1
Quản Lý Đất Ngập Nước
******
DỰ ÁN KIỂM SOÁT BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN THỦY.......2
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM
........................................................................................................................................................6
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở HUYỆN TÂN
PHƯỚC, TIỀN GIANG .............................................................................................................12
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở
LÁNG SEN THUỘC ĐỒNG THÁP MƯỜI, TỈNH LONG AN............................................... 18
ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MUỖI ĐỐI VỚI CƯ DÂN Ở QUANH
KHU BẢO TỒN TRÀM CHIM VÀ LÁNG SEN..................................................................... 29
ĐÁNH GÍA TÌNH HÌNH SỨC KHOẺ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VÙNG DỰ ÁN......... 36
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG HỔ TR QUẢN LÝ DỰA TRÊN SỰ QUẢN LÝ HỆ SINH
THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC VÙNG NHIỆT ĐỚI ...................................................................... 55
KẾT QUẢ QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐẤT NGẬP NƯỚC LUNG NGỌC HOÀNG TỈNH CẦN
THƠ ............................................................................................................................................. 64
NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA VIỆC QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN Ở
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN U MINH THƯNG............................................................ 70
TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TỰ NHIÊN Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG..................................................................................................................... 77
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CÁC DỰ ÁN LIÊN QUAN HỆ SINH THÁI ĐẤT
NGẬP NƯỚC.............................................................................................................................. 82
VIỆC BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ NHỮNG VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM-
NHỮNG KINH NGHIỆM VÀ TRIỂN VỌNG TỪ IUCN.......................................................90
2 DỰ ÁN KIỂM SOÁT BẢO TỒN
®Ị cư 12.000 ha cđa vïng nµy trë thµnh khu Ramsar ®Çu tiªn cđa c¶ n−íc theo C«ng −íc vỊ
§Êt ngËp n−íc (C«ng −íc Ramsar). Th¸ng Mét n¨m 1995, 5.640 ha cđa vïng nµy ®· ®−ỵc
qut ®Þnh thµnh lËp khu b¶o tån thiªn nhiªn. Vïng cã ranh giíi phÝa B¾c lµ cưa Ba L¹t
(mét cưa chÝnh cđa s«ng Hång) vµ phÝa T©y lµ s«ng Väp. Ranh giíi phÝa Nam vµ phÝa
§«ng cđa khu b¶o tån kh«ng thËt sù râ rµng do ®©y lµ c¸c vïng b·i ngËp triỊu. Khu b¶o
tån thiªn nhiªn bao gåm hai cån lín lµ cån Ng¹n vµ cån Lu, vµ mét vµi cån c¸t nhá h¬n.
Khu B¶o tån Thiªn nhiªn Xu©n Thđy cã ®é ®a d¹ng sinh häc c¸c loµi chim rÊt cao.
NhiỊu loµi chim n−íc ®Õn tró ®«ng ë vïng, vµ rÊt nhiỊu loµi chim ven biĨn sư dơng vïng
nµy lµ ®iĨm dõng ch©n trong c¸c chun di c− mïa xu©n vµ mïa thu. Cã 9 loµi ®ang hc
s¾p bÞ ®e däa tut chđng trªn toµn cÇu cã c− tró ®Ịu ®Ỉn t¹i ®©y lµ: Cß th×a mỈt ®en
Platalea minor (Nguy cÊp - EN), Cß tr¾ng Trung Qc Egretta eulophotes (EN), Cho¾t lín
má vµng Tringa guttifer (EN), Mßng bĨ má ng¾n Larus saundersi (EN), Chµng bÌ ch©n
x¸m Pelecanus philippensis (S¾p Nguy cÊp -VU), RÏ má th×a Calidris pygmeus (VU),
Giang sen Mycteria leucocephala (GÇn bÞ ®e däa - NT), Cho¾t ch©n mµng lín
Limnodromus semipalmatus (NT) vµ Te vµng Vanellus cinereus (NT). §©y lµ n¬i ghi nhËn
3
sự có mặt của khoảng 26% tổng số quần thể toàn cầu của loài Cò thìa mặt đen (vào thời
điểm cao nhất) và 2% ớc tính tổng số quần thể toàn cầu của loài Mòng bể mỏ ngắn.
Các kiểu sinh cảnh đại diện tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Thủy hiện đang
đợc quản lý theo những phơng pháp có thể đe dọa làm suy giảm các giá trị đối với bảo
tồn đa dạng sinh học. Khu bảo tồn có khoảng 800 ha diện tích rừng ngập mặn (u thế là
trang Kandelia candel) phần lớn phân bố lẫn trong các ao nuôi trồng thủy sản. Tại các ao
đầm đó, việc nuôi trồng thủy sản đợc tiến hành theo các phơng pháp truyền thống nuôi
hỗn canh cả cua, tôm và cá. Tuy nhiên, việc canh tác này đang trở nên thâm canh qua mức
dẫn đến làm ngăn chặn sự tái phát triển của thảm thực vật. Hơn nữa, các đảo cát nằm trong
khu bảo tồn, nơi có thảm thực vật cồn cát và thực vật vùng nớc mặn đang đợc trồng rừng
bằng phi lao Casuarina equisetifolia, một loài cây có nguồn gốc ngoại lai, điều này cũng
sẽ làm suy giảm diện tích của các sinh cảnh tự nhiên. Do kết quả của sự lắng đọng trầm
tích, bờ biển của khu bảo tồn đang bồi lấn dần ra biển, hàng loạt các đảo và bãi bồi đang
với cò thìa ngày càng bị thu hẹp, trong khi việc bắt cua cáy và các loài nhuyễn thể luôn gây
ra sự nhiễu loạn khắp nơi trong vùng. Số lợng chó nuôi quá lớn tại đây cũng góp phần gây
nhiễu loạn tại các ao thủy sản.
Do đó, điều rất cần thiết nhất trong lúc này là phải xem xét lại kế hoạch trồng rừng
ngập mặn tại các bãi bùn. Tiền đầu t cho kế hoạch này có thể đợc đợc sử dụng để mang
4
lại nhiều lợi ích trực tiếp đối với ngời dân hơn là qua việc phá hủy các bãi ngập triều rất
có giá trị.
Dự án KNCF/BirdLife tại Xuân Thủy
Xuân Thủy tuy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam nhng nguồn vốn đầu
t cho khu vực rất hạn chế, các cán bộ ít đợc đào tạo, cơ sở vật chất hạ tầng kém và
rất thiếu thốn về trang thiết bị. Do những khó khăn nh vậy, các cán bộ quản lý ở
Xuân Thủy cha đủ khả năng để hoạch định và thực hiện quản lý đất ngập nớc hiệu
quả. Kết quả của những khó khăn trên là các sinh cảnh quan trọng đang bị xuống
cấp do các hoạt động không phù hợp với công tác bảo tồn đa dạng sinh học nh thâm
canh nuôi trồng thủy sản do sức ép của thị trờng, việc đánh bắt thủy sản và khai
thác nghêu, sò không bền vững ở các bãi ngập triều, do mật độ dân số quá cao và
thiếu đất canh tác nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ. Các quá trình này đang đe dọa
sự toàn vẹn của vùng và, do đó, một yêu cầu cấp bách phải đợc đặt ra là hệ thống
hóa và thực hiện các biện pháp quản lý để thúc đẩy việc khai thác bền vững các tài
nguyên thiên nhiên của vùng theo cách phù hợp với các mục tiêu bảo tồn đa dạng
sinh học.
Tổ chức BirdLife Quốc tế tin tởng rằng các loài chim có thể sử dụng để kiểm soát
những thay đổi về chất lợng môi trờng và các thông tin đó sẽ có thể đợc sử dụng để
hớng dẫn và phát triển các phơng pháp quản lý bảo tồn thích hợp. Do đó, BirdLife đã
tiến hành kêu gọi nguồn vốn từ Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Keidanren (KNCF) - Nhật Bản,
để xây dựng một dự án có tên gọi "Kiểm soát bảo tồn tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân
Thủy", dự án nhằm:
hỗ trợ các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy việc bảo tồn tính đa
1994 1996 1998 2000
Năm
Số lợng
Tsengwan, Đài Loan
Mai Pồ, Hồng Kông
Xuân Thủy, Việt Nam
Số lợng Cò thìa mặt đen tại 3 điểm trú đông chính theo
con số điều tra quốc tế
5 Các mục tiêu này sẽ đợc thực hiện thông qua việc thiết lập một chơng trình kiểm
soát loài có khả năng cung cấp các dữ liệu để định hớng công tác quản lý khu bảo tồn. Dự
án cũng đợc thiết kế để đảm bảo tăng cờng thể chế và xây dựng năng lực cho các cán bộ
khu bảo tồn thông qua cung cấp trang thiết bị và đào tạo. Dự án sẽ đợc thực hiện qua một
giai đoạn hai năm, từ tháng Mời năm 2000 đến tháng Ba năm 2002 và sẽ bao gồm các
hoạt động sau:
1. Cung cấp trang thiết bị và cơ sở hạ tầng thiết yếu (hoạt động 1)
2. Đào tạo cho cán bộ khu bảo tồn (hoạt động 2); và
3. Thiết lập một chơng trình nghiên cứu và kiểm soát sinh thái (hoạt động 3)
Chơng trình kiểm soát tập trung vào hai loài là Cò thìa mặt đen và Moòng bể mỏ
ngắn Larus saundersi đã bắt đầu đợc tiến hành với sự tham gia tích cực của các cán bộ
khu bảo tồn. Cùng với công tác tuần tra thờng xuyên cũng nh tham gia với các chuyến
điều tra với sự hớng dẫn của các chuyên gia từ BirdLife, anh em đã tiến hành đếm, ghi
nhận và báo cáo số lợng của Cò thìa và một số loài chim ăn ven biển khác. Qua đó, nhận
thức cán bộ khu bảo tồn về ý nghĩa của việc bảo tồn sinh cảnh đối với các loài chim đã
đợc nâng cao. Cùng với các hoạt động dự án, việc giải thích về nguyên nhân tăng giảm số
lợng của các loài chim nớc tại khu bảo tồn sẽ dần dần đợc diễn giải, và ban quản lý
Ở VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM
Nguyễn Văn Lũ
Vườn Quốc Gia Tràm Chim
I. Giới Thiệu
Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm ở hạ lưu sông Mêkông và Trung tâm Đồng
Tháp Mười thuộc huyện Tam Nông, giáp 05 xã Phú Hiệp, Phú Đức, Phú Thành B, Phú
Thọ, Tân Công Sính và thò trấn Tràm Chim – tỉnh Đồng Tháp. Vườn Quốc gia Tràm
Chim ở vào khoảng 10
0
37’đến 10
0
45’ độ vó bắc; 105
o
28’ đến 105
0
36’ độ kinh đông.
Cách sông Mêkông 25 km về phía tây; gần biên giới Việt Nam – Campuchia.
Tổng diện tích tự nhiên là: 7588 ha. Trong đó:
• Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 6.809ha.
• Phân khu phục hồi sinh thái: 653 ha.
• Phân khu hành chánh dòch vụ - du lòch: 46ha.
Vườn Quốc gia Tràm Chim có hệ sinh thái đất ngập nước điểm hình của vùng hạ
lưu sông Mêkông và vùng Đông Nam Á, một hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học và
được Chính phủ công nhận là Vườn quốc gia theo quyết đònh số 253/TTg, ngày
29/12/1998.
II. Tài Nguyên Của Vườn Quốc Gia Tràm Chim
2.1. Thực vật
Có hơn 130 loài thực vật bản đòa với 06 kiểu quần xã thực vật đặc trưng:
• Quần xã sen
• Quần xã lúa ma
Quanh Vườn Quốc Gia Tràm Chim
Tổng số dân thuộc 5 xã và thò trấn sống xung quanh vùng đệm là: 39.376 người,
bao gồm 7950 hộ. So với số dân toàn huyện Tam Nông là: 92.621 người, chiếm 42,5%.
Trong đó:
• Hộ nghèo, khó chiếm 20%.
• Hộ không có việc làm hoặc đời sống không ổn đònh chiếm 18%.
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên khoảng 1,6% làm cho tình trạng nghèo đói gia
tăng do:
• Dư thừa lao động.
• Thiếu vốn sản xuất.
• Người dân càng có ít công ăn việc làm.
• Nhận thức kém.
• Nguồn tài nguyên thiên nhiên như: nguồn lợi thuỷ sản bò cạn kiệt (do
đánh bắt vô tội vạ), rừng tràm bò đốn …
Trước đây, từ năm 1999 trở về trước, hàng ngày có từ 100 - 150 người xâm phạm
trái phép vào Vườn Quốc gia. Tổng số đối tượng vi phạm bò bắt quả tang là 500 đương
sự.
Trong những năm gần đây, nhà nước và chính quyền các cấp, các tổ chức phi
chính phủ…, rất quan tâm hỗ trợ, đầu tư cho vay vốn sản xuất, chăn nuôi… Nhiều hộ
đã tổ chức sản xuất đạt hiệu quả, nâng cao thu nhập và đời sống từng bước được cải
thiện.
8
Mặt khác do dự án vùng đệm của Vườn Quốc gia chưa có nguồn đầu tư phát
triển được nên người dân dựa vào tài nguyên của Vườn mà xâm phạm. Thống kê năm
2000 cho thấy có 550 vụ vào vườn trái phép:
• Xử phạt hành chánh 15 vụ.
• Cảnh cáo 13 vụ.
• Khởi tố 04 vụ.
• Số còn lại giao chính quyền đòa phương giáo dục.
.
Hàng năm cán bộ chuyên môn cùng với nhân viên bảo vệ tiến hành giám sát,
quản lý và thống kê chim nước Vườn Quốc gia như sau:
Đối với cán bộ chuyên môn:
9
• Quản lý, theo dõi tập tính sinh trưởng, sinh sản các loài chim.
• Tổ chức, hướng dẫn, tổng hợp và điều tra tất cả các loài chim đang sinh
sống ở Tràm Chim.
• Cuối tháng thống kê một lần và báo cáo các ngành hữu quan.
Đối với nhân viên bảo vệ:
• Cùng cán bộ kỹ thuật thống kê một số loài chim hàng ngày như: Sếu, già
đẩy, cò trắng, giang sen, điên điển, còng cọc, nhạn, ô tác (công đất), diệc
(lửa, xám).
Đối với chim nước sinh sống ngoài Vườn Quốc gia:
- Điều tra các bãi ăn khác của chim nước, đặc biệt là sếu cổ trụi, công đất tại
các điểm ngoài Vườn Quốc gia Tràm Chim như: Kiên Giang, Long An…
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
- Thời gian điều tra từ tháng 1 đến tháng 12 hàng năm sẽ có khoảng 12 đợt đi
điều tra.
- Báo cáo kết quả sau mỗi đợt điều tra.
4.2.2. Các loài động vật thuộc 2 lớp bò sát và lưỡng cư như: rắn, ếch, nhái, rái cá…
- Bước đầu tìm hiểu về tính đa dạng loài sinh cảnh, chức năng của các loài bò
sát và lưỡng cư trong hệ sinh thái.
- Thu thập số liệu khảo sát, thu mẫu cá thể điển hình của các loài tiếp cận cố
đònh mẫu formol trong lọ thuỷ tinh, bằng hình ảnh.
4.2.3. Tài nguyên thuỷ sản:
Quản lý nguồn tài nguyên thuỷ sản nhằm mục tiêu:
- Hàng năm Vườn Quốc gia đều tổ chức trồng rừng và cây phân tán ven các
tuyến đê bao (chương trình 5 triệu ha rừng).
- Xây dựng được lực lượng phòng chống cháy rừng các xã, thò trấn được 180
người, thường xuyên tập huấn hàng năm.
- Vệ sinh rừng, chăm sóc tỉa thưa rừng.
- Đốt cỏ chủ động vào mùa khô (ở những điểm dễ cháy).
- Kết hợp với chính quyền đòa phương xây dựng kế hoạch tuần tra quản lý và
phối hợp thực hiện.
4.2.6. Công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao đời sống nhân dân.
Thường xuyên cử cán bộ chuyên trách kết hợp cùng các ngành chức năng tỉnh,
huyện, xã đi tập huấn trong nhân dân để mọi người hiểu được vai trò, chức năng của
Vườn Quốc gia trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Vườn Quốc gia Tràm Chim phối hợp cùng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ huyện Tam
Nông, trường Đại học Cần Thơ cho vay vốn ở hai xã: Phú Đức, Phú Hiệp, thực hiện mô
hình Lâm-Ngư do tổ chức Oxfam tài trợ (39.000USD).
Tổ chức nhân đạo của Pháp tài trợ cho Vườn Quốc gia 9.000.000 đồng để làm
tranh ảnh tuyên truyền.
Vườn Quốc gia Tràm Chim cùng với Hội các ngành sinh học Việt Nam và
chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ môi trường toàn cầu tổ chức chiến dòch
truyền thông môi trường cộng đồng kỷ niệm ngày lâm nghiệp Việt Nam 28-11 tại xã
Phú Đức.
Ngoài ra còn có sự tài trợ (500.000.000 đồng, vốn quay vòng) của Đại sứ quán
Anh, Đại sứ quán Đan Mạch cho nhân dân các xã Phú Thọ, xã Tân Công Sính… vay từ
năm 1996 đến nay.
4.2.7. Công tác nghiên cứu khoa học:
11
Đơn vò thường xuyên cử cán bộ theo dõi sự biến động của các loài thực vật như:
Sen, lúa trời, năn.. . Quản lý điều tiết nước để có giải pháp hữu hiệu phát triển và bảo
tồn các loài trên.
Sở Khoa Học - Công Nghệ và Môi trường Tiền Giang
I. Giới Thiệu
Huyện Tân Phước: là Huyện nằm phía Bắc trong vùng Đồng Tháp Mười của
Tỉnh Tiền Giang. Diện tích tự nhiên toàn Huyện 32.862ha, dân số năm 1999 là 50.974
người, mật độ bình quân 155 người/km
2
(so với Tỉnh 762người/km
2
thấp nhất trong
Tỉnh). Đặc điểm tự nhiên của Huyện đáng chú ý là:
Đất đai: chủ yếu là đất phèn, có 3 đơn vò đất chính:
• Đất phèn hiện tại tầng phèn nông: diện tích 20.150ha chiếm 61,31% diện
tích tự nhiên.
• Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn sâu và rất sâu: diện tích 9.897ha
chiếm tỷ lệ 30,11%.
• Đất phù sa xám nâu đã phát triển có tầng loang lỗ: 2.699ha chiếm 8,21%.
Nguồn nước, thuỷ văn:
• Nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt phụ thuộc vào chế độ nước của 2
sông: Sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây. Một đặc điểm quan trọng: Đây là
vùng giáp nước giữa 2 sông vì vậy việc lấy nước và tiêu thoát khó khăn
là vùng hiện tại chất lượng nước xấu nhất của cả vùng Đồng Tháp Mười.
Các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hầu hết nguồn nước có pH:
3,5-4 các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 khoảng 30% diện tích ở
phía Tây có pH: 4-5,5 có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.
• Lũ hàng năm gây ngập toàn bộ khu vực từ tháng 9 đến cuối tháng 11,
đỉnh lũ thường xuyên xuất hiện nửa cuối tháng 11. Mức ngập trung bình
mặt ruộng từ 0,5-2m, khu vực phía Bắc ngập sâu hơn phía nam.
Theo đònh nghóa về đất ngập nước theo Công ước Ram Sar (1971) có thể xem
toàn bộ đất Huyện Tân Phước (và cả Tỉnh Tiền Giang) là vùng đất ngập nước bao gồm
hệ thống kênh rạch, rừng Tràm, ruộng lúa, các trảng cỏ ngập nước theo mùa và đầm
Tuy nhiên, sự đa dạng này đã bò phá hoại và vẫn đang bò đe doạ bởi hàng loạt
các yếu tố như khai hoang, cải tạo đất nông nghiệp, ô nhiễm, cháy rừng, sử dụng đất
không phù hợp. . .Thực tế đáng suy nghó là việc khai thác cải tạo đất ở các Tỉnh Long
An, Đồng Tháp cho tăng trưởng kinh tế khá cao, nhưng riêng Tân Phước khai thác cải
tạo đất vừa qua cho hiệu quả và tăng trưởng kinh tế thấp (vì bất lợi của điều kiện tự
nhiên, nhất là nguồn nước).
Đối với hệ sinh thái Rừng Tràm (đầm lầy nội đòa): sau năm 1975 vùng Tân
Phước cây Tràm vẫn là cây chính với diện tích trên 13.000
ha
, còn lại là Bàng, Đưng,
Năng ngọt, Cỏ mồm và các loại cây khác (không có lúa). Rừng Tràm đã bò phá huỷ đến
1990 chỉ còn lại 875
ha
và khôi phục đến nay rất chậm: Diễn biến diện tích Rừng Tràm
từ 1990 – 2000 như sau:
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Diện tích 875 875 1.105 1.395 2.225 2.638 1.867 1.764 1.952 1.987 2.296
Đối với hệ sinh thái Nông nghiệp: đất nông nghiệp tăng nhanh, từ 11.562
ha
(35,18%) năm 1994 lên 24.079
ha
(73%) năm 2000. Trong đó đất ruộng lúa 9.886
ha
(30%), trồng cây lâu năm 9.900
ha
(30%). Kết quả sử dụng đất Nông nghiệp cho thấy
ngoài cây Khóm có tính thích nghi cao và kinh tế, còn lại các cây trồng khác cho hiệu
quả kém hoặc chưa khẳng đònh được như: Lúa, cây ăn quả, cây lương thực khác (mì,
• Về diện tích: phục hồi đến 2010 có 5.620ha rừng Tràm. Trong đó
4.320ha trồng tập trung gồm 1.700ha được xác đònh thuộc khu bảo tồn và
vùng đệm của Khu bảo tồn sinh thái do Nhà nước quản lý, 2.300ha Tràm
kinh doanh. Có 1.300ha Tràm trồng theo hệ thống nông-lâm kết hợp.
• Hiện nay trong đònh hướng chuyển đổi cơ cấu diện tích cây trồng 2001-
2005 của Chính phủ, trong đó dự kiến phục hồi 100.000ha rừng Tràm ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Dự kiến của Tiền Giang phát triển rừng
Tràm tăng thêm khoảng 4.000ha để đạt khoảng 10.000ha năm 2010.
• Cây Bạch đàn được trồng dọc theo các tuyến giao thông thuỷ lợi khỏang
1.500ha. Không phát triển mở rộng diện tích loại cây này. Sản lượng khai
thác, tỉa thưa năm 2010 khoảng 17.045m
3
gồ, và 40.382m
3
củi, trong đó
riêng gỗ Tràm là 7.100m
3
và củi 26.459m
3
.
15
• Giá trò sản xuất lâm nghiệp năm 2010 ước tính 16.081 triệu đồng tăng
bình quân 3,37% năm; giá trò tăng thêm năm 2010 khoảng 12.865 triệu
đồng tốc độ tăng bình quân 3,77% năm (giá so sánh cố đònh 1994).
• Nhu cầu đầu tư cho phát triển lâm nghiệp từ 2001-2005 là 31.498 triệu
đồng và giai đoạn 2006-2010 là 17.662 triệu đồng (chưa tính điều chỉnh
qui hoạch theo chính phủ tăng thêm 4.000 Tràm).
• Riêng trong 2 năm 2000 và 2001 Tỉnh đã tăng cường đầu tư cho phục hồi
bảo vệ rừng sinh thái: năm 2000 ngân sách Tỉnh đầu tư trồng 400ha, năm
của Ngân hàng rất ít.
16
Tăng đầu tư ngân sách Nhà nước cho cơ sở hạ tầng như: hệ thống kênh thuỷ lợi
để phân lô chống cháy rừng, điều tiết nước, quản lý chặt chẽ vùng đệm sinh thái, cải
thiện điều kiện giao thông, Y tế…
Tập trung giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ
nông dân (50 năm đối với đất rừng). Đây là vấn đề quan trọng để người dân an tâm sản
xuất, bảo vệ rừng (một nguyên nhân quan trọng gây cháy rừng nhiều trước đây là rừng
chung của Nhà nước không phát huy được vai trò bảo vệ của người dân).
Chú trọng hơn công tác nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, sử dụng và bảo vệ
tốt hơn vùng đất này như: Theo dõi đánh giá diễn biến chất lượng nước, giống thích
nghi (giống Tràm, cây ăn quả…); mô hình nuôi thuỷ sản mùa lũ trong điều kiện nước
phèn, kỹ thuật canh tác…
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phục hồi phát triển và khai thác
hợp lý rừng (kể cả du lòch sinh thái). Mong muốn hợp tác với các tổ chức Quốc tế để có
sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật.
VI. Các Vấn Đề Cần Thiết Để Quản Lý Bảo Vệ Vùng Đất Ngập Nước
- Cần tiếp tục nghiên cứu để có một chiến lược quản lý, Bảo vệ và khai thác
đất ngập nước ở Tiền Giang. Ngoài hệ sinh thái rừng Tràm nội đòa đặc trưng
ở Tân Phước, Tỉnh Tiền Giang còn có vùng cửa sông ven biển với 4 cửa sông
lớn: Sông Soi Rạp, sông Cửa Tiểu, sông Cửa Trung và Cửa Đại. Đây là vùng
có tính đa dạng sinh học cao nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long về rừng
ngập mặn và thuỷ hải sản vùng ven bờ cửa sông. Hơn 20 năm qua bãi bồi
vùng cửa sông tăng thêm hơn 1.000ha, khả năng phát triển rừng ngập mặn
lên đến 6.000ha. Trong khi đó rừng hiện trạng chỉ còn 1.270ha, nguồn lợi
thuỷ sản giảm súc nghiêm trọng (cả về giống loài, sản lượng khai thác), ô
nhiễm nước vùng ven biển cửa sông tăng nhiều, tranh chấp giữa khôi phục
bảo vệ rừng với nuôi thuỷ sản tăng thêm… Do vậy rất cần xây dựng một Dự
Tóm tắt
Láng Sen là một bồn trũng nội đòa vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An.
Với hình thái đòa mạo đa dạng và là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm
lầy ngập nước. Sự duy trì thảm thực vật ven sông, đồng cỏ tự nhiên và gia
tăng diện tích tràm trong đã làm phong phú quần thể động thực vật. Kết
quả khảo sát sơ bộ tại đây cho thấy hiện diện 156 loài thực vật hoang dã
thuộc 60 họ; 149 loài động vật có xương sống thuộc 46 họ, trong đó có 13
loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; các loài thủy sản trên sông rạch, ao
khá phong phú. Do hạn chế thời gian nghiên cứu nên chỉ nghi nhận được
có 11 loài động vật đáy. Với tính đa dạng sinh học như thế, việc thành lập
một khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước tiêu biểu cho vùng Đồng
Tháp Mười là cần thiết.
I. Mở Đầu
Láng Sen được xem như một bồn trũng nội đòa thuộc vùng trũng rộng lớn Đồng
Tháp Mười (Hình 1), là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy ngập nước với nhiều
quần thể động thực vật phong phú mang tính đặc trưng. Qua nhiều năm khai thác cho
mục đích sản xuất nông nghiệp đã làm cho vùng nầy mất đi các động thực vật tiêu biểu
của chúng. Nhận thức được vấn đề nầy, vào năm 1994, UBND Tỉnh Long An đã ra
quyết đònh thành lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều
nguyên nhân, khu bảo tồn vẫn chưa hình thành.
Một nghiên cứu sơ bộ được tiến hành từ năm 1999 – 2000 đã được thực hiện để
có thể đánh giá tổng quan về tài nguyên tự nhiên làm luận cứ khoa học cho việc thành
lập khu bảo tồn tự nhiên Láng Sen.
Báo cáo nầy chỉ trình bày tổng quan về đặc điểm tự nhiên và khả năng mở rộng
của khu vực Láng Sen trong hướng thành lập khu bảo tồn tự nhiên tiêu biểu cho vùng
Đồng Tháp Mười.
II. Vò Trí và Các Yếu Tố Tự Nhiên
2.1. Vò trí – diện tích
Láng Sen nằm trong phạm vi tọa độ đòa lý: 10
o
Tên đất Trầm tích Cm PH SO
4
2-
(%)
1
Aeric Paleaquults
Pleistocenee 0-30 5.6 0.06 30-50 5.4 0.04 50-100 4.3 0.09
2
Aquic Arenic Paleustults
0-25 5.2 0.10 25-50 5.1 0.12 50-100 4.4 0.10
3
Typic Plinthaquults
0-20 5.6 0.07 20-45 5.1 0.09
0-25 5.1 0.11 25-50 5.6 0.08 50-100 5.5 0.11
8
Umbric Sulfaquepts
Holocene
Lòng sông cổ
0-35 4.6 0.16 35-67 3.6 0.25 67-110 3.2 0.23
20
2.2.4. Chế độ thủy văn tại đây chòu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long và
thay đổi do ảnh hưởng biến đổi về chế độ dòng chảy trong toàn vùng Tân Hưng – Vónh
Hưng. Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày,
tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ. Láng Sen được tiếp nước chủ
yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long An, kinh
79, kinh 28 và sông Lò Gạch. Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến
dẫn nước chính là kinh 79 và rạch Bông Súng. Ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông
theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô). Tuy nhiên biên độ dao
động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m. biên độ này giảm dần tới khi đỉnh
lũ xuất hiện.
bởi tính đa dạng của trầm tích - thổ nhưỡng và hệ thống sông rạch nên Láng Sen mang
21
đầy đủ đặc tính chung của cảnh quan Đồng Tháp Mười: cảnh quan thảm thực vật thân
gổ chòu ngập ven sông, bải lầy ven sông, các lung, láng, lòng sông cổ …các dạng đòa
mạo nầy thể hiện tính đa dạng về sinh vật, đa dạng về habitat của chúng.
2.3.2. Các kiểu nơi sống của loài động thực vật
a. Thủy vực nước chảy; Gồm hệ thống sông rạch tự nhiên và các kênh đào.
Thành phần thực vật ở các kênh đào thưa thớt và ít loài, ở các sông rạch tự
nhiên thành phần thực vật phong phú hơn, gồm các loài: Súng (Nymphaea
sp), Rau tràng (Nymphoides nouchali), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea),
Ráng gạt nai (Ceratopteris thalictroides), Mồm mở (Hymenachne
acutigluma).
Đây là nơi sống của nhóm cá ưa nước chảy. Nhóm này gồm các loài cá chủ
yếu sống tại các dòng chảy chính, kênh hoặc sông lớn và thường di cư ngược
dòng về thượng lưu hoặc di cư đến vùng ngập lụt theo mùa để sinh sản hoặc
sinh trưởng. Chúng thường được gọi chung là nhóm cá trắng gồm các loài
phần lớn thuộc họ cá Chép (Cyprinidae) như cá Linh (Henycorhynchus
siamensis), cá Ngựa (Hampala spp), cá Mè vinh (Barbodes gonionotus), cá
He (Barbodes spp), … và các loài trong họ cá Tra (Pangasiidae), họ các
Nheo (Siluridae), họ cá Thát lát (Notopteridae) … Đây là nhóm cá di cư ra
vào trong khu vực theo sự lên xuống của nước lũ hàng năm ở Đồng bằng
sông Cửu Long.
b. Đai rừng tự nhiên hỗn loài ven sông, rạch; ngập nước thay đổi từ 3 tháng
đến gần quanh năm (tùy theo độ cao của từng đòa điểm). Do quá trình khai
phá, ở Láng Sen ước tích chỉ còn lại 15 - 20% so với diện tích trước năm
1975. Độ rộng bình quân của đai rừng này hiện nay chỉ còn khoảng 10 - 15
m. Thành phần thực vật có cấu trúc phức tạp, phong phú về loài và dạng
sống, trong đó các loài thường gặp bao gồm:
• Nhóm cây thân gỗ: Trâm (Syzygium cinereum), Bún (Crateva nurvala),
• Rừng tràm từ 1 - 3 tuổi: rừng chưa khép tán, ở mặt đất có sự hiện diện
của nhiều loài cây thân thảo. Ngoài ra rừng non còn tạo nên lớp tán rậm
rạp, tiếp xúc với mặt đất, tạo điều kiện tốt cho các loài động vật sinh
sống như Chàng nghòch (Rallus aquaticus), Bìm bòp (Centropus sinensis
và C. bengalensis), Chim sâu (Alcippe poioicephala), Trao trảo
(Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina temia), Quốc (Amaurornis
phoenicurus), Cò ma (Nycticorax nycticorax), Cò lửa.
• Rừng tràm từ 4 tuổi trở lên: rừng đã khép tán, mật độ thường trên 6.000
cây/ha. Dưới tán rừng gần như không có các loài thực vật thân thảo sinh
sống. Ngoài ra, do dưới tán rừng trống trải rừng nên rừng ở độ tuổi này
thường không thích hợp cho các loài động vật sinh sống. Các loài chim
thường gặp như Phướng (Phaenicophaeus tristis), Cò ma (Nycticorax
nycticorax), Tu hú (Eudynamys scolopacea), Chim sâu (Alcippe
poioicephala), Trao trảo (Pycnonotus spp), Chim khách (Crypsirina
temia).
f. Ruộng lúa; đây là kiểu nơi sống nhân tạo có diện tích lớn nhất trong vùng
điều tra. Ruộng lúa (phần lớn là 2 vụ) thường được hình thành từ những nơi
trước đây là những đồng cỏ ngập nước theo mùa, ít bò phèn. [Phân Viện Đòa
Lý TP Hồ Chí Minh bổ sung các yếu tố vật lý như loại đất, pH, độ mặn ...].
• Thực vật hoang dại thường gặp ở ruộng lúa vào các tháng lũ (các tháng
không canh tác) bao gồm Ngò nước (Limnophila heterophylla), Nhó cán
vàng (Utricularia aurea), Súng (Nymphaea sp) ...
• Các loài chim thường gặp ở ruộng lúa bao gồm Mỏ nhác (Limosa
limosa), Se sẻ (Passer montanus), Dòng dọc (Ploceus spp), Chim sâu
(Alcippe indicus), Cà cuốc (Pseudibis gigantea).
g. Đê nhân tạo; các đê nhân tạo có kích thước đáng chú ý trong vùng điều tra
gồm đê rạch Cá Sách và đê kênh Cá Nổ. Kiểu nơi sống này không bò ngập
23
nước. Thực vật hoang dại thường gặp bao gồm: Cỏ ống (Panicum repens),
6. Annonaceae 1 1 38. Asclepiadaceae 3 3
7. Nelumbonaceae 1 1 39. Convonvulaceae 4 5
8. Nympheaceae 1 2 40. Cuscutaceae 1 1
9. Ceratophyllaceae 1 1 41. Menyanthaceae 1 1
10. Dilleniaceae 1 1 42. Boraginaceae 2 2
11. Guttiferae 1 1 43. Lamiaceae 2 2
12. Eleocarpaceae 1 1 44. Scrophulariaceae 4 4
13. Tiliaceae 1 1 45. Acanthaceae 2 2
14. Malvaceae 1 1 46. Lentibulariaceae 1 2
15. Flacourtiaceae 1 1 47. Rubiaceae 6 6
16. Passifloraceae 1 1 48. Asteraceae 5 5
17. Cucurbitaceae 1 2
III. Đơn tử diệp 40 57
24
18. Capparaceae 1 1 49. Hydrocharitaceae 2 2
19. Aizoaceae 1 1 50. Pandanaceae 1 1
20. Amaranthaceae 2 2 51. Araceae 1 1
21. Portulacaceae 1 1 52. Lemnaceae 1 1
22. Polygonaceae 1 3 53. Xyridaceae
1 1
23. Mimosoideae 1 2 54. Commelinaceae 1 2
24. Caesalpinioideae 1 2 55. Flagellariaceae 1 1
25. Papilionoideae 6 6 56. Palmeae 1 1
26. Haloragaceae 1 1 57. Marantaceae 1 1
27. Myrtaceae 2 3 58. Pontederiaceae 2 3
28. Onagraceae 1 2 59. Cyperaceae 7 19
29. Melastomataceae 1 1 60. Poaceae 21 24
30. Combretaceae 1 3
Tổng cộng 121 152
Vertebrata Trichopsis vittatus
Bithynia misella (Gredler)
Labiobarbus siamensis (Sauvage)
Sermyla tornatella (Lea)
Ngành
Macrobrachium sp.
Gyraulus convexiusculus (Hutton)
Arthropoda
Corbicula cyreniformis (Prime) Limnoperna siamensis (Morelet)
3.4. Động vật:
Để có thể ghi nhận được nhiều thông tin về động vật, nhóm nghiên cứu đã dùng
phương pháp phỏng vấn dân đòa phương kết hợp với khảo sát thực tế (đối với lớp Chim,
phỏng vấn thông qua hình ảnh), có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá)
được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó:
• lớp Lưỡng thê: 4 loài
• lớp Bò sát: 17 loài
• lớp Chim: 101 loài
• lớp Thú: 6 loài
Số loài và số chi nằm trong các họ của 128 loài động vật điều tra được ở Láng
Sen tóm tắt ở bảng 5
Bảng 5: Số loài của 46 họ động vật ở Láng Sen