A. Lời nói đầu
Lao động và việc làm hiện nay và trong tương lai vẫn là vấn đề bức
xúc, nhạy cảm đối với mỗi quốc gia trên thế giới. Đặc biệt đối với những
nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta, đây là vấn đề rất được quan tâm
nó có tác động trực tiếp đến mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi tổ chức, mỗi hộ gia
đình và từng người lao động trong cả nước. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng
của vấn đề này, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đề ra các chính
sách nhằm phát triển kinh tế do đó đã làm thay đổi đáng kể về quy mô, cơ cấu
lao động và vấn đề về giải quyết việc làm, dần dần chuyển Việt Nam sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, tỷ
lệ lao động thất nghiệp, chưa có việc làm của thành phố có xu hướng giảm từ
11,25%, (năm 1991) còn 82% (năm 1994), 6,16% (năm 1997) và 6,18% (năm
1998). Theo điều tra của bộ lao động thương binh và xã hội công bố ngày
25/10/2001, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 6,28%. Kinh nghiệm mở
rộng các cơ hội có việc làm trong những năm 1980 của 69 nước trên thế giới
đã cho kết luận; tốc độ tăng của việc làm liên quan chặt chẽ va tỷ lệ thuận với
tốc độ tăng của GDP theo đầu người và sự giảm thiếu hụt chỉ số phát triển
nhân lực (HDI). Tốc độ tăng GDP theo đầu người hàng năm tăng lên 1% sẽ
làm tốc độ tăng việc làm lên 0,18%. Và sự thiếu hụt chỉ số phát triển nhân lực
giảm đi 1% sẽ làm tốc độ tăng của việc làm lên 0,09%. Kết quả này cho thấy
việc mở rộng cơ hội có việc làm phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế và vào
việc tăng cường năng lực cơ bản cho con người. Những chính sách giải pháp
hoàn thiện thị trường lao động Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước hết sức
quan tâm nhằm phát triển thị trường lao động ở nước ta, về giải quyết việc
làm cho người lao động, giảm áp lực về lao động, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực... trong thời gian hạn hẹp của đề tài “ thị trường lao động Việt
Nam ” chỉ đề cập tới những vấn đề khái quát nhất. Nội dung của đề tài gồm:
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chương I: Những vấn đề chung về thị trường lao động
Chương II: Phân tích thực trạng thị trường lao động Việt Nam trong
hiện của sản xuất hàng hoá. Sự phát triển của nền sản xuất đã dần dẫn hoàn
thiện khái niệm thị trường. Trong nền sản xuất hàng hoá đã tạo ra nhu cầu
trao đổi về các hàng hoá sản phẩm mà người sản xuất đã sản xuất được với
các sản phẩm khác của các nhà sản xuất khác. Vì vậy, họ tiến hành các hoạt
động mua bán trao đổi được gọi là thị trường. Các nhà kinh tế học cổ điển là
người đầu tiên đã nghiên cứu lôgíc về thị trường và đã đưa ra khái niệm đầu
tiên đó là khái niệm thị trường.
Theo AD. Smith thị trường là không gian trao đổi trong đó người mua
và người bán gặp nhau thoả thuận và trao đổi hàng hoá dịch vụ nào đó, với sự
phát triển từ nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ sang nền kinh tế thị trường.
Khái niệm thị trường của AD. Smith chưa bao quát được các vấn đề cơ
bản của một thị trường là tập hợp những sự thoả thuận, trong đó người mua
và người bán trao đổi với nhau loại hàng hoá, dịch vụ nào đó. Như vậy, khái
niệm thị trường của DVBegg là thị trường không chỉ bó hẹp bởi không gian
nhất định mà bất cứ đâu có sự trao đổi, thoả thuận mua bán hàng hoá, dịch vụ
thì ở đó có thị trường tồn tại.
Thị trường lao động được hình thành sau thị trường hàng hoá, dịch vụ.
Theo C. Mac hàng hoá sức lao động chỉ hình thành sau khi chủ nghĩa tư bản
tiến hành cuộc cách mạng về công nghệ sản xuất, nhằm xây dựng một nền sản
xuất đại công nghiệp chủ nghĩa tư bản đã thực hiện quá trình tích luỹ nguyên
thuỷ tư bản. Đây chính là một quá trình cướp đoạt tư liệu sản xuất của con
người lao động biến họ thành những người làm thuê cho những người sở hưũ
tư liệu sản xuất, từ đó hình thành nên hàng hoá sức lao động. Vậy thị trường
lao động là thị trường dùng để mua bán hanàg hoá sức lao động thị trường lao
động là một bộ phận cấu thành của thị trường đầu vào đối với quá trình sản
xuất kinh doanh, của nền kinh tế thị trường chịu sự tác động của hệ thống các
quy luật của nền kinh tế thị trường quy định cung cầu, quy luật giá cả cạnh
tranh...
Theo ILO thị trường lao động là thị trường dịch vụ lao động được mua
bán thông qua một quá trình mà quá trình này xác định mức độ có việc làm
quân hàng năm của thời kỳ này là 1,50% năm. Với tốc độ tăng như trên thì
tạo ra một lượng cung rất lớn trên thị trường lao động Việt Nam hiện taị và
tương lai.
II 1.2.Tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động
Tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động được xác định như sau
Lực lượng lao động thực tế
LFPR = x100
Lực lượng lao động tiềm năng
Lực lượng lao động thực tế là bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động hiện đang làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc
dân và những người chưa có việc làm nhưng đang đi tìm việc làm.
Lực lượng lao động tiền năng gồn những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động.
Tỷ lệ này càng lớn thì cung lao động càng lớn và ngược lại, sự tăng
giảm của tỷ lệ trên chịu tác động của các nhân tố là tiền lương danh nghĩa là
lượng tiền lương danh nghĩa tăng sẽ khuyến khích người lao động tham gia
vào lực lượng lao động thực tế làm tăng tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động
và ngược lại. Mặc khác khi điều kiện sống của người lao động thấp kém làm
cho người lao động muốn nâng cao điều kiện sống làm tăng lượng thời gian
làm việc và giảm lượng thời gian nghỉ ngơi dẫn đến tỷ lệ tham gia của nguồn
nhân lực tăng. Ngoài ra các chính sách của Nhà nước cũng tác động đến sự
tham gia lực lượng lao động thực tế làm tăng tỷ lệ tham gia nguồn nhân lực.
II. 1.3 Khả năng cung thời gian lao động
Người lao động bị giới hạn bởi quỹ thời gian. Do đó bắt buộc người lao
động phải lựa chọn giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ ngơi. Nếu người
lao động tăng thời gian lao động thì phải giảm thời gian nghỉ ngơi, do đó
người lao động tăng thu nhập đồng thời nó làm tăng cung lao động trên thị
trường lao động. Hoặc người lao động giảm thời gian lao động và tăng thời
gian nghỉ ngơi, trường hợp này làm cho cung lao động trên thị trường lao
động giảm.
III. Vai trò của thị trường lao động
Thị trường lao động Việt Nam mới hình thành, chưa phát triển do đó
người lao động dễ dàng tham gia vào thị trường. Không đòi hỏi người lao
động phải có trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn cao. Lao động trong
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn 67,27% (năm 2000), tính chuyên nghiệp của
các khu vực có sự khác nhau rất rõ rệt, khu vực thành thị đòi hỏi chất lượng
nguồn lao động cao hơn khu vực nông thôn. Trong đó khu vực thành thị có
thể chia ra:
- Thị trường lao động khu vực chính thức.
- Thị trường lao động khu vực phi chính thức
Đặc biệt khu vực phi chính thức khả năng thu hút lao động dôi dư, lao
động phổ thông mới tham gia vào thị trường khu vực này tạo được nhiều việc
làm. Con người là vốn quý, động lực của xây dựng và phát triển, do đó nguồn
lao động là động lực, mục tiêu của sự phát triển kinh tế, con người là lực
lượng sản xuất đồng thời cũng là lực lượng tiêu dùng. Thị trường lao động
mang lại trạng thái cân bằng và không cân bằng giữa cung và cầu về nhân lực
trên thị trường lao động.
Chương II. Phân tích thực trạng thị trường lao động việt nam
trong thời gian qua
II.1. Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam
II.1.1.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng
với tốc độ cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt
khác cũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với
việc thu hút , chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển
dịch cơ cấu còn rất chậm , cụ thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990-
2000,khu vực công nghiệp và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong
khi đó lực lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên 72% năm 1990
Cơ cấu phân công lao động bất hợp lý, năng suất lao động và thu nhập còn
thấp .Nếu năm 1991 lao động nông nghiệp là72,6% năm 1995 là 69,73% đến
năm 1999 là 67,7% và đến năm 2000 dự báo khoảng 62,27% trong tổng số lao
động được thu hút vào hoạt động trong nền kinh tế.
Lao động nước ngoài làm việc chủ yếu trong các nghành nghề mà lao
động Việt Nam không đáp ứng được .Việc xuất khẩu lao động tuy có tăng lên
nhưng vẫn còn thấp,,năm 1999 xuất khẩu được hơn 30000 lao động nhưng lại
chủ yếu là lao động giản đơn.
c,Tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động còn thấp.
ở Việt Nam, hiện nay thị trường lao động tập trung chủ yếu ở đô thị lớn:
Thành Phố Hồ Chí Minh,thủ đô Hà Nội , các Trung tâm công nghiệp mới.
Gần đây Tổng cục thống kê điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho thấy
21,45% lao động so với tổng số lao động trong tuổi ở khu vực nông thôn
tham gia làm công ăn lương (quan hệ thuê mướn) trong số đó số làm công ăn
lương chuyên nghiệp là 4,29%.Con số này ở thành thị là 42,81%b và 32,75%
.Lao động làm công ăn lương ở nước ta từ 3 tháng trở lên trong năm nhìn
chung còn chiếm tỷ lệ nhỏ (17% tổng số lực lượng lao động của xã hội ,
trong khi đó ở các nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ này thường chiếm 60-
80%).
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêu
trên, ta có đủ cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thực
trạng của vấn đề đó .Tuy nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đề
cập đến,vấn đề sự tác động của dân số đến thị trường lao động.
II.1.2. Thực trạng đội ngũ lao động ở nước ta Thời kỳ trước đổi mới
(trước năm 1986)
II.1.2.1. Về số lượng lao động:
Trước năm 1986 lực lượng lao động nước ta rất dồi dào do tốc độ tăng
dân số nhanh sau chiến tranh nhất là thời kỳ 1954-1984 do vậy nguồn lao
động nước ta đang trong thời kỳ tăng cao nhất mà các nhà kinh tế học thế giới
đã kết luận “có nguy cơ không sử dụng hết lao động”
(1)
Th tr ng lao ng v gi i quy t vi c l m Vi t Nam (UBKH nh n c - Trung tâm thông tin) tr.28ị ườ độ à ả ế ệ à ở ệ à ướ
(*)
nt tr.48
kỳ bắt đầu đổi mới, các quan hệ tỷ lệ phân bố lao động, đã có chuyển biến tốt
lên, mặc dù còn chậm. Trong đó tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm từ
72,3% năm 1985 xuống 72,2% năm 1988)
Nhìn chung lao động phân bố giữa các ngành kinh tế mất cân đối.
II.1.2.2. Về chất lượng lao động:
- Thứ nhất là về chất lượng lao động quản lý:
Trong một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mọi việc đều được
thực hiện theo kế hoạch đã được nhà nước giao đều được thực hiện theo kế
hoạch đã được nhà nước giao từ mặt hàng sản xuất, ngân sách, biên chế và
lương, lực lượng lao động, vật tư, các điều kiện sản xuất ... cho đến việc tiêu
thụ sản phẩm. Trong một cơ chế như vậy, người quản lý trở nên thụ động,
máy móc, thiếu sáng tạo. Việc quản lý chỉ xoay quanh mọi biện pháp để thực
hiện kế hoạch nhà nước giao.
Mặt khác đội ngũ cán bộ quản lý của nước ta trước thời kỳ đổi mới chưa
được qua các trường lớp đào tạo về quản lý mà từ đội ngũ cán bộ chủ yếu
đảm đương nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc sang đội ngũ cán bộ chủ
yếu làm nhiệm vụ quản lý.
- Thứ hai là chất lượng của lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề
không những không được nâng cao mà còn bị mai một đi do cơ chế quản lý
tập trung sản phẩm làm ra theo chỉ tiêu dù tốt hay xấu đều được phân công
hết. Từ đó ta thấy kỹ năng của công nhân không được phát huy, tay nghề bị
mai một đi và công nhân không có tính sáng tạo. Mặt khác chế độ đào tạo
công nhân theo chế độ tuyển dụng suốt đời sẽ không tạo ra động lực để công
nhân tự nâng cao trình độ tay nghề của mình. Công tác tuyển dụng và công
tác đào tạo không theo đúng yêu cầu. Chỉ cần học qua các trường là được
nhận vào công tác không kể đó là nghề đào tạo là gì. Chính vì vậy chất lượng
đào tạo thành cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý. Các lớp đào tạo cán bộ lãnh
đạo cán bộ quản lý, chiêu sinh các trường Đảng cấp tỉnh bảo đảm từ 5-10%,
trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc từ 25-30% thành phần công nhân cán
bộ quản lý các ngành như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, xây dựng,
bảo dảm tỷ lệ 40-50% cán bộ thành phần công nhân. Những Bộ, Tổng cục tập
trung công nhân cần có kế hoạch đào tạo và đề bạt, đồng thời cung cấp cho
trung ương một số cán bộ thành phần công nhân.
Tuy nhiên chính sách bồi dưỡng đào tạo lao động vẫn còn những tồn tại:
- Vấn đề bồi dưỡng đào tạo lại chưa thực sự được coi là một chính sách
quốc gia quan trọng, không có một kế hoạch tổng thể, chưa có những chính
sách mang ý nghĩa chiến lược mà còn manh mún thiếu đồng bộ.
- Việc thực hiện ở các ngành, các địa phương, các cơ quan xí nghiệp còn
tùy tiện, do đó chất lượng chưa cao.
- Mặt khác chưa có những chính sách chế độ phù hợp để khuyến khích
người dậy, người học do đó việc bồi dưỡng đào tạo lại kém hiệu quả.
II.1.2.4. Về việc tuyển dụng lao động qua đào tạo
Chính sách tuyển dụng dựa trên quan điểm là “sử dụng hết nguồn lao
động đã qua đào tạo” vào khu vực nhà nước, đã đào tạo là được phân công
công tác, càng làm cho số lượng lao động kỹ thuật được tuyển dụng vào làm
việc tại các cơ quan xí nghiệp nhà nước, nhà nước tăng lên nhanh chóng.
Bảng 3: Số lượng lao động có đào tạo tuyển dụng vào khu vực nhà nước
từ 1975-1985
STT Lao động kỹ thuật tuyển 1975 1985
1 Trên đại học 2.179 5.000
2 Đại học và tương đương 136.000 400.000
3 Trung học chuyên nghiệp 325.000 760.000
4 Công nhân kỹ thuật 1.000.000 1.500.000
(Nguồn: Niên giám thống kê 1975, 1985 của TCTK)
Thực hiện chính sách tuyển dụng theo nghị định 24/CP ở giai đoạn trước
1986, mặc dù đã đạt được yêu cầu về mặt số lượng, nghĩa là đã tuyển dụng
lực, trình độ kinh nghiệm công tác
II.1.3.Thực trạng lao động sau đổi mới (sau 1986) đến nay.
II.1.3.1. Những điều kiện mới đòi hỏi người lao động
Thứ nhất là khi bước sang cơ chế thị trường , nó đã tác động mạnh mẽ
đến mọi người lao động. Sức lao động trở thành hàng hóa đã dẫn đến việc
chấp nhận sự cạnh tranh trong thị trường lao động, và bởi vậy người lao động
muốn có việc làm phải không ngừng học tập nâng cao trình độ để khỏi tụt
hậu,đấu tranh để luôn là “món hàng “ có chất lượng hàng đầu . Sự cạnh tranh
gay gắt trong mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều
thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường đòi hỏi lao động phải hết sức năng
động và phải không ngừng hoàn thiện kiến thức và kỹ năng lao động của
mình để đáp ứng được với nhu cầu của thị trường đang không ngừng biến đổi.
Trong cơ chế thị trường không chỉ cần có kiến thức và kỹ năng lao động nghề
nghiệp cón phải có tư duy kinh tế phải biết “cách làm ăn” và phải biết tự tìm
lấy công ăn việc làm .
Cơ chế thị trường đòi hỏi người quản lý tìm hiểu thị trường tìm đầu vào,
tìm đầu ra, tìm kiếm và bố trí các nguồn lực để hoạt động, phải luôn thay đổi
mẫu mã, mặt hàng cho phù hợp với nhu cầu thị trường . Bởi vậy, đòi hỏi nhà
quản lý phải luôn năng động sáng tạo
Chủ trương “mở cửa” của nhà nước, đây là điều thuận lợi cung cấp
thông tin phục vụ sản xuất kinh doanh, và có thêm nhiều máy móc thiết bị
hiện đại thông qua các hình thức chuyển giao công nghệ, Trong khi đó đội
ngũ lao động hiện nay của chúng ta hầu như chưa đủ trình độ và phong cách
để giao lưu, làm ăn với các công ty của các nước cũng như để xây dựng một
nền sản xuất, dịch vụ hiện đại của nhà nước trong cơ chế thị trường. Do vậy,
việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ lao động hiện có đang là một vấn đề cấp bách
và nóng hổi hiện nay.
Đòi hỏi của sản xuất kinh doanh trong những năm tới (đến năm 2000 và
2010) đối với đội ngũ lao động ở các doanh nghiệp nước ta là: đạt tỷ lệ cân
đối hơn về số lượng giữa các loại lao động kỹ thuật và nâng cao chất lượng để
lệch không lớn giữa 2 khu vực ). Trong khi đó số người có trình độ chuyên
môn sơ cấp ở đô thị chỉ có 183.418, còn ở nông thôn lại tới 452.831 người .
Tổng số lao động giản đơn ở nông thôn có tới 26.771.862 người , trong khi ở
đô thị chỉ là 4680333 người ( nông thôn gần gấp 6 lần đô thị)
Từ thực tế trên ta có nhận xét sau:
- So với trước đây , số lao động kỹ thuật có tay nghề chuyên môn cao
trong phạm vi cả nước đã tăng nhiều về số lượng và chất lượng , đặc biệt là số
công nhân kỹ thuật trong nhóm tuổi trẻ từ 20-34 tuổi.
- Có sự phân bố không đều hoặc mất cân đối giữa nông thôn và đô thị
- Số có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tuy đã tăng lên nhiều
về số lượng nhưng thực tế chưa đáp ứng đủ yêu cầu cho CNH,HĐH.
- Riêng số công nhân kỹ thuật hoặc số cán bộ kỹ thuật trung cấp đã tăng
lên về số lượng nhưng cũng còn qúa ít so với yêu cầu phát triển của nền kinh
tế quốc dân, đặc biệt có sự mất cân đối giữa cán bộ đại học, cán bộ trung học
dvà công nhân kỹ thuật.
Hai là, trình độ tay nghề của công nhân nói chung còn thấp, chưa đáp
ứng được yêu cầu vận hành máy móc kỹ thuật hiện đại để có thể cho ra sản
phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới ( số công nhân bậc 1 bậc
2 chiếm 51% so với tổng số công nhân , số công nhân bậc cao cũng chưa có
tay nghề thực tế tương xứng với cấp bậc)
Ba là,thái độ chấp hành kỷ luật lao động của công nhân còn kém, công
nhân chưa quen với tác phong công nghiệp và đặc biệt, ở nhiều doanh nghiệp
công nhân có tâm lý không muốn nâng bậc( vì nếu nâng bậc phải làm công
việc bậc cao hơn sẽ không đảm bảo năng suất, thu nhập sẽ bị giảm)
Bốn là, đội ngũ lao động quản lý tuy không thấp về trình độ sản xuất
nhưng năng lực thực tế cũng chưa tương xứng, chưa đáp ứng được nhu cầu
của công việc hiện tại; chưa được trang bị kiến thức quản lý kinh tế, quản trị
kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường; chưa được đào tạo để có được
những kỹ năng quản lý hiện đại; tác phong làm việc về cơ bản là chưa thay
đổi.
trong khi lao động địa phương lại dư thừa do không cótrình độ văn hóa ( tối
thiểu là học hết cấp III), chưa được đào tạo nghề và công nghệ tiên tiến để có
thể đáp ứng được về lao động kỹ thuật.
Mặt khác, cũng cần phải có chính sách cụ thể mang tính khuyến khích
đối với số lao động trẻ có trình độ tay nghề cao trở về quê nhà hoặc các vùng
nông thôn tham gia lao động sản xuất trong các ngành kinh tế địa phương,
góp phần giảm bớt sự tập trung ở các đô thị lớn hiện nay. Thực tế có hàng
chục ngàn sinh viên sau khi ra trường không về quê làm việc, như ở Tiền
giang từ 1994-1997 có tới 6.070 sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng năm 1995
chỉ có 35 người , năm 1996 chỉ có 12 người về tỉnh công tác số còn lại ở lại
thành phố Hồ chí Minh tìm việc làm. Tương tự, ở Bến tre có trên 2.784 sinh
viên tốt nghiệp đại học nhưng chỉ có vài chục người trở về quê, hoặc ở Bình
định từ 1994-1996 cũng chỉ có vài chục về quê làm việc trong tổng số hơn
6000 tốt nghiệp đại học. ở Hà nội nơi tập trung nhiều trường đại học, hàng
năm cũng có tới hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp ở lại tìm việc...
Một số vấn đề khác nữa là việc đào tạo nghề ở nước ta hiện nay còn
manh mún. tản mạn, nhưng chưa theo một quy trình mang tính chiến lược lâu
dài trong việc tạo lập một đội ngũ lao động kỹ thuật và công nghệ để đáp ứng
đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế. Mặc dù việc dạy nghề ở các Bộ, ngành
vẫn đang tiến hành nhưng khi ra trường vẫn có sự mất cân đối giữa nhu cầu
và việc làm. Về khía cạnh tự tạo việc làm một số cơ sở dạy nghề còn đáp ứng
được , nhưng khi nhu cầu đòi hỏi có kỹ thuật cao hơn phù hợp với dây chuyền
công nghệ hiện đại thì lại hoàn tòan không thỏa mãn hoặc phải đào tạo lại.
Chính việc đào tạo như vậy vừa gây tốn kém cho người học, vừa tốn khoản
thời gian của việc dạy nghề mà hiệu quả chưa cao và không thiết thực.
ở khu vực nông thôn: Những đòi hỏi của CNH-HĐH nông thôn cũng
đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đào tạo lực lượng công nhân
kỹ thuật và công nghệ. Hiện nay công nghệ và tiểu thủ công nghiệp nông thôn
đang có xu hướng phát triển, tuy nhiên quy mô và thiết bị sản xuất cũng như
chất lượng sản phẩm còn nhiều mặt hạn chế , lựcu lượng lao đông , kỹ thuật