Cơ sở tâm lý nâng cao tích cực hoạt động Xemina - Pdf 44

Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự (KHXHNVQS) cấp
phân đội là một bớc đi mang tính chiến lợc, nhằm sớm đào tạo đội ngũ giáo
viên trẻ có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt
Nam theo hớng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bớc hiện đại. Điều đó đặt
ra nhiều vấn đề, đặc biệt là đổi mới hình thức dạy học, nâng cao chất lợng đào
tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội.
Xêmina (X) là một trong những hình thức dạy học sau bài giảng cơ bản
hiện nay ở Học viện Chính trị quân sự (HVCTQS). Thông qua X, ngời học có
điều kiện thuận lợi thu nhận, củng cố tri thức, vận dụng kiến thức đã nghe giảng
vào lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn. Đặc biệt hình thành kỹ năng nghề
nghiệp s phạm. Đồng thời thông qua X, ngời học có cơ hội bày tỏ quan điểm
một cách độc lập, sáng tạo rèn luyện phơng pháp lập luận khoa học. Quá trình
học tập của bản thân và trao đổi với đồng chí, đồng đội cho thấy: X có vai trò
hết sức quan trọng trong hình thành kỹ năng nghề nghiệp s phạm cho đối tợng
đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội. Tuy nhiên, trên thực tế còn tồn
tại một số học viên cha nhận thức đúng đắn vai trò, chức năng của X. Vì vậy,
dẫn đến hiện tợng nhiều học viên (HV) cha tích cực chủ động trong X.
Là một hình thức học tập tranh luận, thảo luận khoa học nhằm khơi sâu,
mở rộng kiến thức, vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. X có
chức năng: nhận thức, giáo dục, phát triển, kiểm tra đánh giá. Dới góc độ tâm lý
học (TLH): X là một hoạt động cùng nhận thức, cùng lĩnh hội. Nó có những khía
cạnh tâm lý riêng biệt và chỉ đạt kết quả cao khi HV có tính tích cực.
TLH quân sự và TLH s phạm quân sự đã nghiên cứu cơ sở tâm lý của hoạt
động học, hoạt động dạy Tuy nhiên vấn đề cơ sở tâm lý nâng cao chất l ợng hoạt
động X của HV, nhất là HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội còn là
vấn đề mới cha đề cập nghiên cứu cụ thể.
5
Chính từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài Cơ sở
tâm lý nâng cao tính tích cực hoạt động Xêmina của học viên đào tạo giáo

4.2. Khách thể nghiên cứu
HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội ở Hệ S phạm (GV1,
GV2, GV3, GV4, GV5) - HVCTQS hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp
phân đội là kết quả tác động của nhiều yếu tố trong đó có cơ sở tâm lý. Nếu chỉ
ra đợc cơ sở tâm lý này sẽ góp phần nâng cao tính tích cực hoạt động X của
HV.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đề cập đến những cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực hoạt
động X của HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội.
7. Cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phơng pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,
ngoài ra luận văn còn dựa vào các nguyên tắc phơng pháp luận TLH Mác xít.
7.2. Phơng pháp nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian chúng tôi tập trung vào hai nhóm ph-
ơng pháp chủ yếu sau:
* Phơng pháp nghiên cứu tài liệu: Qua nghiên cứu tài liệu làm rõ những
vấn đề cơ bản về tính tích cực và cơ sở tâm lý của tính tích cực hoạt động của
con ngời làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài.
* Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phơng pháp điều tra
+ Mục đích: Nhằm thu thập thông tin cần thiết về thực trạng, nguyên
7
nhân, các dấu hiệu biểu hiện tính tích cực hoạt động X; các yếu tố tâm lý quy
định tính tích cực hoạt động X của HV và các giải pháp tâm lý xã hội nâng cao
tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội.
- Phơng pháp quan sát

Các nhà TLH Mác xít dựa trên cơ sở lý luận, phơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của C. Mác về hoạt động của con ngời.
C. Mác khẳng định: Hoạt động của con ngời là hoạt động có đối tợng và mang bản
chất xã hội lịch sử. Từ đó các nhà TLH Mác xít đã đi đến kết luận quan trọng: hoạt
động có đối tợng của con ngời là nơi sản sinh ra tâm lý và cũng là nơi tâm lý thực
hịên chức năng định hớng, điều chỉnh, điều khiển hoạt động, tức là tâm lý trở
thành thành phần của hoạt động. Từ đó, cho thấy tính tích cực hoạt động của con
ngời nói chung, tính tích cực hoạt động X nói riêng không thể tách rời những yếu
tố tâm lý của chủ thể. Đồng thời do hoạt động của con ngời mang bản chất xã hội
lịch sử cho nên tính tích cực hoạt động của con ngời còn chịu sự tác động của các
yếu tố bên ngoài. Tiêu biểu cho cách tiếp cận trên là các tác giả: V. P. Điatrenco,
V. I. Romanov, A. N. Lêônchiép...
ở Việt Nam, trong lĩnh vực TLH quân sự, cụ thể là TLH s phạm quân sự
cũng đã có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến cơ sở tâm lý của hoạt động học
tập nh các tác giả Ngô Minh Tuấn, Đinh Hùng Tuấn trong Nâng cao tính tích
cực nhận thức của học viên trong Xêmina. Lê Duy Tuấn Cơ sở tâm lý nâng
cao tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội hiện
nay. Tuy nhiên, các tác giả này cha đề cập cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực
hoạt động X. Những kết quả nhiên cứu của các tác giả trên đợc chúng tôi
9
nghiên cứu, kế thừa và vận dụng trong nghiên cứu của mình.
1. 2. Các khái niệm cơ bản
1. 2. 1. Tính tích cực
Tính tích cực là vấn đề nghiên cứu của nhiều khoa học Triết học, TLH,
Giáo dục học thuật ngữ tính tích cực theo tiếng Latinh là ACTIVUS dùng
để chỉ: Trạng thái hoạt động; Tính chủ động đối lập với tính bị động.
Dới góc độ Triết học tính tích cực là một khái niệm cơ bản, đã đợc nhiều
triết gia nổi tiếng từ thời cổ đại và hiện nay đề cập nghiên cứu nh: Ampécđốclơ
(490-430 Tr.c.n); Platôn (428-398 Tr.c.n); Aritxtốt (384-322 Tr.c.n); R. Đề các;
B. Spinoda Phần lớn các nhà duy vật khi bàn về tính tích cực đều thống nhất ở

thể năng động, tích cực, luôn luôn tác động vào thế giới, nhận thức và cải tạo
thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của mình.
Tính tích cực thuộc bản chất của con ngời, là đặc trng của cơ thể sống
trong mối tơng quan với hoạt động. Tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, là
động lực của quá trình nhận thức và thay đổi các loại hình hoạt động. Nó là
thuộc tính quan trọng tạo ra sự vận động nội sinh của hoạt động. Tính tích cực
đợc biểu hiện trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Loài ngời từ khi xuất
hiện, tồn tại và phát triển đến nay đều do tính tích cực, sáng tạo của mình quyết
định. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu, lợi ích nảy sinh trong thực tiễn
lao động sản xuất và đấu tranh xã hội.
Dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà TLH Mác xít
cho rằng: tính tích cực là một khía cạnh chủ yếu trong bản chất tâm lý của con
ngời. Nhờ có tính tích cực mà con ngời tiếp thu có chọn lọc các tác động của tự
nhiên và xã hội. Đồng thời tìm ra con đờng, biện pháp cải tạo tự nhiên, xã hội.
Xem xét tính tích cực từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thể đối với thế
giới bên ngoài, các tác giả nh: S. Đ. Smiznov, V. P. Điatrenco, V. Ia. Romanov
cho rằng: sự phát triển tính tích cực là sự phức tạp hoá dần các chức năng của
11
tính tích cực của chủ thể. Với các biểu hiện cơ bản sau:
- Tính chủ động của ý thức, tính chủ định của chủ thể đối với thế giới bên
ngoài. Nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động, thớc đo tính chủ động của
chủ thể.
- Tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi, hoạt động tâm
lý của chủ thể gắn liền với tiêu hao năng lợng tâm lý và sinh lí.
- Tính tích cực thể hiện chức năng không chỉ biểu hiện sự thích nghi mà
cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo, sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài.
Nh vậy các tác giả trên khẳng định rằng: Con ngời có tính tích cực là con
ngời đang hoạt động. Nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động, sự thích
ứng, sự sáng tạo của chủ thể nhằm cải tạo thế giới bên ngoài và bản thân mình.
Trong quá trình nghiên cứu những cơ sở của hình thức dạy học nêu vấn

chất là tính tích cực nhận thức, đặc trng bởi sự chủ động sáng tạo, hăng hái trả
lời câu hỏi của giáo viên. Bổ sung các câu hỏi và trả lời của bạn, thích phát biểu
ý kiến của mình trớc các vấn đề nêu ra, hay thắc mắc đòi hỏi phải trả lời một
cách thấu đáo các vấn đề tranh luận, thảo luận. Chủ động vận dụng kiến thức
kỹ xảo, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới [2, tr.26-27].
Trên cơ sở tiếp cận hoạt động, tập thể tác giả Ngô Minh Tuấn và
Đinh Hùng Tuấn đã cho rằng: Tính tích cực hoạt động X chính là tính
tích cực nhận thức, là trạng thái nỗ lực chủ động, độc lập sáng tạo của HV
trong việc huy động khả năng nhận thức vào tranh luận, thảo luận các vấn
đề trong X [9, tr.8].
Nh vậy tuy các tác giả có các quan nịêm khác nhau nhng thống
nhất cho rằng: X là một hoạt động trong hoạt động học tập của HV tính
tích cực hoạt động X là một dạng cụ thể của tính tích cực nói chung của
con ngời, phản ánh khát vọng vơn lên chiếm lĩnh tri thức và kỹ xảo, kỹ
năng
13
Tiếp thu các quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Tính tích cực hoạt động
Xêmina là một phẩm chất của nhân cách phản ánh trạng thái hoạt động thể
hiện sự nỗ lực bên trong, chủ động, sáng tạo hớng tới hình thành những hành
động Xêmina phù hợp để chiếm lĩnh nội dung chủ đề Xêmina.
1.2.2.2. Các tiêu chí đánh tính tích cực hoạt động Xêmina của học viên
Khi nghiên cứu tính tích cực hoc tập của sinh viên tác giả Nguyễn Đức
Vũ đã chỉ rõ dấu hiệu để nhận thấy tính tích cực học tập nh sau: Thờng nêu ý
kiến về các vấn đề học tập, trăn trở, tìm tòi, phát hiện thỏa mãn nhu cầu hiểu
biết, có ý thức nhận xét, đánh giá, chủ động liên hệ kiến thức vào thực tiễn, vận
dụng kiến thức đã học vào nhận thức kiến thức mới, có nhu cầu trao đổi, thảo
luận với bạn bè, thầy cô về những hiểu biết có đợc từ những nguồn thông tin
khác nhau [11, tr.28].
Tính tích hoạt động X của HV là một dạng đặc thù của tính tích cực học
tập. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng muốn đánh giá đợc tính tích

Hiện nay, các X thờng diễn ra theo các trờng hợp sau đây. Thứ nhất, GV
gợi ý lại nội dung X, HV xem lại đề cơng mình đã chuẩn bị ở nhà. Sau đó GV
gọi từng ngời lên phát biểu theo nội dung mình đã chuẩn bị. Sau mỗi ý kiến,
GV kết luận và nêu ra những điểm còn cha rõ hoặc có mâu thuẫn để các HV
khác tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề. Thứ hai, GV gọi ngời phát biểu trung tâm lên
phát biểu sau đó các HV khác tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề cha rõ. Thứ ba,
GV hỏi HV trong chủ đề X có nội dung gì cha rõ nêu ra để các đồng chí trong
lớp và GV cùng giải quyết.
Trong cả ba cách trên, ngời HV có tính tích trong X đều là những ng-
ời chủ động phát biểu ý kiến giải quyết các vấn đề nhanh gọn, súc tích, bởi
vì trong giai đoạn chuẩn bị những HV này đã chuẩn bị rất kĩ càng, tích luỹ
đợc một vốn kiến thức cần thiết. Trong tranh luận, thảo luận, đấu tranh
quan điểm với các vấn đề tập thể lớp và GV nêu ra. Những HV có tính tích
15
cực tỏ ra nhạy bén, nắm bắt chính xác mẫu thuẫn, tham gia tranh luận , thảo
luận sôi nổi. Chính vì thế mà X trở nên có ý nghĩa sâu sắc. Khi diễn giải
trình bày các vấn đề, những HV này trình bày diễn giải một cách say mê,
hầu nh thoát li khỏi đề cơng, những kiến thức lý luận và thực tiễn đã trở
thành năng lợng tiềm tàng chờ cơ hội để giải phóng. Tính tích cực hoạt
động X ở giai đoạn này còn thể hiện ở khả năng t duy linh hoạt, năng động,
mang tính sáng tạo cao của ngời học. Đó là ngời học biết vận dụng một
cách sáng tạo những kiến thức tích luỹ đợc trong quá trình học tập và vốn
sống vào giải quyết những tình huống có vấn đề. Một nét tâm lý xuất hiện
ở những HV có tính tích cực là có cảm giác xấu hổ, ngại ngùng khi trong
buổi X không đợc phát biểu ý kiến hoặc các vấn đề đa ra còn thiếu tính
thuyết phục, trong suy nghĩ mong muốn lần sau mình làm tốt hơn. Ngợc lại
những HV không có tính tích cực hoạt động X, thiếu tính chủ động, sáng
tạo trong suy nghĩ, lời phát biểu, thờng trông chờ vào đồng đội hay kết luận
của giáo viên. Nếu những HV này phát biểu thì chỉ nhắc lại bài giảng của
GV, hoặc trả lời cho qua chuyện, không tiếp thu đợc nhiều kiến thức trong

KHXHNVQS cấp phân đội, chúng ta phải tính đến những yếu tố tâm lý tạo
thành nền tảng của tính tích cực hoạt động X của HV đợc hình thành trong quá
trình chuẩn bị và tiến hành X.
Nguồn gốc tạo nên tính tích cực của nhân cách là nhu cầu. Chính nhu cầu
đã thúc đẩy con ngời hoạt động, đồng thời tính tích cực biểu hiện ra trong quá trình
hoạt động. Nhu cầu con ngời không chỉ đơn thuần là nhu cầu bản năng mang ý
nghĩa sinh vật mà còn là nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu của con ngời đợc hình
thành trong quá trình giáo dục, tức là quá trình tiếp nhận các giá trị văn hoá nhân
loại, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, quá trình thoả mãn nhu cầu của con ng-
ời là một quá trình tích cực có mục đích. Trong đó con ngời làm chủ các hình thức
hoạt động do sự phát triển lịch sử quy định.
17
Song các nhà TLH Mác xít cũng chỉ ra: Nhu cầu hớng dẫn hoạt động của
chủ thể, nhng nhu cầu chỉ hoàn thiện chức năng ấy với điều kiện nhu cầu phải
mang tính đối tợng, bởi vì nhu cầu chỉ là trạng thái thiếu thốn, cần thiết phải đ-
ợc thoả mãn nhng mang tính vô hớng. Chính trong hoạt động, khi bắt gặp đối t-
ợng có thể thoả mãn nhu cầu của chủ thể thì nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy
con ngời hoạt động. Vì vậy khi nghiên cứu cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực
hoạt động X của HV thì phải tiếp tục nghiên cứu những yếu tố tâm lý làm cơ sở
thúc đẩy, quy định tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên
KHXHNVQS cấp phân đội.
Hoạt động của con ngời là một hệ thống luôn luôn tự vận động và phát
triển. Nó chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử cụ thể. Trong khi tiến hành
hoạt động này hay hoạt động khác cá nhân luôn thực hiện một chức năng xã hội
nhất điịnh, phục tùng những nhu cầu của cá nhân hay của xã hội. A. N. Lêônchiép
đã khẳng định: Hoạt động có đối tợng là nơi sản sinh ra tâm lý con ngời, hoạt
động là bản thể của tâm lý và cũng là nơi tâm lý thực hiện chức năng định hớng,
điều khiển, điều chỉnh hoạt động, tức là tâm lý trở thành thành phần của hoạt động,
cũng có thể nói tâm lý là điều kiện vận hành hoạt động [4, tr.4]. Ông cũng chỉ ra
rằng: Hoạt động của con ngời có tính xã hội và có tính tổ chức, có động cơ là cơ

sự tác động tâm lý tích cực từ phía giáo viên, cán bộ quản lý, tập thể lớp học,
môi trờng s phạm của Hệ, của Học viện, của nội dung chủ đề Xêmina.
1.3. Đặc điểm hoạt động Xêmina và những yếu tố quy định tính tích
cực hoạt động Xêmina của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân
văn quân sự cấp phân đội ở Hệ S phạm - Học viện Chính trị quân sự
1.3.1. Đặc điểm Xêmina của tập thể học viên
* Xêmina là hoạt động vừa mang tính chất cá nhân vừa mang tính tập
thể cao.
Tính cá nhân trong quá trình chuẩn bị X biểu hiện mỗi HV đều có cách lựa
19
chọn vấn đề mình cần làm rõ, cần phát biểu, từ đó nghiên cứu tài liệu, làm đề cơng
vấn đề mà HV tâm huyết. Mỗi HV có sự chuẩn bị và trình bày khác nhau, tạo nên
sự phong phú, đa dạng trong X, tuy nhiên vẫn xoay quanh vấn đề chung là phải
làm sáng tỏ nội dung và các vấn đề X đề cập.
Trong thực hành X, mỗi HV tự do trình bày quan điểm của mình, chính
kiến của mình theo các vấn đề đã chuẩn bị từ trớc, và những vấn đề nảy sinh
trong quá trình X. Thông qua quá trình thảo luận, các ý kiến đợc cọ sát với
nhau, loại bỏ sự khác biệt, những mâu thuẫn, từ đó hình thành quan điểm chung
thống nhất. Các vấn đề trong X đợc trình bày một cách rõ ràng hơn, trên cơ sở
đó trí tụê tập thể đợc phát huy.
Trong X mức độ sắc xảo, chính xác, đúng đắn của các ý kiến có sự khác nhau
phụ thuộc và trình độ nhận thức, kinh nghiệm, vốn sống của từng HV. Kết quả lĩnh
hội của các HV cũng có sự khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú của X.
Tuy nhiên, kết quả X phụ thuộc vào tính tích cực của tập thể HV, một cá
nhân HV không làm cho X mang mầu sắc tranh luận, thảo luận, một vài cá
nhân HV tích cực cũng không quyết định chất lợng các buổi X.
* Học viên có điều kiện chuẩn bị tâm thế trớc khi tiến hành X.
Tâm thế là sự sẵn sàng bên trong của con ngời để ngời đó bớc vào hoạt động
một cách chủ động ngay từ đầu. Tâm thế trớc khi X là một trạng thái tâm lý sẵn
sàng bên trong của HV để họ bớc vào X một cách chủ động, linh hoạt từ đó mới

X, GV cũng không thể tránh khỏi sai xót. Vì thế yêu cầu rất cao đối với
GV duy trì X. Cần có năng lực chuyên môn vững vàng, nắm chắc nội
dung lý luận và thực tiễn chủ đề X; Cụ thể, tỉ mỉ, bình tĩnh, khéo léo xử
trí các tình huống bất ngờ xảy ra, nếu GV không giải quyết tốt sẽ gây
căng thẳng cho HV.
Cần thấy rằng có đạt đợc mục đích buổi X hay không phụ thuộc rất
lớn vào khả năng điều khiển của GV. Trong X, GV phải là ng ời trọng tài
21
công minh, chính xác, khách quan, tránh chủ quan, áp đặt, phải biết
khuyến khích những cái mới, cái phát triển mặc dù đó chỉ là ý kiến nhỏ.
Quá trình X, giáo viên phải chủ động nội dung và thời gian, có sự khiêm
tốn nhất định; không chạy theo HV hoặc để HV tranh cãi thiếu tập
chung, đặc biệt không chấp nhận hiện tợng GV tranh cãi tay đôi với HV,
vì điều đó vị thế và uy tín ngời GV sẽ bị suy giảm hoặc gây nên những
hiểu lầm đáng tiếc. Khi X, HV sẽ bộc lộ những hạn chế và thiếu sót nhất
định trong việc nắm kiến thức cũng nh kỹ năng diễn đạt, vì vậy GV phải
động viên, đánh giá đúng mức để khuyến khích tính tích cực, sự hứng thú,
tránh phủ nhận một cách sạch trơn các ý kiến mà HV hiểu cha đúng làm
mất đi sự hng phấn phát biểu của HV. GV cần gợi mở các vấn đề, khéo léo
hớng tranh luận về phía HV, làm cho các quan điểm của HV đợc cọ sát với
nhau, trong khi đó GV là ngời dẫn dắt cuộc tranh luận đó. GV không nên
nói quá nhiều mà phải kích thích HV suy nghĩ, giải quyết vấn đề. Từ đó
GV mới có thể nhận xét thấu đáo, gợi mở, giàu tính thuyết phục tạo nên
những hớng giải quyết mới hay hơn.
1.3.2. Những yếu tố qui định tính tích cực hoạt động Xêmina của học
viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội ở Hệ S
phạm - Học viện Chính trị quân sự hiện nay
1.3.2.1. Những yếu tố thuộc về chủ thể
* Động cơ Xêmina của học viên.
TLH Mác xít đã chỉ ra động cơ là những cái con ngời phản ánh và trở

lợi bao nhiêu thì kết quả X cũng khó đạt đợc chất lợng cao.
* Mục đích X của HV.
Trong hoạt động mục đích chính là biểu tợng kết quả cần đạt đợc của
hoạt động, mục đích có vai trò định hớng, chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động
nói chung cũng nh quá trình X nói riêng. C. Mác đã viết Mục đích ấy quyết
23
định phơng thức hành động của họ giống nh một quy luật và bắt ý chí của họ
phải phục tùng nó [5, tr.335]. Chất lợng, hiệu quả X phụ thuộc vào xác định
mục đích X của HV. Nếu HV xác định đúng mục đích tham gia X thì thúc đẩy
mạnh mẽ tính tích cực trong chuẩn bị, thực hành và sau X. Ngợc lại HV không
xác định đúng mục đích X thì sẽ kìm hãm tính tích cực trong X của HV.
Xét trong quá trình học tập, mục đích X của HV là tiếp tục làm rõ những
vấn đề còn vớng mắc về nội dung, góp phần chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ
xảo, kỹ năng nghề nghiệp s phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
Trong X việc xác định mục đích là vấn đề quan trọng, tuân theo con
đờng nhất định của nó chứ không phải là công việc tùy tiện chủ quan của cá
nhân HV. Việc tiếp nhận mục đích X của HV phụ thuộc rất lớn vào ngời
GV, ngời cán bộ quản lý, tập thể lớp học. Ngời GV khi hớng dẫn chủ đề X
phải nói rõ mục đích của chủ đề X. Điều đó giúp cho ngời học có đợc biểu
tợng nhất định về chủ đề X và nhận rõ thuận lợi, khó khăn khi tham gia X.
Nh vậy muốn nâng cao tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên
KHXHNVQS cấp phân đội ngời HV cần xác định đúng đắn mục đích trong
X.
1.3.2.2. Những yếu tố thuộc về khách thể
* Yếu tố giáo viên:
Xêmina diễn ra dới sự hớng dẫn, điều khiển của GV. Trong X, điều
cốt lõi là GV phải làm sao kích thích đợc tính tích cực của HV. GV phải
làm cho HV ý thức đợc đối tợng cần chiếm lĩnh và có phơng pháp chiếm
lĩnh. Với t cách là ngời tổ chức, điều khiển quá trình X nên GV có sự tác
động to lớn đến tính tích cực hoạt động X của HV, hiệu quả sự tác động đó

đối với tính tích cực trong học tập nói chung và trong X của HV nói riêng.
* Yếu tố môi trờng s phạm của nhà trờng và tập thể lớp học.
Môi trờng s phạm của nhà trờng là môi trờng gần gũi tác động trực tiếp
25
đến việc hình thành và phát triển nhân cách HV, đồng thời cũng ảnh hởng to lớn
đến tính tích cực hoạt động X của HV. Môi trờng s phạm của nhà trờng là toàn
bộ cơ sở vật chất, đội ngũ GV, cán bộ quản lý, cách thức tổ chức quản lý, quan
hệ tâm lý xã hội và quan hệ giáo dục. Các yếu tố này thờng xuyên tác động đến
tính tích cực trong X của HV.
Học tập rèn luyện trong môi trờng s phạm lành mạnh. ở đó, mục tiêu,
yêu cầu đào tạo xác định đúng đắn, nội dung, chơng trình đào tạo phù hợp,
các mối quan hệ xã hội đợc xây dựng trên cơ sở tình đồng chí đồng đội,
tình thầy trò nhân ái, nhân văn, đoàn kết gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, khích lệ
động viên kịp thời, đó chính là động lực to lớn thúc đẩy tính tích cực hoạt
động X của HV.
Cùng với môi trờng s phạm của học viện, của hệ, tập thể lớp học là môi
trờng gần gũi hàng ngày, hàng giờ tác động đến HV. Tập thể lớp học là nơi diễn
ra sự giao tiếp, tiếp xúc lẫn nhau hình thành nên mối quan hệ liên nhân cách và
các hiện tợng tâm lý xã hội trong tập thể lớp.
ở mức nhất định cần thấy rằng môi trờng tập thể HV có ảnh hởng mạnh mẽ
đến tính tích cực hoạt động X của HV. Trong quá trình X, HV luôn có quan hệ qua
lại với những HV khác, vì thế ít nhiều chịu ảnh hởng tích cực hoặc tiêu cực từ
những HV xung quanh. Rõ ràng nếu trong tập thể HV có nhiều HV tích cực học
tập với thái độ tự giác cao, nghiêm túc, tích cực phát biểu, tranh luận, thảo luận thì
các HV khác cũng bị cuốn theo một cách không tự giác.
Một hiện tợng thờng thấy trong tập thể là mỗi ngời đều có nhu cầu tự
khẳng định, mong muốn sự thừa nhận, đánh giá tích cực từ ngời khác, mong
muốn đợc trao đổi tri thức, kinh nghịêm, vốn sống để hoàn thiện và phát triển
nhân cách của mình. Quá trình X, GV hết sức chú ý đến những mong muốn trên
của HV, đánh giá đúng mức ý kiến phát biểu, khéo tác động vào động cơ tự

thêm từng vấn đề. Đối với HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội phải
27
cụ thể chi tiết nội dung X đi vào từng vấn đề nhỏ, làm sâu sắc thêm kiến thức cho
HV. Đôi khi cần phải sử dụng các vấn đề trái ngợc để HV lập luận, bác bỏ. Cần
tránh đa ra các nội dung X quá rộng, quá khó hoặc quá dễ điều đó không kích
thích đợc tính tích cực hoạt động X của HV.
Tóm lại, tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên
KHXHNVQS cấp phân đội ở Hệ S phạm - HVCTQS bị quy định bởi hai nhóm
yếu tố thuộc về chủ thể và khách thể (Sơ đồ 1). Mỗi nhóm yếu tố có vị trí, vai
trò khác nhau nhng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau góp phần nâng cao tính
tích cực hoạt động X của HV. Vì vậy muốn nâng cao tính tích cực hoạt động X
của HV phải tác động tích cực vào các nhóm yếu tố trên.
Sơ đồ 1: Những yếu tố quy định tính tích cực hoạt động Xêmina của HV
28
Những yếu
tố thuộc
về chủ
thể
Động cơ Xêmina
của học viên
Mục đích Xêmina
của học viên
Yếu tố tác động từ giáo viên,
cán bộ quản lý
Những yếu
tố thuộc
về khách
thể
Yếu tố tác động từ môi trư
ờng sư phạm của nhà trường

HVCTQS để đánh giá kết quả nh sau:
29

Trích đoạn Thực trạng tính tích cực hoạt động Xêmina của học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội ở Hệ S phạm Học Hình thành động cơ, mục đích Xêmina đúng đắn cho học viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội ở Hệ S
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status