai
Cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế giá trị gia tăng từng tháng và nộp tờ
khai thuế cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo. Đối
với cơ sở nhập khẩu hàng hóa phải kê khai và nộp tờ khai thuế giá trị
gia tăng theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu.
c) Về việc nộp thuế
Thuế giá trị gia tăng được nộp vào ngân sách nhà nước. Thời hạn nộp

Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Theo luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành có 8 nhóm hàng hóa và
4 nhóm dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, gồm:
1. Hàng hóa:
a) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút,
hít, nhai, ngửi, ngậm;
b) Rượu;
c) Bia;
d) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng
loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang
chở người và khoang chở hàng;
đ) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên
125cm
3
;
e) Tàu bay, du thuyền;
g) Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade
component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng;
h) Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống;
i) Bài lá;
k) Vàng mã, hàng mã.
2. Dịch vụ:
a) Kinh doanh vũ trường;
b) Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);
c) Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm
trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy
tương tự;
d) Kinh doanh đặt cược;
đ) Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;
e) Kinh doanh xổ số.

Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân có hoạt
động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt. Hàng hóa thuộc diện thuế tiêu thụ đặc biệt được sản xuất
trong nước hay nhập khẩu, chỉ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt một lần ở khâu
sản xuất hoặc nhập khẩu. Cơ sở sản xuất nộp thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản
xuất, cơ sở nhập khẩu nộp thuế ở khâu nhập khẩu.
Cơ sở kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng.
2.2.3. Vai trò, ý nghĩa của thuế tiêu thụ đặc biệt với ngân sách Nhà
nước
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thường quy định thuế suất cao,
thậm chí rất cao. Điều đó thể hiện mức động viên cao từ việc sản xuất hay tiêu
dùng đối với những hàng hóa, dịch vụ trong diện chịu thuế. Có nghĩa là Nhà
nước muốn điều tiết sản xuất, tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ nhất định
thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc đưa hàng hóa, dịch vụ nào vào diện
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là tùy thuộc vào từng nước và từng thời kỳ dựa trên
các yếu tố kinh tế- xã hội khac nhau. Ở Việt Nam có những thời kỳ, danh mục
chịu loại thuế này lên tới hàng chục mặt hàng hay dịch vụ nào là tùy thuộc vào
định hướng sản xuất, tiêu dùng của Nhà nước, ví dụ như để khuyến khích hàng
nội địa, hạn chế nhập khẩu, hay hạn chế việc sản xuất, nhập khẩu hàng hóa
không có lợi cho nền kinh tế; hay cần hạn chế tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhất
định không có lợi cho tiêu dùng hoặc hàng hóa, dịch vụ xa xỉ.
Cùng với thuế GTGT, TNDN, thuế TTĐB đóng góp số thu quan
trọng cho NSNN. Những năm gần đây, số thu từ thuế TTĐB luôn
tăng qua các năm và thường chiếm tỷ trọng nhất định trong tổng số
thu từ thuế và phí
(tỷ đồng)
Nội Năm

tác; tổ chức kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ bao gồm: hộ cá thể
và nhóm kinh doanh; hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có
mức thu nhập cao; cá nhân hành nghề độc lập; cá nhân cho thuê tài
sản như nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và các loại
tài sản khác.
- Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao
gồm: hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp có thu nhập từ sản phầm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản có mức thu nhập thấp.
Đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế có được
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong năm tính thuế, bao gồm
cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài và
thu nhập chịu thuế khác.
2.4. Thuế thu nhập cá nhân.
2.4.1. Khái niệm
Thuế TNCN đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát
triển. Lần đầu tiên ở Vương quốc Anh, vào năm 1797, khi đó thuế
TNCN (Income-tax) được đưa vào thực hiện dưới hình thức khoản thu
tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến chống Napoleon
(Pháp) và được hoàn chỉnh, chính thức áp dụng từ năm 1942. Sau đó,
nhiều nước tư bản phát triển khác cũng chính thức áp dụng loại thuế
này như: Nhật (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914)… Thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao ở nước ta ra đời vào năm 1990 qua hơn mười
năm thực hiện, pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
năm 1990 đến nay đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1994,
1997, 1999 và 2001. Để phù hợp với tình hình xã hội cũng như hạn chế
tình trạng phân hóa giàu nghèo, luật thuế thu nhập cá nhân 2007 đã ra
đời thay thế cho luật thuế thu nhập với người có thu nhập cao. Để hạn
chế những bất cập, hạn chế của luật thuế thu nhập cá nhân 2007, ngày

thể, có áp dụng phương pháp luỹ tiến. Có như vậy mới đảm bảo công bằng
xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn
một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp
thuế.
2.4.3. Vai trò, ý nghĩa của thuế thu nhậ cá nhân với ngân sách Nhà nước
Thuế TNCN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của
ngân sách nhà nước. Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát
triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là
việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước.
Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát
triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động
nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng
và sẽ ngày một dồi dào. Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân
sách của nhiều quốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối
ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ
trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và
còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá
lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ
và đến năm 2005 số thu đã đạt 8.300 tỷ. Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ
đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
3- Chức năng, vai trò và ý nghĩa của thuế với Ngân sách Nhà nước.
3.1 Chức năng của thuế.
Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện
công dụng vốn có của nó. Ðối với một phạm trù kinh tế - xã hội thì chức
năng phản ánh sự tác động của nó - là một phương thức đặc biệt biểu hiện
những thuộc tính vốn có của phạm trù. Cũng như bản chất, chức năng cũng
có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay
đối tượng.
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung

của Nhà nước đối với nền kinh tế. Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội
của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và
hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng qũy tài chính Nhà nước,
hình thành chủ yếu từ việc thu thuế. Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì
Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế để tác động một cách
có hiệu qủa đến nền kinh tế quốc dân. Chính trong qúa trình đó chức năng
phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử
dụng một cách hiện thực Học Kế toán Thuế
Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó
đã được dự liệu trước vào trong qúa trình huy động tập trung nguồn tài
chính. Bằng cách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng,
tăng cường hoặc làm yếu đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu
cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ
khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế -
xã hội trong phạm vi quốc gia.
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định
các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và
đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có
tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích
các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù
hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị
trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao.
Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi
ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước
không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay
không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh
doanh.
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật
thiết với nhau. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên
nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điểu tiết.

nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.
Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà
nước. Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã
hội của thuế và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong
những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động
kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh
tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
+ Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập
trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với
các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính
quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh quan
hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước. Hầu
hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để thu
ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ
yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải
ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính
vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng
tăng. Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển
thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng để góp phần
ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu
dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status