Chương 8
Cơ SỜ TÂM LÝ HỌC HOẠT ĐỌNG CỦA
PHƯƠNG PHÁP DẬY HỌC NGOẠI NGỮ
• ■ m
Phương pháp day học ngoại ngữ theo tinh thân của Tâm lý học
Hoạt (lộng đươc trinh bày trong chương này không chi là sự tông
kết những cái đã có, mà' hơn thế, đây la một đề xuất về những cái
cân có trên quan điẻm hoat động Và đê có một cái nhìn bao quát
cho những dè xuảt đo thi không thẻ chi thây quan diêm hoạt động,
ma rất cân điêm lại cả các đường hướng và phương pháp dạy học
ngoai ngữ dựa trên các quan điêm tâm lý học đã được trinh bày
trong cuôn sách này, đông thời cũng cản làm rõ chính vân đẻ
phưcyng pháp, đậc biệt bản chât tâm lý cùa phương pháp
8.1. Các đường hướng và phương pháp dạy học ngoại ngữ
Ớ phần thứ nhất đã chỉ rõ có hai cơ sở tâm tâm lý học rât quan
trọng đê xác đinh những vấn đề của dạy học ngoại ngữ như đương
huớiig, mục đích, nội dung, đối tượng, đơn vị, phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học ngoại ngữ. Hai cơ sở tâm tâm lý học rất
quan trọng đó là hiêu biết về bản chất tâm lý cùa ngôn ngữ và
hiêu biêt vê tâm lý, đặc biệt vê quy luật nhận thức hiện thực khách
quan (nhận thức các sự vật, hiện tượng, trong đó có ngôn ngữ) của
con người. Những hiêu biết đó được trinh bày hệ thông thành các
lý thuỵêt tâm lý học như Tâm lý học Liên tường, Tâm lý học
Hành vi và Tâm lý học Hoạt động Dưới đây sẽ điếm lại những
đường hướng và phương pháp dạy học ngoại ngữ đuợc xây dựng
dựa trên hai cơ sờ tàm lý này hay cụ thể, dựa theo ba lý thuyết
tâm lý học đó
401
8.1.1. Đường hướng và phương pháp dạy học ngoại ngũ' dựa
trên Tâm lý học Liên tưởng
Do chỗ Tâm lý học Liên tưởng quan niệm ngôn ngữ là một hê
vựng phiên dị ch
Những ưu điẻm va tôn tại của dường hướng và phương pháp dạy
học ngoại ngữ liên tưởng nêu trên đã được nói đến ơ chương 1.
Đường hướng và phương pháp dạy học ngoại ngừ liên tương
đã tòn tại nhiêu thê thê kỷ trong lịch sư dạy học ngoại ngữ thê giới.
Nó lâm vào tinh trạng khung hoảng ở cuối thế kỳ XIX và mất vai
tro chinh thông trong dạy học ngoại ngừ ơ đầu the ky XX, tuy
nhiên, tàn dư ành lurơng cưa nó đối với dạy học ngoại ngữ chăc
chan không bao giờ chấm dứt hăn.
8.1.2. Đường hướng và phương pháp dạy học ngoại ngữ dựa
trên Tâm lý học Hành vi
Với mong muốn xây dựng một nền tâm lý học khách quan, dựa
trên nền tảng triết học thực dụng và thực chứng, kế thừa được
những thành quả trong các nghiên cứu khoa học liên quan mới nhất
thời bây giờ (thuyết phản xạ có điều kiện của I. p Pavlov và tâm lý
học động vật, đặc biệt tàm lý học động vật cua E. L. Thorndike) và
do áp lực cua thực tế sán xuất công nghiệp máy móc cua nước Mỹ,
Tầm ly học Hành vi đã đi đên quyêt định loại bo tâm lý, ý thức ra
khỏi đỏi tượng nghiên cứu cùa tàm lý học và thay vào đó là hành vi
và v.v Bang cách đó, Tâm lý học Hành vi đã không chi mỡ ra
một hướng nghiên cửu mới cho khoa học tâm lý (nghiên cứu hành
vi), mà còn chi ra một cách hiêu mới vẻ ngôn ngữ (là hành vi), vê
lời nói (là hành động) và do đó đã chuân bị đầy đù đê xây dựng nên
một quan điểm dạy học ngoại ngữ hoàn toàn mới quan điêm dạy
403
học ngoại ngữ thực hành - giao tiếp. Như vậy, vấn đẻ cơ ban cua
dạy học ngoại ngữ là vấn đề của thực hành, phải dùng được vào
giao tiếp bằng ngoại ngữ. NÓI khác đi, vấn đề kỹ xảo, kỹ năng lời
nói trước đây chưa từng bao giờ được nói đến, thì nay không những
chỉ được nêu ra, mà đã được đặt vào tâm điêm cũa dạy học neoại
là “cứ co kích thích vao cơ thế thì cơ thẻ có phản ứng đáp trả lại”
(S -> R) Do chỗ Hành vi luận hiêu ngôn ngữ cũng là nhừng kích
thích và phan ứng (nhò, đặc biệt s -ỳ r) năm trong chuồi những
kích thích và phan ứng (lớn, chung: s -ỳ R) và lơi nói la nhũng kỹ
xáo (hành đônt’), nhưng xét đên cùng cũng là những kích thích và
phàn ứng nhó nầm trong chuỗi nhũng kích thích và phán ưng
chung (S -> r -> s R), nên xét đến cùng phương pháp chính của
dạy hợc ngoại ngừ hành vi cũng là kích thích và phan ứng (S -ỳ R),
mà được gọi cụ thể là phương pháp nghe (kích thích S) - nói (phản
ứng R) hay nghe - nhìn (tiếp nhận kích thích s từ tai và mẳt) và
nhắc lại (phản ứng R từ miệng), gọi tắt là phương pháp nghe - nhìn
và hàng loạt các phương pháp khác như phương pháp trực tiếp mới,
phương pháp tự nhiên, phương pháp ngữ âm, phương pháp khối,
phương pháp câu trúc, phương pháp tâm lý, phương pháp băt
chước và gh i nhớ và v.v. về thực chất, các phương pháp đó đảm
bao nguyên tắc cùa Hành vi luận là kích thích và phản ứng, còn
việc tỏ chức ngữ liệu và kiến thức ngôn ngữ được cho là không
quan trọng đối VỚI nhận thức cùa người học. Điều quan trọng là
tiếp nhận tổng hợp cả đơn vị hành động lời nói và kỹ xảo, kỹ năng
thưc hiện hành dộng lời nói đó
Những ưu điểm và tôn tại cua Tâm lý học Hành vi và cả cùa
dạy học ngoại ngữ dựa trên tâm lý học này đã đề cập ở chương 2
405
Điêm sáng nôi bật của đường hướng và phương pháp dạy học rmoại
ngữ hành vi là đã mớ đường đưa dạy học ngoại ngữ vào giải quyêt
đúng những van đề vốn có trong chức năng thực sự của ngôn ngừ
là công cụ giao tiếp và nhận thức, đáp ứng được đòi hỏi của thực
tiễn giao tiếp hai thứ tiếng ngày càng trở nên quen thuộc với nhiều
người, góp phần thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội cùa các
dân tộc và các quốc gia trên toàn thế giới.
Tormadov, Viatrutnhev, , ) Muộn hơn một chút, giáo dục ngoại
ngữ ờ Việt Nam cũng đã có những cố găng dáng kê trong việc nay
(Ho Ngọc Dại, BÙI Hiền, Dương Đức Niệm, Trần Hữu Luyến, ).
Vậy, giảo dạc học ngoại ngữ đã xây dựng đường hướng và
phirang pháp dạy học ngoại ngữ dựa trên Tâm lý học Hoạt động
nhir the nào'7
ơ chương 3 đã trinh bày việc dựa trên Tâm lý học Hoạt động
giáo dục học ngoại ngữ đã chỉ ra những vấn đề chung như phương
hưcmg, mục đích, nội dung, đối tượng, đơn vị, phương pháp và
hình thức tô chức dạy học ngoại ngữ ơ đây, chỉ điêm lại cho rõ
hơn những nội dung liên quan đến việc nêu lên phương hướng và
phương pháp dạy học ngoại ngữ hoạt động.
Khái niệm cốt lõi của Tâm lý học Hoạt động là khái niệm “hoạt
động’’. Khái niệm này nói riêng, và cơ sở lý luận của Tâm lý học
Hoạt động nói chung, được xây dựng trên nền tảng của triết học
duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của K. Marx và F. Engels,
trong đó phạm trù “hoạt động thực tiễn” có vai trò to lớn nhất Các
nhà Tâm lý học Hoạt động đã khai thác triệt để phạm trù này để
xày dựng khái niệm “hoạt động” cho Tâm lý học Hoạt động Theo
đó đã tạo ra diêm mới cho Tâm lý học Hoại động là ơ cho hoạt
407
động truức đáy chi được hiên là mỏi trường biêu hiện làm ly, ỳ
thức người, thi nay còn được coi là nguồn gốc, nguyên nhân, động
lục, phưarng thức và điểu kiện hình thành và phát íriên tâm ly, ý
thức người. Nhu vậy, cái tám lý, ý thức, nói chung, và ngôn ngữ,
nói riêng, là do cá nhân tự tạo nhờ hoạt động, là cái được sinh
thành ờ trong hoạt động, do hoạt động và nhờ hoạt động, và là sản
phẩm cùa hoạt động, v.v. Hoạt động là khâu then chốt để biến
con người thành chù thể và sự vật, hiện tượng khách quan thánh
đối tượng (của hoạt động). Hoạt động được diễn ra theo hai chiều.
động Thật khó mà diễn đạt được một quan điểm dạy học ngoại ngữ
đung VỚI ban chất ngôn ngữ và đung với con đường lĩnh hội ngoại
ngữ hơn thế
Hoạt động cua con người luôn luôn là hoạt động có động cơ
thúc đấy và có mục đích xác dinh. Có động cơ thúc đây tức là có ý
nghĩa thiết thân với chu thê Có mục đich xác định tức là cò ý thức
đây đủ, rõ ràng về nội dung, cách thức thực hiện và sản phẩrr. phải
đạt được Do đó, đê thực hiện dạy học ngoại ngữ theo đường hướng
giao tiếp - hoạt động (thực hành - giao tiếp), giáo dục học ngoại
ngừ đã xây dựng phương pháp thực hành - có ý thức và phương
pháp đôi chiếu - có ý thức. Như vậy, không chỉ thực hành (hoạt
động), mà cả ý thức cũng là con đường chính thông của dạy học
ngoại ngữ hoạt động. Theo đường hướng và phương pháp dạy học
ngoại ngữ này yếu tố tích cực của người học được chú ý khai thác
một cách đặc biệt. Những điêu này chứng tò tính hợp lý khá cao,
nhưng hiệu quả thực te đen đâu9
Những thành quả thu được trong dạy học ngoại ngữ được gọi là
theo quan điểm hoạt động thời gian qua vẫn chưa chứng tó được
tính vượt trội so với các quan điểm dạy học ngoại ngữ khác. Vậy,
vàn đỏ do đâu9
409
Có thê nói ngay răng dường hướng dạy học ngoại ngữ hoạt
động được xác đinh như trên là hoàn toàn hợp lý, khoa học Những
vân đề khác như mục đich, nội dung, đối tượng, đơn VỊ dạy học
ngoại ngừ như đã nêu ỡ chương 3 cũng là hoàn toàn hợp lý, khoa
học Như vậy, chi còn vân đề phương pháp của dạy học ngoại ngữ
hoạt động. Theo chúng tôi, rất cần làm rõ hơn vấn đề này. NÓI cách
khác, phương pháp thực hành - có ý thức và phương pháp đối
chiểu - có ý thức có thực sự là phương pháp dạy học ngoại ngừ
đúng với quan điẻm cùa Tâm lý học Hoạt động không?
phương phap thực hành - có ý thức, V. V
2) Phương pháp là cách thức tô chức, là phương thức hoạt động
phối hợp chung giữa các hoạt động dạy cua thây và hoạt động học
cua tro nhăm đạt mục đích và yêu câu cúa môn học. NÓI cách khác,
đó la các phương thức hoạt động cùa thây và các phương thức hoạt
động của trò trong hoạt động sư phạm cùng nhau đê nắm nội dung
mòn học. Thí dụ, đối với thầy là phương pháp dùng lời, phương
pháp nêu vấn đề V. V và đối với trò là phương pháp nghe - ghi
nhớ, phương pháp tư duy tim tòi V. V Đây là chỗ mà các quan
điểm tâm lý học nêu trên khi vận dụng vào phương pháp dạy học
ngoại ngữ còn khá nhiều điêm chưa rõ và đã đê lại cho thầy trò tự
ngầm hiểu trong quá trình tổ chức dạy học ngoại ngữ.
3) Phương pháp là thủ pháp (hay thu thuật) hành động của thầy
và của trò Đó chính là các hành động, chính xác hơn là các thao
tác cụ the nối tiếp nhau để thực hiện một nhiệm vụ học tập nào đó
Trường hợp này, nguời ta gọi phương pháp là thủ pháp hay thủ
thuật dạy học môn học. Thí dụ như trong dạy học ngoại ngữ có các
thu thuật nói mau, đọc mẫu, mờ băng ghi âm, viêt bàng V. V
Như vậy, phương pháp dạy học môn học được thể hiện ở ba
cấp độ khác nhau cấp độ nguyên tấc (chiến lược) hành động, câp
độ phương thức hành động và cấp độ triển khai (vận hành) hành
động. Các phương pháp dạy học ngoại ngữ nhìn chung đều được
triển khai trẽn cả ba cấp độ này ở nhà trường hiện nay.
8.2.2. Phân loại và các kiểu, nhóm phương pháp dạy học môn học
Trong lý luận dạy học môn học ở nhà trường hiện nay có nhiêu
cách phân loại phương pháp dạy học. Các nhà lý luận dạy học và
phương pháp dạy học bộ môn đã nêu ra 8 cách phân loại phương
pháp dạy hoc dưới đày.
1) Dựa vào tính tích cực và tính bị động cùa người học có
phương pháp tích cực (như phương pháp nghiên cứu sách, phương
phạm còn chia các phương pháp dạy học thành kiểu phương pháp,
nhóm phương pháp và các phương pháp cụ thế.
Kiêu phiirmg pháp được gắn VỚI cách tô chức quá trình nhận
thức, tức hoạt động bèn trong, hoạt động trí tuệ, tâm lý của người
học và dùng hoạt động này làm tiêu chi đế phân chia các kiểu
phương pháp Có ba kiểu phương pháp chính, điển hinh là kiểu
phương pháp thông báo - tái hiện, kiểu phương pháp nêu vấn đề -
tìm tòi bộ phận và kiêu phương pháp nghiên cứu
Nhỏm phương pháp được gắn ,VƠ1 ríguồn nhận thức từ bên
ngoài, tức từ các phương tiện dùng "đề nhận thức, diễn ra ở bên
ngoài người học và đây cũng là tiêu chí đẻ phân biệt các nhóm
phương pháp Có ba nhóm phương pháp, theo thứ tự ứng với các
413
kiêu phươní' pháp nêu trẽn, là nhóm phương pháp dùng lời, nhóm
phương pháp trực quan và nhóm phương pháp hoạt động tự lực
(hay nhóm thực hành)
Các phương pháp cụ thế thực chất là một hệ thống các phương
pháp cụ thê ứng VỚI một hệ thông hành động hay một hệ thông thao
tác cụ thể để hoạt động thực hiện các nội dung môn học
Các nhà sư phạm học còn làm tương ứng giữa các kiểu, các
nhóm và các phương pháp cụ thể theo 3 kháu của quá trình dạy
học: khâu nghiên cứu tài liệu mới; khâu cùng cố, hoàn thiện tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo và khâu kiểm tra - đánh giá tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo. Nói cách khác, ở cả ba khâu này của quá trình dạy học,
người ta đều sử dụng nhất quán cách phân loại kiểu phương pháp,
nhóm phương pháp và các phương pháp cụ thể, trong đó kiểu,
nhóm phương pháp là không thay đồi, song các phương pháp cu thể
tương ứng với kiểu, nhóm phương pháp ở mỗi khâu của quá trình
này là rất khác nhau
Kiểu phương pháp dạy học thông báo - tái hiện (nhóm phuơng
Việc phân loại phương pháp và phân loại kiểu, nhóm phương
pháp dạy học môn học trên đây có thể có nhiều điểm phải cân nhắc
khi áp dụng vào dạy học ngoại ngữ. Song, chắc chắn là một gợi ý
tốt cho việc tìm kiếm, xây dựng phương pháp dạy học ngoại ngữ
trong mối quan hệ thống nhất giữa phương pháp, nội dung và hinh
thúc tổ chức dạy học ngoại ngữ.
Tuy nhiên việc hiểu phương pháp như trên vẫn chưa phản ánh
được bản chất tâm lý, đặc biệt bản chất tâm lý hoạt động của
phương pháp dạy học môn học
8.3. Quan điểm hoạt động về phu>ong pháp dạy học ngoại ngữ
8.3.1. Tinh khách quan của phương pháp dạy học ngoại ngữ
Khi phân tích các phương pháp dạy học ngày nay, đặc biệt
trong lĩnh vực dạy học tiếng, ta thấy các phương pháp đó được xây
Thầy giáo
416
dựníỊ theo những tiêu chi (cơ sơ) khác nhau hoặc theo tiêu chi tâm
li hoc (dưa trên cơ sở tâm lý học), hoặc theo tiêu chí ngôn ngữ hoc,
hoặc tlieo tiêu chí hoat động dạy và học, hoặc theo tiêu chí các
nguỏn
cung câp tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xao lời nói, V V. )
Tuy nhiên, dù dựa theo tiêu chí nào, khái niệm phương phap trong
dạy hoe ngoại ngữ cũng được thê hiện chủ yếu như là phưcmg thức
hoạt động hay tở chức hoạt động đê năm vững tri thưc ngôn ngữ,
hình thành kĩ xảo, kĩ năng lời nói theo yêu cầu đinh trước về chất
lượng và số lượng Song, ơ đây có một vấn đề không phai ai cũng
quan tâm đèn, đó là phương thút' này là chu quan hay khách quan?
Câu tra lời cho vân đê này có thê tim thấy trong phương pháp tiếp
cận nhât nguyên của các nhà kinh điến cùa chu nghĩa duy vật biện
chửng và duy vật lịch sứ Marx - Engels. NỘI dung phương pháp
tiêp cận đó cụ thê như dưới đây.
ta cần chiếm lĩnh và sù dụng.
8.3.2. Phương pháp dạy học ngoại ngữ ở trong nội dung môn
học ngoại ngữ
Như vậy, phương pháp dạy học ngoại ngữ và tổ chức hoạt động
lĩnh hội ngoại ngữ (gọi tắt là phương pháp bộ môn ngoại ngữ) cẩn
được tìm kiếm ngay trong thứ tiếng được đưa vào dạy học, được
phát hiện ngay trong bản thân hiện tượng ngôn ngữ, trong nội dung
môn họe ngoại ngữ, trong chính tiến trình vận động của hoạt động
ngôn ngữ để nhận thức và giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Cho đến nay, có nhiều ngành khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ
và từ đó đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về chính một hiện
tượng ngôn ngữ người, trong đó có nhiều quan điểm siêu hình tách
ngôn ngữ ra khỏi đời sống đích thực của con người thành một hệ
thống tín hiệu trừu tượng, đối lập quá mức ngôn ngừ với lời nói
418
(nhir F de Saussure) hoặc coi khâu động nhât của chúng không
phái nlnr một hoạt động, mà chì như một quá trinh, tức không có
tính mục đích va dộng cơ (như T X Serba) (A A. Leonchiev,
1969) Tuy nhiên những quan niệm đo vẫn co đóng góp đáng kế
trong việc phát hiện ra bản chât hiện tượng ngôn ngữ và tiên trình
vân động cua nó, trong việc đê ra nội dung và phương pháp dạy
học tiêng, kẻ ca ngoại ngữ Thành công trong lĩnh vực xây dựng
phương phap bộ môn ngoại ngừ từ những quan niệm này là hình
thành được phương pháp dùng lởi đè cung câp tri thức ngôn ngữ
(phương pháp ngữ pháp - phiên dịch) và nhiêu phương phap khác
đẻ tạo ra kĩ xao, kĩ năng lời nói theo cơ chế lặp lại đơn thuân hoặc
luyện tập cho biến đổi, chứ không phải là những phương pháp tạo
ra cho người học chính hoạt động lời nói.
Những thành tựu cua tâm lí học hiện đại có ý nghĩa rất to lớn
trong việc phát hiện ra ban chất và tiến trình vận động của hiện
mẹ đẻ và ngoại ngữ.
6) Khi đã nắm vững ngôn ngữ, hoạt động lời nói chi còn là các
hành động lời nói và được thực tiiện nhờ một hệ thống các cơ chế
lời nói, tức nhờ các bộ máy ngôn ngữ đã được tự động hoá
7) Hoạt động lời nói không tồn tại độc lập mà luôn nhập vào
hoạt động rộng lớn hom của con người (như lao động, học tập, lí
luận, vui chơi, V.V ) với tư cách là những thành phần (A. A
Leonchiev, 1969) và công cụ tổ chức của hoạt động đó (N I.
Dynkin, 1982), đồng thời vẫn bảo đảm chức năng của mình là
phương tiện khái quát hiện thực (nhận thức) và thông báo (giao tiếp).
Những nội dung trên cho thấy, phải xem xét ngôn ngừ trong
mối quan hệ hữu cơ với đời sống thực của con người - xã hội và
420
phưirng pháp chiêm lĩnh nó phải thê hiện được những quan hệ mật
thiêt đó Có thê quy việc xem xét ngôn ngữ vê việc tim hiêu hoạt
độn í; lới nói, ma việc tim hiêu hoạt động lời nói cũng là tim hlêu
tiên trinh vân động (câu trúc logich) cua ngôn ngữ, tức cua hoạt
độn!' lời nói khi đanu trong qua trinh năm vững, mà thực chât là
cùa hệ thông các hành động lời nói tương ứng với các mục đích lời
nói xác đinh, găn với các tình huông lời nói cụ thẻ trong giao tiêp
nhờ ngoại ngừ đang học Một quan niệm hoạt động như vậy về
ngôn ngừ đặt ra yêu câu cho hệ phương pháp dạy học ngoại ngữ
phái được tiên hanh theo đương hương thực hanh giao tiẻp hay con
gọi là đườníí hướng giao tiêp - hoạt động. NÓI cách khác, quan
niệm này đòi hỏi irọng tâm cua phương pháp dạy học ngoại ngừ
phai không những chì hình thành kĩ xao, kĩ năng lời nói, mà còn ca
chinh hoạt động U'ri nói nữa.
Việc xem xét hoạt động lời nói hay là tiến trinh vận động
cùa neôn ngữ theo quan điẻm hoạt động được tiến hành từ hai
hướng sau:
pháp dạy học tiếng phải gắn chặt với nội dung và hình thức tồn tại
của ngữ liệu. Đây mới là phương pháp dạy tiếng cần tim kiếm và
xây dựng. Như vậy, theo Tâm lý học Hoạt động, phương pháp dạy
học ngoại ngữ chính là hệ thống các phương pháp dạy học các hành
động ngôn ngữ và các hành động lời nói = (bằng) triển khai cấu
trúc logich các thao tác ngôn ngữ và lời nói theo đúng tiên trình
vận hành vốn có của chủng ờ trong mồi hành động đó Do đó, xây
dựng phương pháp dạy học ngoại ngữ cần phải phân tích đê tìm ra
các thao tác và logich vận hành cùa các thao tác đó trong mỗi hành
động ngôn ngữ hay hành động lời nói cụ thể Phương pháp dạy học
ngoại ngữ theo tinh thần này có thể gọi tên là phương pháp phân
422
tich cán tríic loiỊich hanh độníỊ hay gọi tắt là phưcniỊỊ pháp phàn
li ch hanh c/ỘHí’.
Thao tác lới noi, theo tâm li học Hoạt động, chính là chỗ khác
nhau nhất trong các thứ tiếng Do đó, phương pháp dạy học ngoại
ngữ theo hướng hoạt động cân chú ý đến quan điêm xem xét, phân
tích cu thể các hành đông ngôn ngữ và hành đông lời nói đôi VỚI
tưng thứ tiêng đươc dạy
8.3.3. Quan hệ giữa phương pháp học và phương pháp dạy
với nội dung ngoại ngữ được dạy và học
Ò đây không đề cập vai trò cua người học (chù thể) trong hoạt
động chiếm lĩnh đối tượng (ngoại ngữ). Tât nhiên, tính tích cực
hoạt động cua chu thể là hết sức quan trọng. Chính yêu tô này đã
làm cho các phương pháp khác nhau cua đường hướng thực hành -
giao tiếp có kết quả không khác nhau, nhưng bản thân nó không
phải là phương pháp, mà chi là một điều kiện để thực hiện phương
pháp. Ớ đây muốn nói đến việc chuyển sự vận động khách quan
(câu trúc logich thao tác phát hiện được) của đối tượng (của các
hành động ngôn ngữ và các hành động lời nói ngoại ngữ) sang
8.3.4. Tổ chức dạy học hoạt động lời nói
Cuối cùng, theo chúng tôi, dạy học ngoại ngữ cần tim cho được
phương pháp dạy học ngoại ngữ để tổ chức dạy học tiếng như tổ
chức dạy học hoạt động lời nói. Thực chất của phương pháp dạy
học ngoại ngừ này là phương pháp tổ chức dạy học có tính đến
hỉnh thành động cơ hoạt động lời nói, xây dựng các mục đích hành
động lời nói với các phương tiện, vật liệu ngôn ngữ cụ thể và VỚI
các phuơng thức, thao tác lời nói xác định. Việc tố chức động cơ
này được quy về việc hình thành nhu cầu, hứng thú muốn nói cái gì
424
do hãng ngoai ngữ, tức hinh thành ý đinh lời nói dê diên đạt băng
rH'oai ngừ được hoc, còn việc xây dưng các mục ũ ích lời nói dược
quy vẻ việc diên dạt và gây dưng các hành động lơi [101 chưa đựng
những hê thõng thao tác lời nói rõ ràng, dày đu và chúng liên hệ
VƠI nhau một cách xác đinh, tức la phai có dươc cái câu trúc logic
vận hành cùa các thao tác lời nói thật tướng minh. NÓI cách khác,
tô chức dạy học hoạt động lời nói la tô chức dạy học phương pháp
nàm lây hoạt động lời nói ngoại ngừ cho người học Đây chính là
cơ sờ tâm li học hoạt động cua phương pháp và cả của các nguyên
tãe uiao học pháp day học ngoại ngữ khoa hoc
8.4. Yêu cầu tâm !ý đối với phương pháp dạy học ngoại ngữ
hoạt động
Phương pháp dạy học ngoại ngữ được trình bày ơ các mục trên
đirợc dựa vào quan điẻm tâm lý học cụ thể hiểu về ngôn ngữ, lời
nói và hoạt động lới nói và vê ban chât cúa quá trinh lĩnh hội (nhận
thức) chúng ỡ người học. Dựa vào các tiêu chí này có thê thảy rất
rõ sư khác nhau vê những vấn đề cơ bán cùa dạy học ngoại ngữ,
nòi chung, và cua phương pháp dạy học ngoại ngữ, nói riêng. Nói
cách khác, đây la cơ sơ tâm lý học cùa những vấn đề đang bàn đen.
Một cách chính xác hơn, đây là cơ sỡ tâm lý học cùa những vân đê