Bài luận văn Đề tài nợ công của Hy Lạp và các giải pháp cho nợ công của Việt Nam qua khủng hoảng nợ công của hy lạp - Pdf 13

MỤC LỤC
MỤC LỤC A
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỢ CÔNG 3
1.1Tổng quan về nợ 3
1.1.1Nợ quốc gia và các chủ nợ 3
1.1.2Nợ công 3
1.1.3Nợ tư nhân 4
1.2Chỉ tiêu đánh giá nợ công 4
CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở HY LẠP 7
2.1Bối cảnh diễn ra cuộc khủng hoảng 7
2.1.1Tình hình kinh tế trên thế giới 7
2.1.2Tình hình kinh tế Hy Lạp 7
2.2Nguyên nhân 8
2.2.1Các tác nhân nội địa 8
2.2.1.1 Thâm hụt ngân sách quá lớn 8
2.2.1.2 Tiết kiệm trong nước thấp trong khi vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công
chiếm tỷ trọng lớn 8
2.2.1.3 Sai lầm trong chính sách kích thích nền kinh tế sau khủng hoảng của Hy Lạp
8
2.2.2Các tác nhân quốc tế 9
2.2.2.1 Việc tiếp cận thị trường vốn khi lãi suất thấp 9
2.2.2.2 Việc tuân thủ luật lệ 9
2.3Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp 10
2.3.1Ảnh hưởng đến quốc gia Hy Lạp 10
2.3.1.1 Uy tín của quốc gia Hy Lạp bị sụt giảm 10
2.3.1.2 Tình hình trong nước bất ổn 10
2.3.1.3 Thanh khoản sụt giảm 11
2.3.1.4 Nguy cơ vỡ nợ cao 12
2.3.2Ảnh hưởng đến EU và thế giới 12
2.4Giải pháp của Hy Lạp 12

trong đó có Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề nợ công đặt trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế – tài chính là một việc làm hết sức cần thiết trong thời gian
này. Kinh nghiệm thực tiễn ở các quốc gia như Chilê, Nga, một số nước Đông
Á, và đặc biệt là Hy Lạp để đưa ra một số bài học cho Việt Nam, cũng như cơ
chế, cách thức để nền kinh tế nước nhà có thể ứng phó khi cuộc khủng hoảng nổ
ra. Bức tranh khủng hoảng nợ công của Hy Lạp cho thấy tổng hợp của một loạt
các vấn đề và các nhân tố. Trước hết Hy Lạp có vấn đề nợ công thật sự, thể hiện
qua tỷ lệ của thâm hụt ngân sách và tỷ lệ tổng nợ trên GDP đều rất cao. Tóm lại,
từ cuộc khủng hoảng Hy Lạp một lần nữa cho chúng ta thấy kinh tế Việt Nam vẫn
đang tiềm ẩn những rủi ro, khi tăng trưởng dựa quá nhiều vào dòng vốn đầu tư từ
bên ngoài. Tình trạng của Việt Nam cũng giống Hy Lạp ở một số yếu tố như:
thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài, yếu kém trong quan lý chi tiêu công… Chỉ có
tái cấu trúc nền kinh tế và cải thiện chất lượng tăng trưởng mới giúp Việt Nam
duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm sắp tới.
Đồng thời, qua bài nghiên cứu này tôi tìm hiểu thực trạng nợ công của Việt
Nam hiện nay và nhận ra nợ công của nước ta hiện nay đang bắt đầu chạm ngưỡng
cho phép, nếu không có biện pháp hợp lý, một cuộc khủng hoảng nợ rất có nguy
1
cơ xảy ra, đe doạ tiến trình phát triển kinh tế của đất nước. Cuối cùng, tôi xin đưa
ra một số giải pháp cho chính sách nợ công của Việt Nam hiện nay.
Kết cấu đề tài:
Chương 1 : Khái quát chung về nợ công
Chương 2 : Nghiên cứu khủng hoảng nợ Hy Lạp
Chương 3 : Bài học kinh nghiệm và giải pháp cho chính sách nợ công
Việt nam qua cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp
2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỢ CÔNG
1.1 Tổng quan về nợ
1.1.1 Nợ quốc gia và các chủ nợ
Nợ là một khoản phải trả, bao gồm cả nợ gốc, lãi, phí và chi phí khác có

Nợ công so với GDP
Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền kinh
tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ chính phủ so với GDP
Chỉ số này phản ánh quy mô nợ Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền
kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ vay thương mại của Chính phủ so với GDP
Chỉ số này phản ánh quy mô nợ vay thương mại nước ngoài Chính phủ so
với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP
Chỉ số này phản ánh quy mô được Chính phủ bảo lãnh so với thu nhập của
toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) trực tiếp của Chính phủ
4
Chỉ số này xác định quy mô trực tiếp của Chính phủ đến hạn hàng năm so
với khả năng trả nợ của Chính phủ bằng nguồn thu ngân sách nhà nước và được
tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) vay của Chính phủ về cho vay lại
Chỉ số này xác định quy mô nợ gián tiếp của Chính phủ đến hạn hàng năm
so với khả năng trả nợ của Chính phủ bằng nguồn thu ngân sách nhà nước và được
tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước
Tỷ lệ này xác định khả năng hoàn trả đối với nghĩa vụ nợ dự phòng phát
sinh từ khoản vay, phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh từ nguồn thu
ngân sách nhà nước và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ chính quyền địa phương so với GDP
Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của Chính quyền địa phương so với thu
nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP
Chỉ số này phản ánh tương quan giá trị dư nợ nước ngoài của quốc gia so

Những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là không hề
nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các
nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi lên 10%.
2.1.2 Tình hình kinh tế Hy Lạp
Hy Lạp là một quốc gia nhỏ ở Nam Âu là thành viên của khu vực đồng tiền
chung (Eurozone hay EU-16). Dân số Hy Lạp khoảng 11 triệu người chiếm 2,2%
EU, đóng góp 2,8% GDP của EU. Hy Lạp có thu nhập bình quân đầu người
khoảng 17.440 đô la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10,2% (trong khi tỷ lệ này
của EU là 10%) nhưng lại duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với các nước
trong EU-16.
Tính đến năm 2008, chính phủ Hy Lạp vay mượn rất nhiều từ nước
ngoài để tài trợ cho ngân sách và những khoản thâm hụt tài khoản vãng lai.
Giữa năm 2001, khi Hy Lạp sử dụng đồng Euro làm đồng tiền quốc gia, thâm
hụt ngân sách của Hy lạp báo cáo trung bình 5%/năm, so với trung bình của
Châu Âu 2%. Đến năm 2009, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp được chiếm hơn
12% GDP.
7
2.2 Nguyên nhân
2.2.1 Các tác nhân nội địa
2.2.1.1 Thâm hụt ngân sách quá lớn
Trong những năm qua, tình trạng thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ngày
càng gia tăng. Năm 2009, mức thâm hụt ngân sách hơn 12% GDP vượt ngưỡng an
toàn là 5% GDP và vượt mức cho phép của khu vực đồng tiền chung là 3%/GDP.
Để bù đắp thâm hụt ngân sách, Chính phủ Hy Lạp đã vay nợ dưới nhiều hình thức.
2.2.1.2 Tiết kiệm trong nước thấp trong khi vay nợ nước ngoài
cho chi tiêu công chiếm tỷ trọng lớn
Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng mạnh, bình quân ở mức 4.2%/năm trong giai
đoạn 2002-2007. Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh
châu Âu (EU), tạo điều kiện cho chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho

cho EMU
Nhưng Hiệp ước tăng trưởng và ổn định đã không được giữ vững, các
quốc gia thành viên đã vượt qua giới hạn thâm hụt.
Theo những quy định trên thì Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực
đồng tiền chung châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng hai năm sau, ngày 1/1/2001,
mặc dù vẫn chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được chấp thuận gia nhập vào khu vực
đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ
chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp.
Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu
hướng ngày càng tăng.
9
2.3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp
2.3.1 Ảnh hưởng đến quốc gia Hy Lạp
2.3.1.1 Uy tín của quốc gia Hy Lạp bị sụt giảm
Hy Lạp vay nợ rất nhiều trên các thị trường tài chính để đảm bảo thanh
khoản cho bội chi ngân sách. Giới hạn bội chi ngân sách cho phép trong khu vực
Euro chỉ là 3% GDP, trong khi đó mức này của Hy Lạp năm lên tới 13,6%, và
thậm chí có thể tăng tới trên 14% GDP. Để che dấu việc chi tiêu quá tay trong
nhiều năm của mình, Chính phủ Hy Lạp đã thực hiện báo cáo số liệu không nhất
quán và sai lệch, đưa ra nhiều khoản mục bất thường trong ngân sách. Điều này đã
có ảnh hưởng rất tiêu cực đến uy tín của Chính phủ Hy Lạp trên các thị trường
trong nước và quốc tế.
2.3.1.2 Tình hình trong nước bất ổn
Khi tỷ lệ nợ công quá lớn, xu hướng thắt chặt chi tiêu chính phủ thường
được tiến hành như một cách giảm bội chi ngân sách nhà nước. Đây là điều kiện
tiên quyết để quốc gia có thể tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ các nguồn quỹ quốc
tế. Vì vậy, chính phủ Hy lạp phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”,
giảm thâm hụt ngân sách từ 13,6% xuống dưới còn 3%. Song song với cắt giảm
ngân sách dành cho y tế, quốc phòng, tăng thuế, lãnh đạo Hy Lạp tuyên bố một
chính sách lương thưởng hà khắc đối với khối dịch vụ công với mục tiêu cắt giảm

đề thu thuế, và có một nguy cơ là quốc gia này không thể đáp ứng các tiêu chí mà
những tổ chức hỗ trợ cho nước này yêu cầu. Tình trạng hiện tại có thể dẫn đến
việc cơ cấu lại các khoản nợ hiện tại của Hy Lạp.
11
2.3.1.4 Nguy cơ vỡ nợ cao
Hy Lạp đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt
ngân sách (13,6% GDP năm 2009) và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai (đạt
mức kỷ lục vào quý 3/2008). Tài khoản vãng lai bị thâm hụt nghiêm trọng là một
trong những nguyên nhân dẫn tới việc không thể trả được nợ của chính phủ Hy
Lạp.
2.3.2 Ảnh hưởng đến EU và thế giới
Mặc dù Hy Lạp là một nền kinh tế nhỏ, hàng năm chỉ đóng góp khoảng 2%
vào GDP của khu vực đồng tiền chung châu Âu, nhưng khủng hoảng nợ của Hy
Lạp sẽ tác động mạnh tới sự ổn định của đồng Euro, tạo nên phản ứng dây chuyền
đối với các nền kinh tế trong khu vực.
Do Hy Lạp dùng đồng Euro, bê bối về tài chính của họ làm suy yếu đồng
tiền này và có thể sẽ làm tỷ giá trên toàn châu Âu tăng cao. Những rắc rối về nợ
công ở Hy Lạp đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử 11
năm của khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro.
Với số nợ 404 tỷ USD (113% GDP) của Hy Lạp nếu không được giải quyết
sớm sẽ gây ảnh hưởng đến cả châu Âu, nền kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác, có
nguy cơ đẩy hàng vạn người lao động đến tình cảnh thất nghiệp.
Nếu Hy Lạp không đạt được các thỏa thuận về cứu trợ thì có thể sẽ buộc
phải thông báo mất khả năng thanh toán ở một số khoản nợ. Khi đó, nước này có
thể buộc phải ra khỏi EU.
2.4 Giải pháp của Hy Lạp
2.4.1 Giải pháp ngắn hạn
2.4.1.1 Sử dụng gói vay cứu trợ của EU, IMF
Để nhanh chóng thoát khỏi viễn cảnh kinh tế hiện tại, chính phủ Hy Lạp
quyết định đệ đơn xin cứu trợ từ IMF và Liên minh EU. Ngày 12/4 Bộ trưởng các

Những thành viên khu vực liên minh Châu Âu đã chào đón kế hoạch của
chính phủ Hy Lạp về chính sách tài khoá đó. Tuy nhiên, một số cho rằng hỗn hợp
tăng thuế và cắt giảm mặt chi tiêu chính phủ có thể dẫn đến thất nghiệp nghiêm
trọng hơn và đưa Hy Lạp đến tình trạng suy thoái nặng.
2.4.2.2 Thực hiện tái cấu trúc nợ
Theo các viên chức Hy Lạp, tái cấu trúc nợ sẽ là một thảm họa đối với
mức độ tín nhiệm của đất nước. Điều này sẽ dẫn tới việc Hy Lạp bị cách ly ra
khỏi các thị trường vốn, thậm chí khiến nước này thực hiện nhiều biện pháp
nghiêm khắc hơn nữa và sẽ lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề hơn nữa.
Qua chương này ta có thể nhận thấy khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã
làm rung động thị trường tài chính châu Âu và toàn cầu. Thị trường chứng khoán
thế giới đã có những phiên giao dịch diễn ra trong hoảng loạn và sự phục hồi kinh
tế thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng.
14
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP
CHO CHÍNH SÁCH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1 Thực trạng chính sách nợ công Việt Nam
3.1.1 Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay
Kinh tế-xã hội nước ta tuy vẫn đang trên đà phục hồi nhanh và phát triển
theo hướng tích cực với mức tăng trưởng khá ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, nhưng
còn gặp một số khó khăn. Ở trong nước, một số cân đối kinh tế vĩ mô có biểu hiện
chưa ổn định, cùng với hạn hán kéo dài và dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật
nuôi gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống dân cư.
3.1.2 Nợ công ở Việt Nam
Theo Luật Quản lý Nợ công Việt Nam số 29/2009/QH12 được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua
ngày 17 tháng 6 năm 2009, và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, thì Nợ
công Việt Nam bao gồm:
• Nợ Chính phủ.
• Nợ được Chính phủ bảo lãnh.

này đã làm cho nợ công năm 2010 tăng vọt lên mức 56,70%.
Chính những yếu tố bất ổn này là một phần nguyên nhân quan trọng đẩy nợ
công của Việt Nam tăng vọt trong 3 năm 2008-2010 (từ khoảng 44% năm 2008
lên 52,6% trong năm 2010). Giải thích cho sự cho sự gia tăng này là do trong giai
đoạn từ năm 2007 đến năm 2010, nợ công tăng lên chủ yếu do Nợ chính phủ tăng,
vì phát hành trái phiếu Chính phủ để huy động vốn đầu tư cho giao thông, thủy
điện, y tế, thủy lợi…Đặc biệt là các công trình có tầm cỡ quốc gia như đường cao
tốc Long Thành - Giầu Dây, cải tạo Quốc lộ 1, cầu Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận, dự án
lọc dầu Dung Quất, cảng Thị Vải
Vậy, nếu tính đúng và tính đủ, chỉ tiêu Nợ công mà hiện nay Việt Nam
công bố là khá thấp, con số thực tế sẽ phải lớn hơn rất nhiều, vượt xa mức trần.
Nếu theo những tính toán về nợ công theo thông lệ quốc tế, nợ công Việt Nam
đang thực sự trở thành mối lo ngại đến an ninh tài chính quốc gia.
Nợ nhà nước của một số quốc gia năm 2009
17

Nguồn: CIA
Nhưng dù tỷ lệ Nợ công/GDP đã vượt trần trong 2 năm vừa rồi, các cơ
quan chức năng của Việt Nam vẫn khẳng định nợ công của Việt Nam đang ở
ngưỡng an toàn, và nằm trong tầm kiểm soát.
Tuy nhiên, tỷ lệ Nợ công/GDP không phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá
ngưỡng an toàn của Nợ công, mà nó chỉ phản ánh quy mô của nợ công. Nếu lấy tỷ
lệ đó mà khẳng định nợ công an toàn thì chưa đủ cơ sở. Mức độ nguy hiểm của Nợ
công còn phụ thuộc vào các chỉ số khác như xu hướng phát triển của tỷ lệ nợ công,
hiệu quả sử dụng nợ, tình trạng của nền kinh tế, và quan trọng hơn cả là phương
thức phối hợp quản lý nợ công giữa các cơ quan liên quan.
18
3.2 Các giải pháp cho chính sách nợ công Việt Nam
3.2.1 Đảm bảo an toàn tài chính trong vay nợ nước ngoài
Việt Nam vẫn coi trọng vai trò của nguồn vốn vay nợ nước ngoài. Để phát

bảo phù hợp với tập quán thương mại quốc tế và hài hoà với thủ tục của các nhà
tài trợ và các bên cho vay vốn. Tăng cường công tác giám sát nợ ở tầm vĩ mô
thông qua việc thành lập Hội đồng quản lý nợ quốc gia, tăng cường vai trò giám
sát của Quốc hội, tổ chức giám sát các chỉ số về tình trạng nợ nhà nước của quốc
gia.
Cùng với đó phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay nước ngoài. Bố trí sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn vay nợ nước ngoài dựa vào nhu cầu cân đối vốn đầu
tư cho nền kinh tế trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể cũng như chính sách ưu
tiên của Nhà nước và điều kiện cấp vốn của các nhà tài trợ.
Cuối cùng cần kiểm soát có hiệu quả các nguồn vốn vay nước ngoài. Thành
lập các công ty tư vấn cấp quốc gia về đánh giá các chương trình, dự án và mua
sắm quốc tế nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về vay nợ nước ngoài.
Tiếp tục đơn giản hoá thủ tục hành chính; cần rà soát và loại bỏ ngay các thủ tục
rườm rà và tốn phí thời gian trong các khâu phê duyệt dự án, ký kết hiệp định, trao
đổi công hàm, trình tự và thủ tục rút vốn, cấp vốn đối ứng cần được xem xét lại
theo hướng đơn giản hoá các giấy tờ và cấp trung gian xử lý. Ban hành quy chế
theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án (trước, trong và sau khi kết thúc dự án). Sự
gia tăng các khoản vay nợ nước ngoài (vay ưu đãi, vay thương mại, trái phiếu,…)
có tác động khá tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, còn về lâu dài,
nếu thiếu cơ chế quản lý và sử dụng vốn kém hiệu quả thì sẽ tạo ra những tác động
tiêu cực đối với nền kinh tế và an toàn tài chính quốc gia. Cũng cần nâng cao năng
20
lực và trình độ cán bộ quản lý. Cần bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ thông thạo
chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ, kinh nghiệm quản lý hiện đại để
hoạch định chính sách vĩ mô về quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án
sử dụng vốn vay nợ nước ngoài, xác định chiến lược cơ cấu huy động vốn hợp lý
và cân đối với các nguồn lực khác, hướng dẫn quy trình thủ tục, tập huấn chính
sách nhiệm vụ về kinh nghiệm theo dõi dự án đánh giá dự án
Bên cạnh đó, Việt Nam cần khẳng định và thể hiện trong thực tế quyết tâm
đổi mới và cải cách để tranh thủ sự đồng tình của các tổ chức tài chính quốc tế và

• Sử dụng thuế (XNK), hàng rào thuế quan để hạn chế nhập khẩu những mặt
hàng không thiết yếu
• Sản xuất và sử dụng những mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu
• Chống thất thoát, tham nhũng và tiết kiệm triệt để.
Đây là những biện pháp vẫn hay thường đề cập tới, sử dụng các công cụ
của chính sách thương mại như thuế quan, hàng rào phi thuế quan, đồng thời đẩy
mạnh tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, tính hiệu quả của những biện pháp này thì
khó mà xác định được. Bởi vì vấn đề nằm ở chỗ có sự mất cân đối quá lớn giữa
nhu cầu nhập khẩu hàng ngoại và nhu cầu nhập khẩu của các nước đối với hàng
Việt Nam.
3.2.4 Tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Thứ nhất, trong khi giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng chung, thì phải
chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung cho sản xuất, kinh doanh, đặc
22
biệt là nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ,
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ hai, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh
hơn nữa tỷ lệ đầu tư ngoài ngành để tập trung cho lĩnh vực chuyên môn chính, vừa
để tránh rủi ro, vừa để phát huy lợi thế, tăng hiệu quả.
Thứ ba, là đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giảm thiểu chi phí, hạ giá
thành, giành lợi nhuận để tái đầu tư, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để giảm thiểu lãng
phí, thất thoát. Quan tâm, nâng cao chất lượng, trình độ tay nghề của đội ngũ lao
động.
Thứ tư, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài, có kế hoạch sử dụng
vốn cụ thể, hợp lý. Đồng thời, phải kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn, nhất là
những dự án đầu tư công giá trị lớn, tránh hiện tượng thất thoát, tham nhũng, đặc
biệt là các DNNN.
3.2.5 Cần minh bạch trong công bố thông tin vĩ mô
Hiện nay, Bộ Tài chính cũng đã bước đầu có những thông tin công khai về
nợ công trên website của mình nhưng mới chỉ dừng lại ở nợ nước ngoài chứ chưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status