Kinh tế vĩ mô II Trang 1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Vào năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu bắt nguồn từ Hy Lạp đã
lan mạnh sang các quốc gia Châu Âu khác, ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu và
trở thành một vấn nạn nhức nhối trong thời gian kéo dài. Ảnh hưởng của nó tới nền
kinh tế thế giới trong thời gian qua đã cho thấy, nợ công là một vấn đề mang tính
toàn cầu mà bất cứ một quốc gia nào dù mạnh hay yếu cũng đều có nguy cơ gặp
phải.
Việt Nam là một nước có quy mô nền kinh tế nhỏ và đang phát triển. Vì thế,
việc chính phủ đi vay nợ để đầu tư phát triển nền kinh tế và cho chi tiêu chính phủ
là điều khó tránh khỏi. Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu
chững lại, do tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và việc không sử
dụng dòng vốn đầu tư một cách hiệu quả nhằm thúc đấy tăng trưởng. Những số
liệu thống kê cả của Việt Nam và quốc tế đều cho thấy Việt Nam thường xuyên có
thâm hụt ngân sách. Tình trạng nợ công của Việt Nam cũng đang có xu hướng tăng
lên trong khi hiệu quả đầu tư của Việt Nam lại đang có xu hướng giảm xuống.
Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc nghiên cứu nợ công để đưa ra các
chính sách phù hợp phát triển kinh tế đất nước, trong tiểu luận này, nhóm chúng
em xin trình bày về vấn đề “Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp, liên hệ và bài
học cho Việt nam”. Những bài học từ khủng hoảng nợ công của Hy Lạp là kinh
nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình phát triển về quản lý nợ công và
thâm hụt ngân sách. Do hạn chế về thời gian và trình độ, bài viết sẽ khó tránh khỏi
Kinh tế vĩ mô II Trang 2
những sai sót trong quá trình nghiên cứu. Vì thế, chúng em rất mong nhận được sự
đánh giá, hướng dẫn của thầy. Chúng em xin chân thành cảm ơn.
PHẦN 1: Nợ công và khủng hoảng nợ công
I. Khái niệm nợ công
Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một
bước tiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Theo
Bộ Luật này thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ
Ngân hàng trung ương bán cổ phiếu cho giới đầu tư tư nhân trong nước và quốc tế.
Các khoản vay này sẽ làm gia tăng nợ công. Như vậy có thể thấy nợ công là hệ quả
trực tiếp của thâm hụt ngân sách.
− Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công
Thâm hụt ngân sách hàm ý rằng thu ngân sách của chính phủ suy giảm hoặc
có sự gia tăng trong chi tiêu. Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng tổng cầu trong nền
kinh tế. Cùng với đó, giá cả và lạm phát cũng sẽ tăng lên. Về dài hạn, khi lạm phát
gia tăng, người lao động sẽ yêu cầu mức lương cao hơn, và các doanh nghiệp sẽ
buộc phải có chính sách cắt giảm sản xuất trước mức tiền lương mới này, tổng cung
trong nền kinh tế sẽ suy giảm. Nguồn cung vốn vay hay tổng tiết kiệm của nền kinh
tế suy giảm do thâm hụt ngân sách sẽ đẩy lãi suất tăng lên. Lãi suất gia tăng sẽ gây
khó khăn cho khu vực tư nhân trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư. Chính vì thế,
khu vực tư nhân sẽ bị thu hẹp, chính bởi sự chi tiêu không hiệu quả của chính phủ.
Lãi suất gia tăng không chỉ thu hút giới đầu tư trong nước mà còn hoàn toàn có
thể thu hút giới đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có nhu cầu nắm
Kinh tế vĩ mô II Trang 4
giữ tài sản nội địa, do hiệu suất sinh lời cao hơn, điều này đồng nghĩa với việc dòng
vốn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế, làm cho nguồn cung ngoại tệ tăng lên. Khi cung
ngoại tệ tăng lên, giá trị của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ sẽ giảm đi, hay nói
cách khác, đồng nội tệ có thể tăng giá trị. Việc đồng nội tệ tăng giá sẽ khuyến khích
nhập khẩu thay vì xuất khẩu, và điều này sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại và thâm
hụt cán cân vãng lai.
− Vay nợ nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển - Original Sin
Tại các quốc gia đang phát triển, có hai nguồn tiền có thể hỗ trợ cho sự thâm
hụt thương mại này, đó là lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về, hoặc nhận viện trợ
FDI từ nước ngoài. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đang phát triển còn phải vay thêm từ
nước ngoài. Việc các quốc gia đang phát triển phải đi vay nợ bằng các đồng tiền nước
ngoài được các nhà kinh tế học gọi là orginial sin. Thuật ngữ này được giải thích là
việc các quốc gia đang phát triển không có cơ hội được vay và trả nợ bằng đồng tiền
nội tệ của mình. Họ buộc phải vay bằng các đồng tiền mạnh hơn, đồng nghĩa với
nó thể hiện rằng liệu quốc gia đó có đang phát triển bền vững và ổn định hay không.
Nguồn thu ngân sách cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ. Việc tăng
nguồn thu ngân sách sẽ làm giảm thâm hụt tài khóa, giúp giảm gánh nặng nợ công
cho chính phủ. Nợ công thường tăng khoảng hai phần ba trong khoảng thời gian
ngay sau khi diễn ra khủng hoảng tài chính. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng 84%
cuộc khủng hoảng nợ đến ngay sau cuộc một cuộc khủng hoảng tiền tệ. Do vậy, các
biến số tạo rủi ro cho một cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng có thể là tác nhân gây nên
một cuộc khủng hoảng nợ. Trong đó, lạm phát cao cùng cú sốc tỉ giá có thể làm
Kinh tế vĩ mô II Trang 6
giảm giá trị của đồng tiền nội địa, đồng nghĩa với việc dư nợ nước ngoài sẽ tăng lên,
đi kèm với rủi ro vỡ nợ.
Kinh tế vĩ mô II Trang 7
PHẦN 2: Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp
I. Tổng quan
1. Hy Lạp trước khủng hoảng
Năm 1981, Hy Lạp vội vàng ra nhập EU. Trong thập kỉ đầu tiên là thành viên
của EU, Hy Lạp dường như ẵm được món lời lớn khi được hưởng các khoản tài trợ
hào phóng của EU. Nhờ đó các khó khăn về kinh tế chính trị được tháo gỡ.
Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữa
năm 2001 cho đến năm 2008 - khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, ngân sách
quốc gia Hy Lạp luôn nằm trong tình trạng thâm hụt. Theo Tạp chí Ngân hàng số
13, năm 2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thâm hụt ngân sách trung bình giai
đoạn này của Hy Lạp là trên 5% GDP/năm trong khi tính trung bình cho toàn khu
vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), con số này chỉ dừng lại ở mức
2%/năm; cán cân vãng lai của quốc gia này cũng liên tục bị thâm hụt, trung bình
vào khoảng 9% GDP hàng năm so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone
là 1% . Bắt đầu từ cuối năm 2009, niềm tin của các nhà đầu tư vào chính phủ Hy
Lạp bắt đầu bị lung lay khi vào tháng 10, Chính phủ mới do Thủ tướng George
Papandreou lãnh đạo đưa ra con số ước tính thâm hụt ngân sách mới cho năm 2009
là 12,7% GDP, gần gấp đôi con số ước tính hiện tại lúc đó là 6,7%.
Hy Lạp vẫn phải đối mặt với hai vấn đề một lúc là thâm hụt ngân sách và thâm hụt
cán cân thanh toán vãng lai. Tháng 7 /2011, Hy Lạp nhận gói cứu trợ thứ hai từ các
nước thành viên Eurozone và IMF và do khu vực tư nhân đóng góp. Sau đó chính
phủ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp tiết kiệm chi tiêu chính phủ. Các ngân
hàng ở châu Âu cũng đồng ý xóa nửa số nợ trong gói cứu trợ thứ hai cho Hy Lạp.
Tháng 2/2012 Quốc hội thông qua chính sách thắt lưng buộc bụng mới trong bối
cảnh biểu tình nổ ra khắp nơi. Uy tín của chính phủ đã giảm sút qua tỷ lệ số phiếu
bầu cử thấp. Bất chấp nhiều sự phản đối từ người dân, chính phủ vẫn tiếp tục đưa
ra hàng loạt chính sách thắt lưng buộc bụng, cắt giảm nhân viên, công chức cũng
như lương, trợ cấp…
Đến năm 2013 số người bị cắt giảm việc làm và giảm lương ngày càng tăng
cao. Điều này đã gây nên những tranh cãi lớn từ dư luận. Ngày 24/06/2013 Trái
dân chủ rút khỏi liên minh Chính phủ Hy Lạp. Chính phủ giữ đa số trong Quốc
hội. Một số luật về thuế về tài sản đã thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh.
Kinh tế vĩ mô II Trang 10
II. Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp
1. Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008
Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất cũng được đề cập đến là cuộc khủng hoảng
kinh tế tài chính năm 2008. Sự suy thoái kinh tế diễn ra ở quy mô lớn và trên nhiều
lĩnh vực khác nhau, đặc biệt ở một số ngành như thương mại và dịch vụ. Nguồn
thu chính phủ trong giai đoạn này cũng sụt giảm đáng kể. Trong khi đó Hy Lạp lại
tung các gói cứu trợ và kích cầu để cứu nền kinh tế. Chính vì vậy, chính phủ đã
phải đi vay của các ngân hàng, tổ chức tài chính cũng như các nước khác để bù đắp
sự thiếu hụt ngân sách. Điều này cũng đã ít nhiều tác động đến cuộc khủng hoảng
diễn ra không lâu sau đó của Hy Lạp. Tuy nhiên, nhìn chung, thực trạng kích cầu
và cứu trợ khiến ngân sách bị sụt giảm cũng diễn ra ở nhiều nước ở EU và trên
thế giới nên đây cũng chỉ là một yếu tố thêm vào những vấn đề nội tại của Hy Lạp.
2. Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài
Theo một nghiên cứu của PGS.Ts Phạm Thị Thanh Bình - Viện kinh tế chính
trị thế giới của Việt Nam công bố năm 2013, tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân
thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn
thuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp. Để tăng nguồn thu và cải thiện tình trạng
ngân sách, quốc gia này phải tích cực giải quyết những trở ngại trên.
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI), Hy Lạp là một trong những nước có tỷ
lệ tham nhũng cao nhất trong EU. Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới
750 triệu euro tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu vực tư. Thiệt
hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP. Tham nhũng
không chỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì
Kinh tế vĩ mô II Trang 12
mức lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vì
nhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động. Mức
lương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranh
của nền kinh tế Hy Lạp yếu đi. Lương cao, đồng euro tăng giá trong suốt giai đoạn
từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất yếu là
một cán cân thương mại thâm hụt triền miên.
5. Sử dụng nguồn vốn không hiệu quả.
Việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với
thị trường vốn quốc tế. Dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất
thấp, trong gần một thập kỷ qua, chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về
hàng trăm tỷ đôla. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính
phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Nhưng điều này không xảy ra, các đời chính phủ
Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan
tâm đến các kế hoạch trả nợ, trong đó có thể kể đến như thế vận hội Olympics
2004 - kỳ thế vận hội hoành tráng nhất và cũng tốn kém nhất trong lịch sử nhưng
chính phủ lại không cho phép sự xuất hiện của bất kỳ một biển hiệu quảng cáo nào
trên đường phố.
6. Tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư
Hy Lạp đã cố công làm đẹp các chỉ số kinh tế của mình để gia nhập Eurozone,
và kể cả khi đã vào Eurozone để có thể tiếp tục tiếp cận các nguồn tín dụng lãi suất
thấp. Có nhiều lý giải cho vấn đề này có thể kể ra như: Hy Lạp đã không ghi khoản
ngoài lớn đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư.
Sự nghi ngờ của giới đầu tư lên đến đỉnh điểm lần nữa vào tháng 4/2010 khi
Cơ quan Thống kê của Liên minh châu Âu (Eurostat) công bố ước tính về thâm hụt
Kinh tế vĩ mô II Trang 14
ngân sách của Hy Lạp. Với con số 13,6% GDP, ước tính của Eurostat cao hơn hẳn
so với con số ước tính được chính phủ Hy Lạp đưa ra trước đó vào tháng 10/2009.
Điều này lặp lại một câu hỏi về khả năng trả nợ của Hy Lạp.
Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin
của các nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên
của Eurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân
hàng của Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động
vốn trên thị trường vốn quốc tế. Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, thì minh
bạch luôn là một đòi hỏi lớn của các nhà đầu tư và Hy Lạp là một minh chứng cho
thấy niềm tin của thế giới với một quốc gia sẽ giảm sút nhanh chóng như thế nào
khi sự minh bạch trong số liệu kinh tế của quốc gia đó liên tục bị đặt dấu hỏi.
III. Giải pháp của Hy Lạp
Tại Hy Lạp, bắt đầu từ năm 2010 đến nay, quốc gia này đã thực hiện liên tục
năm đợt chính sách nhằm tăng nguồn thu cũng như giảm chi tiêu chính phủ. Cụ
thể, đợt đầu tiên vào tháng hai năm 2010, Chính phủ Hy Lạp thông báo không tăng
lương công chức, cắt giảm phụ cấp, cắt lương làm thêm giờ… Đợt thứ hai diễn ra chỉ
một tháng sau đó, tiền phụ cấp tiếp tục giảm kèm theo là lương công chức, trong khi thuế
giá trị gia tăng tăng lên cùng hàng loạt các loại thuế mới được đặt thêm. Hai tháng
sau đó, lại một đợt chính sách khác được ban hành. Lần này chính phủ giảm cả
lương hưu, tăng tuổi về hưu và tăng thuế giá trị gia tăng. Sang đến giữa năm 2011,
lương hưu tiếp tục bị cắt giảm, các đối tượng có thu nhập cao bị đánh thuế mạnh
hơn, cùng với việc gia tăng thuế bất động sản cùng các tài sản có giá trị khác. Cuối
cùng đầu năm 2012, chính phủ lại tiếp tục cắt giảm tiền lương tối thiểu, sửa đổi
luật tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh nhiều hơn và sa thải được nhiều
nhân công hơn, các chi tiêu cơ bản cho y tế và quốc phòng cũng bị cắt giảm. Tờ báo
Kinh tế vĩ mô II Trang 15
đồng (22,7%) đến năm 2012 là 989.300 tỷ đồng (41,1%); riêng năm 2008, do ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế nên nợ công xuống thấp (23,7%). Đa phần vốn vay
nợ công chiếm một tỷ lệ rất quan trọng trong vốn vay đầu tư phát triển. Nếu tính
chỉ số nợ công/GDP thì giai đoạn 2006 - 2012 nợ công đã tăng đáng kể, từ 42,9%
(404.556 tỷ đồng) năm 2006 lên 55,6% (1.641.296 tỷ đồng) năm 2012. Về cơ cấu
dư nợ công: tính đến 31/12/2012 thì nợ Chính phủ chiếm 77,6%, nợ Chính phủ bảo
lãnh chiếm 20,9% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,5%.
Kinh tế vĩ mô II Trang 17
II. Liên hệ nợ công Hy Lạp đến nợ công Việt Nam
Tình trạng nợ công của Hy Lạp có một số điểm tương đồng với tình trạng nợ
công Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, cách tính nợ công của Hy Lạp và của Việt Nam còn khác với cách
tính nợ công của nhiều quốc phát triển khác như Mỹ, Canada, Úc, Nhật… Trước
khi sự thật được phanh phui, để làm đẹp con số thống kê trên sổ sách của mình, Hy
Lạp đã không ghi khoản tiền phải chi trả cho lương hưu, giấu không ghi các khoản
phí chi cho mua vũ khí quốc phòng, không ghi vào nợ công những khoản nợ tư mà
Chính phủ phải trả vì nhận bảo lãnh, ghi khoản tiền nhà nước chuyển cho doanh
nghiệp quốc doanh để bù lỗ là tăng đầu tư mua cổ phần thay vì là chi bù lỗ. Việt
Nam cũng tương tự. Nợ công theo cách tính của Liên Hợp Quốc còn có phần lương
hưu - mỗi khi một công chức nhận lương, họ phải đóng một phần vào quỹ hưu, còn
một phần khác do chính phủ đóng, nhưng một số nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam thì phần lương hưu - chính là nợ của nhà nước đối với công chức, đã
không được tính vào nợ công. Trong các nước châu Á thì Singapore đã ghi theo
đúng chuẩn mực và nợ phải trả trong tương lai khi công chức về hưu của quốc gia
này rất lớn. Vì thế tỷ lệ nợ của họ rất cao, xếp hàng thứ 8 thế giới (Theo tạp chí
Economist xếp hạng năm 2012). Ngoài ra, khoản nợ “tự vay, tự trả” của các doanh
nghiệp nhà nước cũng là nợ của chính phủ nhưng không được tính trong nợ công
Việt Nam. Hiện tại, theo con số công bố chính thức thì nợ công Việt Nam chiếm
41,9% GDP (Theo Bộ Tài Chính, tháng 9 - 2013). Theo số liệu của World Bank thì
nợ công Việt Nam phải ở mức 47,5% và theo CIA (Cơ quan Tình báo Trung ương
hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của Hy Lạp cũng được coi là
một trong những gánh nặng cho chi tiêu công. Ở Việt Nam, áp lực thâm hụt ngân
sách đang ngày càng nặng hơn khi Việt Nam đã có hàng loạt dự án quy mô rất lớn
Kinh tế vĩ mô II Trang 19
như mở rộng thủ đô Hà Nội, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, dự án đường cao tốc
Bắc Nam,… Đây là những dự án tiêu tốn chi phí cao và phần lớn số tiền không
phải là tiền tiết kiệm trong nước, mà đến từ nguồn vốn vay từ nước ngoài.
Thứ tư, vấn đề tiếp theo Việt Nam và Hy Lạp gặp phải đó là tình trạng nguồn
thu giảm sút. Nguyên nhân chính là do trốn thuế và tham nhũng. Đối với Hy Lạp,
hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với điều tiết dư
thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý đã dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh
tế ngầm phát triển. Hơn nữa, theo tổ chức Minh bạch quốc tế (TI), Hy Lạp là một
trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao nhất EU. Tham nhũng không chỉ gây ra
trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ và rất nhiều hệ lụy khác. Đối với Việt
Nam thực trạng trốn thuế hay tham nhũng cũng là tác nhân chính gây ra tình trạng
nguồn thu giảm sút. Câu chuyện chuyển giá nhằm trốn thuế của các doanh nghiệp
nước ngoài tại Việt Nam đã không còn là một điều xa lạ. Gần đây, nhiều vụ án
tham nhũng trong lĩnh vực ngân hàng hay doanh nghiệp nhà nước đã bị phơi bày
như vụ án liên quan đến cựu phó chủ tịch Ngân hàng ACB Nguyễn Đức Kiên, Phó
phòng Quản lí rủi ro ngân hàng ViettinBank Huỳnh Thị Huyền Như hay ông cựu
Chủ tịch tập đoàn Vinalines Dương Chí Dũng đã tạo nên nhiều lo lắng, phẫn nộ
trong dư luận. Trong khi hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập kẽ hở,
cộng với đó là các điều khoản cồng kềnh phức tạp là những nguyên nhân dẫn tới
các tình trạng này diễn ra với mục độ nghiêm trọng hơn
Cuối cùng, việc sử dụng nguồn vốn không hiểu quả. Với Hy Lạp, việc gia
nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường
vốn quốc tế, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp. Trong
gần một thập kỷ qua, chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm
tỷ đôla. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế
hoạch chi tiêu hợp lý. Nhưng điều này không xảy ra, các đời chính phủ Hy Lạp đã
của tiền đồng Việt Nam đã tạo ra nhiều khó khăn hơn cho các doanh nghiệp trong
việc trả nợ, khiến nợ công ngày càng gia tăng.
III. Bài học rút ra cho Việt Nam
Bài học 1: Cần công khai minh bạch thông tin về ngân sách và nợ công
Việc Athens làm giả số liệu để có thể trở thành thành viên chính thức của khối
cộng đồng chung châu Âu là bài học đắt giá đối với Việt Nam. Hy Lạp đã công bố
thông tin không nhất quán, sai lệch để che giấu tình trạng thiếu kiểm soát của chính
phủ làm hậu quả nợ càng thêm nợ. Việc chính phủ mới sau đó thừa nhận con số
thâm hụt ngân sách thực tế trong bối cảnh kinh tế đầy bất ổn đã gây ra tâm lý nghi
ngờ và hoảng loạn cho các nhà đầu tư cũng như thị trường, dẫn tới cuộc khủng
hoảng ở nước này càng trở nên trầm trọng.
Từ cuộc khủng hoảng trên, có thể thấy rằng việc công bố chính sách và minh
bạch thông tin liên quan đến ngân sách và nợ công là hết sức cần thiết. Đây là xu
hướng tất yếu mà Chính phủ Việt Nam, và cụ thể là Bộ Tài chính phải thực hiện
nhằm quản lý tốt thâm hụt ngân sách cũng như nợ công.
Về quản lý nợ công, chính phủ cần phải đưa ra một khuôn khổ pháp luật quản
trị rõ ràng và giao trách nhiệm cho một cơ quan chuyên trách. Cơ quan này thường
là Bộ Tài chính, với vai trò lựa chọn các công cụ và hình thức vay nợ cần thiết, xây
dựng chiến lược và lộ trình vay nợ hợp lý, nghiên cứu về các chiến lược quản lý nợ
công bền vững thông qua các chỉ số về giới hạn nợ và các thông số về rủi ro mà nợ
công mang lại. Đồng thời với đó, cơ quan này cũng cần thiết lập một bộ phận làm
nhiệm vụ kiểm tra giám sát nhằm đưa ra được những con số thống kê cập nhật rõ
ràng và xác thực.
Mối quan hệ giữa khu vực chính phủ và khu vực công cũng cần được minh
bạch rõ ràng, đặc biệt về vấn đề tài chính công. Những báo cáo tài chính hàng năm
Kinh tế vĩ mô II Trang 22
của các tổ chức công cần phải công khai về lợi nhuận và phần sẽ đóng góp vào
ngân sách nhà nước, thông tin này cũng cần được ghi lại trong báo cáo hàng năm
về ngân sách nhà nước. Tương tự như thế, các nguồn chi của chính phủ nhằm phục
vụ lợi ích của các tổ chức công cần phải được công khai trong báo cáo về ngân sách
kinh tế. Việc các tập đoàn lớn thay phiên nhau công bố vỡ nợ như Vinashin,
Vinalines hoặc phá sản lại càng gây nên tâm lý lo ngại cho giới đầu tư trong nước
cũng như quốc tế. Hàng loạt các khoản nợ xấu có thể khiến chính phủ phải sử dụng
ngân sách của mình để trả nợ, điều này có thể khiến cho ngân sách chính phủ thâm
hụt nặng hơn. Chính vì vậy, việc tái cấu trúc hệ thống DNNN cần được đặt lên
hàng đầu trong việc cải thiện tình hình nợ công của Việt Nam.
Ngoài việc cải cách khối DNNN, đầu tư công của Việt Nam cũng cần phải
được chú trọng, tránh để các khoản đầu tư này gây hiệu ứng lấn át khu vực tư nhân,
làm thu hẹp khu vực này. Quy hoạch yếu kém và cơ chế phân quyền đầu tư công
giữa trung ương và địa phương như hiện nay vô tình khuyến khích các địa phương
chạy đua nhiều dự án trong việc xin ngân sách chính phủ. Chính quyền trung ương
thiếu cơ chế giám sát nguồn vốn đầu tư từ trung ương đã dẫn đến việc hiệu quả và
chất lượng không đi đôi với số lượng.
Mặt khác, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay. Đặc
biệt trong sử dụng vốn ODA, chúng ta phải biết gắn kết từ khâu huy động đến khâu
trả nợ, khắc phục những khâu bất hợp lí; xây dựng chương trình đầu tư công trên
cơ sở rà soát lại các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình dự án trọng điểm
để làm căn cứ cho việc huy động, phân bổ nguồn vốn phù hợp.
Bài học từ Hy Lạp dành cho Việt Nam là nhà nước nên có sự xác định rõ ràng
trong việc vay nợ, xác định rõ những mục tiêu mà mình theo đuổi, không nên đặt
Kinh tế vĩ mô II Trang 24
tham vọng chính trị lên trên thực lực kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cần hạn chế
vay nợ nước ngoài nếu vẫn có thể huy động được nguồn từ trong nước. Trong hoạt
động sử dụng nợ cần tiến hành đầu tư theo chiều sâu, đầu tư vào những dự án có
khả năng sinh lời cao, tránh đầu tư dàn trải hiệu quả thấp, chống thất thoát trong
quá trình sử dụng nợ.
Bài học 4: Cần chú trọng đến phát triển thị trường nợ trong nước
Bài học cuối cùng cho Việt Nam là cần phát triển thị trường nợ trong nước. Việc
nền kinh tế Hy Lạp dựa chủ yếu vào nguồn thu và vốn vay từ nước ngoài đã khiến
cho sức khỏe nền kinh tế bị suy giảm, phụ thuộc nhiều vào kinh tế các nước khác và