Giai cấp công nhân và vai trò của đảng cộng sản đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội - Pdf 25

A.MỞ ĐẦU
Trong thời đại xã hội nào, những người lao động sản xuất trong các ngành
sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp hay những người công nhân đều có vai
trò sáng tạo chân chính ra lịch sử và là những người giữ vai trò quyết định sáng tạo
công cụ sản xuất, gía trị thặng dư và chính trị xã hội. Chủ nghĩa xã hội khoa học là
một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu một
cách toàn diện về các quy luật chính trị xã hội của quá trình phát sinh, hình thành
và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong đó, chủ
nghĩa xã hội khoa học đã tập chung nghiên cưú những nguyên tắc căn bản, những
điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân để
thực hiện chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội.
Từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân, việc khẳng định sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên
xô, nhiều người đã bộc lộ sự dao động và hoài nghi về sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân. Bọn cơ hội xét lại và các thế lực chống cộng có cơ hội mới để phủ
nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
và chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn mới hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang
diễn ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái trào, thời đại
ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới còn đang có nhiều biến động, tiêu cực thì vấn đề làm sáng
tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đặt ra trở nên bức thiết hơn bao
giờ hết, cả trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của chủ
nghĩa xã hội khoa học, do đó nó đã được C.Mác - Ph.Ăngghen và Lênin nghiên
cứu và phát triển hết sức hoàn thiện trong trong quá trình phát triển của lịch sử thế
giới. Xét trên phương diện lịch sử, những nhận định và lý luận của các ông về giai
cấp công nhân có tác dụng to lớn và đúng đắn.Còn đối với nước ta, vấn đề trên đư-
Trang 1
ợc Đảng ta rất chú trọng. Vì thế, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ

là công nhân làm trong ngành cơ khí; công nhân dệt là công nhân làm trong ngành
dệt; công nhân công trường thủ công là công nhân làm trong các công trường;
công nhân nông nghiệp là công nhân làm trong ngành nông nghiệp có sử dụng các
trang thiết bị của công nghiệp
Mặc dù các thuật ngữ trên có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì
theo C.Mác và Ph.Ăngghen chúng vẫn chỉ mang hai thuộc tính căn bản.
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp công
nhân là lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất
công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.
Trang 3
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những người
lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà
tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
Trong hai tiêu trí này, C.Mác và Ph.Ăngghen tới tiêu chí một đó là công nhân
công xưởng, được coi là bộ phận tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện đại. Hai
ông cho rằng: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển
của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của nền đại công nghiệp”;
“công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc cũng
vậy công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền đại công nghiệp hiện đại”.
Với tiêu chí thứ hai, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đặc biệt nhấn mạnh vì
chính điều này khiến cho người công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai
cấp tư sản: “giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp
công nhân hiện đại- tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc
làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản- cũng
phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa
một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào
khác, vì thế họ phải chịu hết sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị
trường”. Tiêu chí này đã nói lên một trong những đặc trưng cơ bản nhất của giai
cấp công nhân dưới chế độ tư bản, do đó C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp
công nhân là giai cấp vô sản.

to lớn. Bên cạnh lực lượng công nhân truyền thống, xuất hiện công nhân trình độ
tự động hoá với việc áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào sản xuất. Bên cạnh
những ngành công nghiệp truyền thống, xuất hiện công nhân hoạt động ở lĩnh vực
dịch vụ. Thực tế, ở các nước tư bản, công nhân trong các ngành dịch vụ này chiếm
50% đến 70% lao động.Tuy nhiên, điều này không hề làm giảm vai trò của giai
cấp công nhân trong nền kinh tế và ngay cả tỷ trọng của giai cấp công nhân trong
dân cư. Bởi vì những người làm thuê trong các ngành dịch vụ gắn liền với công
nghiệp và hoạt động theo lối công nghiệp vẫn là công nhân xét cả trên hai thuộc
tính về giai cấp công nhân. Mặt khác, bên cạnh trình độ thấp của giai cấp công
nhân truyền thống đã xuất công nhân có trình độ cao, có xu hướng “tri thức hoá”
và cũng ngày càng tiếp thu thêm đông đảo những người thuộc tầng lớp trí thức vào
hàng ngũ của mình. Mặc dù vậy, bản chất về giai cấp công nhân cũng không hề
Trang 5
thay đổi. Nếu trước kia, công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay,
họ bán cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, giá trị ngày càng lớn và do đó
càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu. Giai cấp công nhân bắt đầu có sự
thay đổi về tài sản. Phần lớn, họ không còn là những người vô sản trần trụi với hai
bàn tay trắng, mà họ đã có một số tư liệu sản xuất phụ có thể cùng gia đình làm
thêm; một số công nhân đã có cổ phần, cổ phiếu ở xí nghiệp. Tuy vậy nhưng nó
cũng không làm thay đổi toàn bộ lực lượng sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất
đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, họ vẫn bị bóc lột dưới những hình thức khác
nhau.
Giai cấp công nhân hiện nay không những trong lĩnh vực công nghiệp mà
trong mọi ngành nghề khác nhau, có trình độ sản xuất khác nhau của nền công
nghiệp hiện đại. Họ là những người trực tiếp đứng máy, không nằm trong dây
truyền sản xuất tự động, không kiểm tra hoạt động máy móc mà đó là những
chuyên gia trực tiếp chăm lo nghiên cứu, sáng chế để không ngừng cải tiến máy
móc nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, năng suất lao động. Họ là những người
hoạt động ở các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ cho sản xuất như bưu điện, viễn
thông, giao thông vận tải, Họ còn là những người lao động làm thuê trong các

chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp
hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các
quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội”.

II. Nội dung và điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân
1. Nội dung
Lịch sử phát triển của thế giới chính là lịch sử phát triển của các hình thái
kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Trong xã hội có giai cấp, để giải quyết mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất
cũ, giữa giai cấp thống trị với giai cấp lao động phải phát triển từ hình thái kinh tế
xã hội thấp đến cao.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân lao
động: là người sáng tạo chân chính ra lịch sử; là người có vai trò quyết định sáng
Trang 7
tạo công cụ sản xuất, giá trị thặng dư, chính trị xã hội. Khi trong xã hội còn tồn tại
giai cấp bóc lột trong một phương thức sản xuất với điều kiện phương thức sản
xuất đó còn giữ vị trí tiên tiến, do đó phải đảm bảo quy luật lịch sử.
Trong sự chuyển biến của hình thái kinh tế trong xã hội, là giai cấp trung
tâm, có nhiệm vụ phải thoả mãn các điều kiện như: là giai cấp đại diện cho một
phương thức sản xuất tiên tiến; là giai cấp có hệ tư tưởng độc lập; giai cấp này phải
tiến hành thuyết phục tập hợp và tổ chức quần chúng làm cách mạng. Và hai
nhiệm vụ quan trọng là: tiến hành xoá bỏ chế độ xã hội cũ; xây dựng hình thái kinh
tế xã hội mới tiến bộ hơn.
Khi nghiên cứu về các giai cấp, tầng lớp trong hình thái kinh tế xã hội chủ
nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra các kết luận:
Một là: giai cấp tư sản trong chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sản
xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn, với lực lượng sản xuất bằng tất cả các xã hội trước để
lại, tạo ra năng xuất lao động cao hơn nhiều. Do đó giai cấp tư sản đã từng đóng

cấp công nhân, thoả mãn nhu cầu ngày càng đầy đủ hơn: làm theo năng lực, h-
ưởng theo nhu cầu. Do đó nó cần phải được thực hiện một cách lâu dài, gian khổ,
trải qua từng bước cụ thể. Xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất; xây
dựng chế độ công hữu là quá trình phù hợp nhưng phải dần dần từ từ.
Tại sao phải xoá bỏ chế độ tư hữu? Sở dĩ như vậy vì đây là cơ sở của chế độ
người bóc lột người; biểu hiện cao nhất của chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản
xuất là sở hữu tư bản chủ nghĩa do đó phải xoá bỏ chế độ tư hữu; sau khi xoá bỏ
chế độ tư hữu thì mới thiết lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất, phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, phù hợp với yêu cầu sản xuất; đây cũng là cơ
sở kinh tế cho sự tồn tại chế độ xã hội mới vì thế cũng rất cần phải xoá bỏ chế độ t-
ư hữu này. Chính C.Mác đã nói: ”những người cộng sản có thể tóm tắt lực lượng
của mình bằng một công thức là xoá bỏ chế độ tư hữu”.
Trong lĩnh vực chính trị: giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp thống trị
trong xã hội. Đó là phải đập tan chính quyền tư sản; xây dựng chính quyền nhà n-
ước(nền chuyên chính vô sản): thực chất là để đảm bảo quyền lực chính trị thuộc
về nhân dân, giữ vai trò quan trọng là công cụ xây dựng xã hội mới, là kiểu nhà
nước: nhà nước nửa nhà nước và nhà nước tự tiêu vong.
Trong lĩnh vực xã hội đó là: phải tiến hành xoá bỏ giai cấp bóc lột; phải tiến
hành xoá bỏ giai cấp nói chung, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với
Trang 9
người. Ở đây xoá bỏ giai cấp bóc lột với tư cách là giai cấp chứ không xoá bỏ các
cá nhân vì họ có thể là những cá nhân có ích trong xã hội mới.
Có thể nói nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm bốn sự
nghiệp. Đó là sự nghiệp giải phóng giai cấp; sự nghiệp giải phóng xã hội, dân tộc;
sự nghiệp giải phóng người lao động; và sự nghiệp giải phóng con người. Đây
chính là nấc thang phát triển trong sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội. Sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải được thực hiện trên toàn thế giới.Và để
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một quá trình lâu dài, gian
khổ, phức tạp, nên những người cộng sản phải kiên trì, không nóng vội, nó phải đ-
ợc tiến hành hai giai đoạn: tập trung lực lượng để giành chính quyền và tập trung

Về ngoại giao, phát triển quan hệ song phương, đặt vấn đề dân tộc và lợi ích là trên
hết Vì vậy đường lối đặt ra phải phù hợp với quy luật khách quan, hợp lòng dân,
chống thù trong giặc ngoài và mọi âm mưu diễn biến hoà bình của đế quốc.
2. Những điều kiện khách quan
Học thuyết C.Mác và Ph.Ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân là luận chứng khoa học về địa vị kinh tế xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp
công nhân, về mục tiêu và con đường để giai cấp đó hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình. Học thuyết đã chứng minh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được
quy định bởi những điều kiện kinh tế, xã hội khách quan.
a.Về địa vị kinh tế xã hội:
Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa, nó ra đời và phát triển cùng với sự hình thành phát triển
của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, được nền sản xuất công nghiệp hiện đại
rèn rũa tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Đại công nghiệp càng
phát triển, tập trung làm phá sản những người sản xuất hàng hoá nhỏ, bổ xung lực
lượng cho giai cấp công nhân. Mặt khác, đại công nghiệp phát triển tiếp tục bổ
xung lực lượng cho giai cấp công nhân, thu hút lực lượng lao động từ nhiều ngành,
nhiều nghề khác nhau tạo nên tập đoàn hùng mạnh. Bản thân sự phát triển nền đại
công nghiệp cũng yêu cầu cao với từng người lao động, tập thể lao động về tác
phong lao động, kỷ luật lao động…
Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất
trong các bộ phận tiêu biểu cấu thành của lực lượng sản xuất của xã hội tư bản. Họ
đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất với trình độ xã hội hoá ngày càng
Trang 11
cao. Nhưng chủ nghĩa tư bản lại được xây dựng trên nền tảng của chế độ chiếm
hữu tư nhân về tư lệu sản xuất mà giai cấp tư sản là đại diện. Bởi thế, ở phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
có tính chất xã hội hoá ngày càng cao (mà giai cấp công nhân là đại diện) với quan
hệ sản xuất có tính chất chiếm hữu tư nhân (mà giai cấp tư sản là đại diện). Đây là
mâu thuẫn cơ bản vốn có và không thể khắc phục được nếu không xoá bỏ đợc chế

nhau do bị bóc lột giá trị thặng dư; cùng tồn tại trong một môi trường sản xuất nh
nhau có tính chất công nghiệp thậm chí dịch vụ; có cùng tư bản trong nước và
quốc tế bóc lột; có cùng mục tiêu, sứ mệnh lịch sử tiêu diệt tư sản, xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
b.Về đặc điểm chính trị, xã hội:
Do những đặc điểm về kinh tế chính trị xã hội của giai cấp công nhân: từ
địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân, điều đó cũng quy định những đặc
điểm xã hội chính trị của giai cấp công nhân, do vậy giai cấp công nhân có vai trò
sứ mệnh cao cả. Những đặc điểm đó là:
Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất: Giai cấp công nhân là đại diện
cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa– phương thức sản xuất tiên tiến nhất và
là lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá cao.
Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng
cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ
bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân
dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành
lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc
xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội
chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, tính triệt để đó
được thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế xã hội: Về kinh tế, lợi ích của giai cấp
công nhân đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản, họ là những người không có tư
liệu sản xuất, làm thuê cho các nhà tư bản và bị áp bức bóc lột nặng nề. Vì thế, họ
phải đứng thực hiện cuộc cách mạng vô sản thành công, đa họ từ địa vị của người
làm thuê trở thành người làm chủ bản thân, và làm chủ xã hội. Về xã hội, khi làm
Trang 13
cách mạng, giai cấp công nhân đa cách mạng đến thành công, đập tan nhà nước tư
sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản – nhà nước của giai cấp vô sản. Tính
triệt để cách mạng của giai cấp công nhân còn được thể hiện ở chỗ nó được vũ
trang bởi hệ tư tưởng tiên tiến là học thuyết Mác – Lênin được đội ngũ tiên phong

lại đang phủ nhận thuyết Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Theo họ giai cấp công nhân ngày càng “teo đi“, đã “tan biến” vào các giai cấp,
tầng lớp xã hội khác: địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân đã thay đổi
nhiều, phần đông trong giai cấp này đã trung lưu hoá…Nhưng thực tế đã chứng
minh đó là ý kiến hoàn toàn sai lầm, vì giai cấp công nhân hiện nay có sự biến đổi
về số lượng, dịch chuyển vào các giai cấp khác, nhưng chất lượng không thay đổi.
Quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa dù có hiện đại hoá đến đâu, những hình
thức của nó có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn không ngừng tái sinh ra
quan hệ tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lòng
chế độ tư bản chủ nghĩa đang diễn ra hết sức gay gắt. Giai cấp tư sản đã và đang
tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệ tư bản chủ nghĩa nhằm cứu vãn chế độ
thống trị của chúng. Chúng có thể đạt được một số thành tựu và kết quả nào đấy
nhưng vẫn không sao khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản. Dù nơi
này hay nơi khác, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn có khả năng phát triển, nhưng
phải thường xuyên đương đầu với các cuộc khủng hoảng nặng nề, với nhiều cơn
suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyên không tránh khỏi của hàng chục triệu
người. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những
thử thách nặng nề, nhưng bức tranh toàn cảnh của sự phát triển lực lượng sản xuất
thế giới vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho giai cấp công nhân thực
hiện sứ mệnh lịch sử của mình dù có trải qua những bước thăng trầm, quanh co,
nhng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử.
Thứ ba, hiện nay, giai cấp công nhân đã, đang và sẽ phấn đấu trở thành lực l-
ượng lãnh đạo xã hội, nắm quyền lực nhà nước bằng nhiều con đường khác nhau.
Bởi lẽ đây là lực lượng duy nhất đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho ph-
ương thức sản xuất tiên tiến. Giai cấp công nhân là người đại diện cho lợi ích và
quyền lực của nhân dân, của nhân loại tiến bộ.
Trang 15
Thứ tư, phải chăng, hiện nay trong các nước tư bản phát triển, giai cấp công
nhân không còn bị bóc lột như trước, đã “trung lưu hoá” và có cổ phần trong xí

thuê nhưng được giai cấp tư sản đào tạo và một bộ phận đợc ưu đãi.Trí thức không
phải là tầng lớp có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân. Thực tế
lịch sử cho thấy cha bao giờ có tầng lớp trí thức nào có thể thay thế một giai cấp để
lãnh đạo cách mạng.Trí thức bao giờ cũng là trí thức của một giai cấp nhất định và
thường là của giai cấp thống trị xã hội.
Từ sự phân tích về địa vị kinh tế xã hội và những đặc điểm xã hội chính trị
của giai cấp công nhân, chính đó là những cơ sở khách quan để khẳng định giai
cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là đấu tranh để thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa
và từng bớc xây dựng thành công xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và chủ
nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, giai cấp công nhân phải tự tổ chức ra
chính Đảng của mình, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập chuyên
chính vô sản, thực hiện quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới – xã hội
xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
III. Vai trò của Đảng cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Đảng cộng sản là nhân
tố quyết định trước tiên.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản, trải qua nhiều
giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác. Yếu tố có ý nghĩa quyết định sự
chuyển biến về chất là sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân.
Sự thâm nhập đó dẫn đến sự hình thành chính Đảng của giai cấp công nhân. Sau
khi ra đời, Đảng cộng sản với vai trò là người tiếp tục sự nghiệp kết hợp chủ nghĩa
Mác với phong trào công nhân trên quy mô lớn hơn nhằm giành thắng lợi trong
cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chỉ khi nào giai cấp công nhân tự
tổ chức ra chính Đảng của mình để lãnh đạo thì cuộc đấu tranh mới có thể đảm bảo
giành được thắng lợi trọn vẹn.
Đảng cộng sản là bộ phận không thể tách rời của giai cấp công nhân.Mục
đích và lợi ích của Đảng và của giai cấp công nhân là thống nhất. Không có Đảng

cách mạng tiến hành tất cả cuộc cách mạng xã hội, mang tính chất toàn diện, triệt
để, lâu dài. Thể hiện: xoá bỏ tận gốc chế độ người bóc lột ngời, xoá bỏ phân chia
giai cấp áp bức giai cấp và bóc lột giai cấp; vì được tiến hành trên tất cả các lĩnh
vực xã hội từ cơ sở hạ tầng tới kiến trúc thượng tầng, từ sinh hoạt vật chất đế sinh
hoạt tinh thần, nên đây là cuộc cách mạng lôi cuốn đợc đông đảo quần chúng nhân
dân, đem lại quyền lợi cho số đông nhân dân lao động, như Lênin đã từng nói:
”cách mạng xã hội chủ nghĩa là ngày hội quần chúng”; đây là cuộc cách mạng
mang tính chất lâu dài, gian khổ và phức tạp vì nó mới và chưa có trong lịch sử, do
đó phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, vừa bổ xung…
C.Mác và Ph.Ăngghen coi cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình liên
tục và nhấn mạnh quá trình liên tục, nhưng được chia làm hai giai đoạn: giành
chính quyền và chuyển lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai ông đã đặt hy vọng
nhiều vào điều kiện nổ ra của cách mạng xã hội chủ nghĩa: nổ ra ở những nước tư
bản phát triển và thắng lợi đồng loạt ở các nớc tư bản phát triển. Với những nước
chậm phát triển theo C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu về vấn đề này coi đó là
một bộ phận của cách mạng vô sản. Nếu cách mạng xã hội nổ ra ở những nước này
thì giai cấp công nhân cần làm : phải biết kết hợp giữa phong trào công nhân với
phong trào nông dân, đồng thời kết hợp với lực lượng tư sản để chống phong kiến
(tức là lật đổ hình thái kinh tế xã hội cũ và thay thế vào đó là hình thái kinh tế xã
hội mới cao hơn) bằng đấu tranh giai cấp hay cách mạng xã hội chủ nghĩa; trong
khi kết hợp tư sản đánh phong kiến, giai cấp công nhân phải ủng hộ mọi phong
trào dân chủ, đồng thời độc lập về mặt đường lối, phải hớng tới mục tiêu xã hội
chủ nghĩa; giai cấp công nhân phải lôi kéo được lực lượng và phát triển lực lượng;
Trang 19
trong khi đi với giai cấp tư sản đánh chế độ phong kiến, giai cấp công nhân phải
độc lập đường lối, chỉ có thể liên minh tạm thời với giai cấp phong kiến.
Còn với Lênin, ông đã phân tích điều kiện cụ thể nước Nga và đa ra quan
điểm phát triển tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen. Những quan điểm đó là:
Thứ nhất:cách mạng dân chủ tư sản phải do giai cấp công nhân lãnh đạo do
giai cấp công nhân vì yếu tố thời đại chi phối như giai cấp tư sản đã mất vai trò

mặt tinh thần.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đấu tranh xoá bỏ xã hội tư bản
và từng bớc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản trên
phạm vi toàn thế giới. Quá trình đó chỉ được thực hiện thông qua cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa và cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử vì: nguyên
nhân sâu xa dẫn đến cách mạng xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn vốn có trong lòng
xã hội tư bản, đó là mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất đến trình
độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu
sản xuất, mà quan hệ sản xuất này đã trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Biểu hiện về mặt chính trị xã hội của mâu thuẫn cơ bản đó là
mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản- đây là mâu thuẫn đối kháng
và không thể điều hòa, mâu thuẫn này trực tiếp dẫn đế cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì một mặt
những mâu thuẫn trên phát triển càng gay gắt, đồng thời xuất hiện thêm những
mâu thuẫn mới đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộc địa,
phụ thuộc, giữa đế quốc với đế quốc. Tất cả những mâu thuẫn đó càng đẩy nhanh
tới sự chín muồi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đã chỉ rõ: “chủ nghĩâ đế
quốc là đêm trước, là phòng chờ của cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên cách
mạng xã hội chủ nghĩa không phải diễn ra một cách tự phát, mà nó là kết quả của
quá trình đấu tranh giai cấp lâu dài, gian khổ của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động chống lại sự thống trị của giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ
diễn ra ở những nơi có tình thế cách mạng. Tình thế cách mạng là biểu hiện của sự
chín muồi của những điều kiện khách quan. Có tình thế cách mạng vẫn chưa đủ mà
cần phải có những nhân tố chủ quan, bao gồm sự lãnh đạo của Đảng tiên phong và
tinh thần, hành động cách mạng của quần chúng. Nh vậy, đỉnh điểm của sự chín
muồi của những nhân tố khách quan và chủ quan sẽ đưa đến thời cơ cách mạng.
Trang 21
Giai cáp công nhân thông qua Đảng tiên phong của mình chọn đúng thời cơ phát
động quần chúng đứng lên dùng bao lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của giai

công nhân cần không ngừng giác ngộ lý luận cách mạng, nâng cao cảnh giác trong
mọi tình huống; đồng thời cần tổ chức các công tác đối nội và đối ngoại một cách
hợp lý, vừa mở rộng quan hệ quốc tế, vừa giao lưu với các tinh hoa văn hoá nhân
loại phục vụ xây dựng xã hội mới. Giai cấp công nhân cũng phải có sự đoàn kết
nhất trí cao trong quá trình lãnh đạo của mình, tạo sự thống nhất giữa các giai cấp
trong xã hội. Bên cạnh đó, giai cấp công nhân cũng cần phải khắc phục mọi khó
khăn trong mọi tình hình, không ngừng nâng cao năng lực cả về chuyên môn lẫn
văn hoá xã hội.

Trang 23
CHƯƠNG II. LUẬN CỨ THỰC TIỄN
Để minh chứng cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, ta sẽ xét trên
tình hình thực tế của nước ta.
Gia cấp công nhân Việt Nam là một trong những bộ phận của giai cấp công
nhân quốc tế, nhưng do điều kiện ra đời và hoàn cảnh lịch sử nước ta nên nó còn
mang những đặc điểm riêng. Đó là:
Thứ nhất: giai cấp công nhân Việt Nam còn non trẻ, ra đời từ những năm đầu
của thế kỷ XX ở một nước nửa thuộc địa phong kiến. Đó là giai cấp thuần nhất về
tư tưởng, sớm tập trung về lực lợng, không có tầng lớp công nhân quý tộc, sớm tổ
chức được chính Đảng của mình. Giai cấp công nhân Việt Nam đợc kế thừa truyền
thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, hơn nữa nó lại bị ba tầng áp bức nặng nề
nên có tinh thần cách mạng.
Thứ hai: giai cấp công nhân Việt Nam có mối liên hệ khăng khít, thường
xuyên, chặt chẽ với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức.
Thứ ba: giai cấp công nhân Việt Nam sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng tháng
Mười Nga của chủ nghĩa Mác- Lênin, không bị chi phối bởi chủ nghĩa cơ hội, sớm
gắn bó với phong trào công nhân Quốc tế.
Những đặc điểm trên đây của giai cấp công nhân Việt Nam đã có ảnh hưởng
to lớn tới việc thực hiện sứ mệnh lịch sử to lớn của nó. Bởi vì:
Do đặc điểm tập trung, sớm thống nhất cả về tư tưởng, tổ chức, sớm tổ chức

đất nước, công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước và thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Điều đó đòi hỏi giai cấp công nhân
Việt Nam cần khắc phục nhanh chóng những hạn chế của mình, phát triển giai cấp
công nhân cả về số lượng, chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ tư duy, trình
độ tổ chức hoạt động thực tiễn… chỉ có như vậy mới đáp ứng đợc đòi hỏi của thực
tiễn, mới hoàn thành đợc sứ mệnh đối với dân tộc.
Với những đặc điểm như trên nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Việt Nam cũng có những nội dung khác so với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status