Bài luận văn Đề tài Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của vú sữa lò rèn Vĩnh Kinh - Tiền Giang - môn kinh tế đối ngoại - Pdf 13

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
BÀI LUẬN VĂN
MÔN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU CỦA
VÚ SỮA LÒ RÈN VĨNH KIM-TIỀN GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh
1
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước có tiềm năng, thế mạnh về trái cây nhiệt đới, sản lượng
trái cây hàng năm cao, đa dạng về chủ loại, hương vị. Trong khi đó thị trường trái cây
thế giới luôn rất dồi dào, mức tăng bình quân hàng năm khoảng 3,6%. Đặc biệt khi
các loại trái cây nhiệt đới ngày càng được ưa chuộng hơn. Tuy nhiên, hiện trái cây
Việt Nam chưa có chỗ đứng trên thị trường xuất khẩu, chỉ có một vài loại trái cây có
thể xuất khẩu ra nước ngoài với một lượng khá khiêm tốn, chiếm một tỉ lệ rất thấp.
Ngay cả thị trường trái cây trong nước hiện cũng đang bị cạnh tranh bởi trái cây nhập
khẩu. Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong cạnh tranh này thì một
nguyên nhân lớn là do chất lượng trái cây Việt Nam chưa đáp ứng được tiêu chuẩn
của thế giới. Cụ thể, nó bắt nguồn từ quá trình sản xuất, khi các mô hình sản xuất
không đáp ứng được các bộ tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm như Global Gap.
Đối với phần lớn người sản xuất trái cây Việt Nam thì các bộ tiêu chuẩn này vẫn còn
2
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
là một điều xa lạ. Điều đó phản ảnh đúng bức tranh sản xuất – tiêu thụ trái cây Việt
Nam. Nói về các hàng rào kỹ thuật (chủ yếu là các tiêu chuẩn chất lượng), nó được tạo
nên nhằm hai mục tiêu chính là bảo vệ người tiêu dùng về vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm, và bảo hộ cho người sản xuất trong nước nhằm giảm sức ép cạnh tranh từ hàng
nhập khẩu. Các tiêu chuẩn này tuy đang là thách thức đối với nhà sản xuất – xuất khẩu
VN, nhưng nó cũng đem lại những tác động tích cực như: chất lượng hàng hóa cao

và kích cỡ trái tốt hơn nhờ đặc tính cây trồng và áp dụng kỹ thuật sản xuất mới.
Hiện nay, người nông dân đang trồng chủ yếu ba loại vú sữa chính: vú sữa lò rèn, vú
sữa nâu, và vú sữa bánh xe, trong đó diện tích vú sữa lò rèn chiếm tỉ trọng lớn nhất.
Nguyên do chính mà người nông dân chọn cây vú sữa lò rèn là sản lượng trái lớn,
đồng đều, trái vú sữa lò rèn có lớp vỏ mỏng, thơm ngon hơn các loại khác. Tuy nhiên
về kích thước, vú sữa lò rèn nhỏ hơn các giống vú sữa khác.
Thời điểm thu hoạch vú sữa bắt đầu từ tháng 10 và kéo dài đến hết tháng 4 năm sau.
Đây cũng là thời điểm mà sâu bệnh phát triển khá mạnh, vì thế cần tốn rất nhiều công
chăm sóc. Một đặc điểm khác, trái vú sữa thường chín không đều trên từng cây, vì vậy
làm cho thời gian thu hoạch trên từng cây bị kéo dài, và chia làm nhiều đợt. Cách thức
thu hoạch vú sữa của người nông dân còn khá thủ công, trái vú sữa được hái khá cẩn
thận, người nông dân hái từng trái, và thường sẽ cắt thêm một phần nhánh kèm theo
trái. Tìm hiểu nhiều hơn về vấn đề này, thì lý do chính là do vỏ trái vú sữa khá mỏng
và mềm, dễ bị dập nát, trầy xướt, điều này sẽ làm cho trái mất đẹp, và dễ bị hỏng, khi
đem ra bán thường sẽ bị dạt. Cũng vì lý do này, mà trong quá trình thu hoạch, cũng
như vận chuyển, trái vũ sữa cần được bao bọc
cẩn thận để trái va đập, trầy xướt. Khi quan sát
người nông dân thu hoạch vú sữa, họ thường
không cắt cuốn trái vú sữa, mà thường kèm
theo một đoạn nhánh vú sữa. Giải thích điều
này, người nông dân nói rằng “điều này sẽ giúp
cho trái vú sữa tươi hơn, để được lâu hơn mà
trái không bị héo do vẫn được nhành cây nuôi
trong nhiều ngày tiếp theo”.
Nhìn chung, cây vú sữa đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong thu nhập mỗi hộ
gia đình. Nếu trước đây, cây vú sữa được trồng chủ yếu với mục tiêu phi kinh tế, chủ
yếu là để lấy bóng râm và làm cây ăn trái thuần túy, thì ngày nay nhiều hộ gia đình đã
chuyển đổi hẳn diện tích nông nghiệp sang trồng cây vú sữa để làm kinh tế. Với giá
bán dao động từ 10.000 – 40.000 VNĐ/kg, hàng năm người nông dân có thể thu được
từ 1triệu – 4 triệu VNĐ/cây.

hợp tác xã cam kết với
người nông dân sẽ đảm bảo
cho mức giá thu mua của hợp tác xã đối với xã viên sẽ cao hơn mức giá thị trường.
Tuy nhiên đến nay, mục tiêu đó vẫn chỉ nằm trên dự định. Người xã viên vẫn phải
5
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
đem vú sữa bán ở bên ngoài (do không có hợp đồng ràng buộc người nông dân phải
bán vú sữa cho hợp tác xã) với mức giá thị trường do thương lái định ra. Mức giá mà
hợp tác xã đưa ra cũng không cao hơp mức giá của thị trường. Lý do khá đơn giản vì
nếu không thể xuất khẩu, hợp tác xã không thể tự định giá thu mua vì hợp tác xã chỉ
chiếm một tỉ lệ nhỏ trong thị phần thu mua vú sữa, không đủ sức để chi phối mức giá
thu mua. Một vấn đề khác làm các xã viên không bán hàng cho hợp tác xã là do yêu
cầu tiêu chuẩn của trái vú sữa quá cao của hợp tác xã mà người nông dân không thể
đáp ứng nổi. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trong quá trình mua bán giữa người nông dân
với thương lái và hợp tác xã như vấn đề vận chuyển, hình thức thu mua,…
Trong việc thu mua của thương lái, thì vấn đề giá cả là điều mà người trồng vú sữa
quan tâm nhất. Những năm gần đây, mức giá thu mua có chiều hướng tăng lên, nhưng
vẫn theo quy luật tăng cao ở đầu vụ và xuống thấp ở giai đoạn giữa và gần cuối vụ thu
hoạch. Trong mùa vụ vừa qua, mức giá này dao động từ 10.000 -50.000 VNĐ/kg. Tuy
nhiên mức giá này cũng dao động ngay trong ngày, thường cao về buổi sáng và giảm
dần về buổi chiều, chênh lệch mức giá vào hai thời điểm này là khoảng 1.000 -3.000
VNĐ/kg Giá thu mua vú sữa chịu tác động
chính từ các yếu tố như chất lượng trái, cầu
tiêu dùng, thương lái, bảo quản, vận chuyển.
-Chất lượng trái. Đây là yếu tố trực quan để
người thu mua định giá cho trái vú sữa. Người
thu mua dựa trên các tiêu chuẩn như trọng
lượng, kích thước, màu sắc, mức độ lành lặn
của vỏ, sâu bệnh… để phân loại và đưa ra
mức giá hợp lý. Trái vú sữa được chia là nhiều loại ứng với các chỉ tiêu trên. Thông

2011, hợp tác xã đã không xuất khẩu được hợp đồng nào. Tìm hiểu vấn đề này, thì có
ba nguyên nhân xoay quanh:
-Thứ nhất: Yêu cầu phía nhập khẩu đòi hỏi hợp đồng cung cấp ổn định trong thời gian
dài. Với sản lượng của xã viên hiện tại thì ta có đủ số lượng để cung cấp. Tuy nhiên,
chỉ một phần trong số đó là đạt yêu cầu để xuất khấu. Nguyên nhân là do yêu cầu chất
lượng của phía nhập khẩu quá cao hay chất lượng sản xuất vú sữa của người nông dân
quá thấp. Những phương án kỹ thuật đã được đưa ra nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm vú sữa, tuy nhiên tất cả đều không thành công do hoặc kỹ thuật không phát huy
được hiệu quả, hoặc tính khả thi không cao, không thể áp dụng đại trà. Vậy không
hoàn toàn lỗi thuộc về người trồng vú sữa, vì những yêu cầu của phía nhập khẩu quá
cao, một vài trường hợp lại vô lý. Ví dụ: những yêu cầu về độ đồng đều của quả,
không có mầm mống sâu bệnh trên vỏ quả, hay quả phải được xử lý cực tím là những
7
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
yêu cầu đã được quy định, hầu như phía xuất khẩu có thể đáp ứng được, trong khi đó
các yêu cầu như không được có vết sẹo, đường gân chỉ trên vỏ quả, độ trơn bóng của
quả phải đều… tất cả đều không hợp lý, vì theo người trồng vú sữa, những yếu tố này
không ảnh hưởng tới chất lượng cũng như độ ngon của trái, hơn nữa trong quá trình
canh tác không thể tránh được hết những yếu tố này. Tuy nhiên, phía nhập khẩu được
quyền đòi hỏi những điều này, vì từ lâu họ đã là những thị trường khó tính, và họ khó
tính với hầu hết các mặt hàng trái cây nhập khẩu chứ không riêng gì với trái vú sữa.
Vậy sai lầm ở đây có lẽ thuộc về hợp tác xã đã lựa chọn những thị trường quá khó tính
trong khi năng lực sản xuất vẫn chưa tương xứng. Có chăng hợp tác xã nên chuyển
hướng qua các thị trường dễ tính hơn để vừa tiêu thụ được sản phẩm, vừa lấy được
kinh nghiệm kinh doanh vừa tạo đựng được cơ sở vững chắc.
-Thứ hai: Vẫn là vấn đề về công nghệ bảo quản thấp của mặt bằng xuất khẩu Việt
Nam. Theo nhận định của một quản lý của một công ty kinh doanh trái cây thì để có
thể xuất khẩu một mặt hàng trái cây sang châu Âu cần ít nhất 20 ngày để tới được nơi
trưng bày, bán lẻ, và mất thêm 5 ngày nữa để đến được tay người tiêu dùng. Với thời
gian kéo dài như vậy, hầu hết các loại trái cây sẽ bị hư hỏng, không còn giữ được chất

chỉ là các xã viên mà tất cả mọi người, và tiêu chuẩn phân loại lựa chọn cũng không
gắt gao như trước. Tuy không xuất khẩu được nhưng nhiều xã viên (bán cho hợp tác
xã) vẫn vui vì họ có thể bán với giá cao hơn mà mà không gặp phải những khó khăn
như trước. Thực tế là hình thức thu mua mới này nhẹ nhàng và dễ chịu hơn cho người
xã viên và cho những người trồng vú sữa khác. Sản lượng thu mua trung bình vào
khoảng 4-6 tấn, vào những lúc đỉnh điểm sản lượng thu mua của hợp tác xã có thể lên
tới trên 8 tấn, là một trong những đại lý có công xuất thu mua lớn nhất. Mặc dù vậy,
đối với những xã viên tâm huyết vẫn tỏ ra thất vọng, vì theo họ tham gia vào hợp tác
xã là muốn cho trái vú sữa được xuất khẩu, được đi ra nước ngoài, muốn chất lượng
trái vú sữa được nâng cao chứ không phải quanh quẫn mãi ở thị trường nội địa, nếu
chỉ dừng lại như hiện nay thì sản xuất theo Global GAP cũng như thừa. Đi kèm với
những suy nghĩ đó, một số xã viên đang nghi ngờ vào năng lực hoạt động của ban
quản lý hợp tác xã. Ta sẽ phân tích về năng lực hoạt động của hợp tác xã trong phần
sau.
III.ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU CỦA VÚ SỮA LÒ RÈN:
Vú sữa là cây trồng nhiệt đới có lợi thế cạnh tranh xuất khẩu. Hiện nay trên thế giới,
Việt Nam và Úc là 2 nước có diện tích trồng vú sữa lớn nhất. Riêng Việt Nam tổng
diện tích vú sữa hiện nay là 1.100 ha. Trong 11 nhóm trái cây có thế mạnh cạnh tranh
xuất khẩu thì vú sữa có tên trong danh sách “vàng” này. Hiệp hội trái cây Việt Nam
đang khuyến khích phát triển loại cây trồng có giá trị kinh tế này. Thế nhưng có thể
9
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
thấy rằng hiện nay vú sữa Lò Rèn là giống trái cây ngon nổi tiếng thế giới được thị
trường châu Âu, châu Á ưa chuộng, ở Việt Nam vú sữa Lò Rèn được trồng nhiều nhất
ở xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Và vú sữa lò rèn nơi đây được
rất nhiều các thị trường quan tâm, ưu chuộng nên tiềm năng xuất khẩu hiện tại là rất
lớn và cả trong tương lai nữa, chính vì vậy cần có hướng sản xuất hiệu quả để đảm
bảo vấn đề xuất khẩu và vị trí của vú sữa lò rèn trong tương lai.
Vấn đề thứ hai đánh giá những tiềm năng quí báu cho con đường xuất khẩu của vú sữa
lò rèn Vĩnh Kim đó là việc vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim tiên phong trong sản xuất theo

thể đưa trái vú sữa xâm nhập vào thị trường nước ngoài nếu không thay đổi về cách
thức sản xuất.
Nổi bật trong vấn đề này là thói quen sản xuất của người nông dân không đảm bảo
các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hệ quả kèm theo là người nông dân không
thể chủ động trong vấn đề chất lượng sản phẩm, như: trái vú sữa kích cỡ không đồng
đều, không đồng nhất về chất lượng, vỏ quả bị bám các loại nấm, sâu bệnh, các vết
trầy xướt, nốt ruồi… Tất cả làm cho chất lượng trái vú sữa giảm, làm giảm khả năng
cạnh tranh của trái vú sữa, và cuối cùng làm giảm giá bán trái vú sữa, và người nông
dân không thể chủ động trong việc định giá bán cho trái vú sữa. Khó khăn khác cho
các nông hộ sản xuất theo Global GAP là chưa có cách nào để cho người tiêu dùng
phân biệt được sản phẩm trái vú sữa Global GAP với trái vú sữa không Global GAP
về cả mặt hình thức lẫn lợi ích sữ dụng. Để từ đó nâng mức giá tiêu thụ của trái vú sữa
Global GAP lên cao hơn, tương xứng hơn.
Chính những thói quen sản xuất theo những quan điểm của cá nhân sẽ làm cho chất
lượng trái vú sữa không đồng nhất, kích thước của mỗi trái cũng không đều nhau gây
khó khăn trong việc xuất khẩu và tham nhập vào những thị trường khó tính. Trong khi
những yêu cầu của các thị trường xuất khẩu là phải ổn dịnh một số lượng hàng trong
mỗi tháng, chất lượng về màu sắc, độ ngọt và kích thước từng trái phải như nhau, thế
nhưng với những quan điểm khác nhau về quá trình chăm sóc, mặc dù có đạt tiêu
chuẩn GAP nhưng sẽ gây khó khăn cho việc xuất khẩu, bởi không đáp ứng được
những điều kiện của các thị trường này ngoài việc đạt chuẩn GAP. Mặc khác với việc
sản xuất nhỏ lẻ, manh múng sẽ gây khó khăn trong công tác thu gơm và sẽ đẩy chi phí
lên cao do chi phí về vận chuyển thu gơm.
Về phía Hợp tác xã: Khó khăn lớn nhất mà Hợp tác xã vú sữa Vĩnh Kim gặp
phải là không đủ vốn hoạt động. Lượng vốn huy động của Hợp tác xã là không lớn,
11
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
chủ yếu đến từ đóng góp của ban quản lý, nên làm cho Hợp tác xã không chủ động
được trong các hoạt động của mình. Theo sau đó là thiếu nhân lực, đặc biệt Hợp tác xã
đang thiếu nhân lực cho mảng kinh doanh và marketing. Để bù đắp cho sự thiếu hụt

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
V.NHỮNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIÚP VIỆC XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ
RÈN ĐẠT HIỆU QUẢ HƠN:
Mặt dù những tiềm năng xuất khẩu của vú sữa lò rèn là rất lớn thế nhưng vẫn còn tồn
tại nhiều khó khăn và hạn chế làm cho tiến trình xuất khẩu vú sữa lò rèn gặp nhiều bất
lợi và không bền vững. Để khắc phục những hạn chế và khó khăn còn vướng phải cần
phải có những giải pháp thật sự hiệu quả, đúng hướng để có thể giúp cho quá trình
đưa trái vú sữa lò rèn tiếp cận người tiêu dùng của các thị trường khó tính nhất một
cách dễ dàng. Một số biện pháp cụ thể như sau:
Về vấn đề kỹ thuật và quan điểm sản xuất của các hộ gia đình, thường xuyên tổ chức
các buổi hội thảo tập huấn khuyến khích người dân duy trì và làm đúng theo những
yêu cầu của tiêu chuẩn GAP, giúp người dân có ý thức và hiểu rõ những lợi ích từ
việc đạt được tiêu chuẩn GAP cho sản phẩm trái vú sữa mình làm ra. Đồng thời với
những buổi tập huấn tập trung như vậy sẽ giúp người dân có cách chăm sóc và quan
điểm sản xuất giống nhau, từ đó sẽ sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng đồng
nhất đồng thời cũng đạt tiêu chuẩn GAP, đáp ứng được những nhu cầu và điều kiện
khắt khe của các thị trường khó tính nhất. Giúp cho tiến trình xuất khẩu cũng như
những hướng đi và việc kí kết giao ước của hợp tác xã với các đối tác xuất khẩu vú
sữa lò rèn diễn ra tốt đẹp và thành công hơn.
Cần có những chính sách ưu đãi về tín dụng cho các hợp tác xã để các hợp tác xã có
đủ năng lực về tài chính trong việc thu gom và xử lý sản phẩm, đáp ứng kịp thời
lượng vú sữa mà các thị trường yêu cầu. Có đủ năng lực về tài chính sẽ giúp các hợp
tác xã có đủ khả năng đầu tư các máy móc cũng như công nghệ hiện đại chế biến và
bảo quản trái vú sữa tốt hơn với thời gian bảo quản dài hơn, để vú sữa khi vào các thị
trường còn tươi xanh, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của trái vú sữa. Đồng thời
nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý các hợp tác xã để có những hiểu biết và
đưa ra những kế hoạch xuất khẩu phù hợp và mang lại lợi ích lớn cho hợp tác xã và cả
những lợi ích của người nông dân nữa.
Hợp tác xã vú sữa lò rèn cần hợp tác với trung tâm xúc tiến thương mại của tỉnh để có
những chiến lược và kề hoạch quảng bá, marketing trái vú sữa hiệu quả. Đồng thời tạo

khăn. Cần có những giải pháp khắc phục hiệu quả để cho các hợp tác xã đi đúng quỹ
đạo của nó.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu trái cây Việt Nam nói chung và vú sữa lò
rèn nói riêng cần xác định lại chiến lược xuất khẩu của mình, lựa chọn những thị
trường dễ tính, đi vào những phân khúc thị trường phù hợp với khả năng sản xuất của
mình. Nhất thiết không nên nôn nóng cho mục tiêu phải xuất khẩu vào thị trường lớn
(EU, Mỹ) mà dễ dàng vấp phải những khó khăn, rào cản. Việc quan trọng là tìm chổ
14
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG XUẤT KHẨU VÚ SỮA LÒ RÈN
đứng và khuếch trương thương hiệu trái cây Việt. Nhưng trước khi có thể làm được
những điều đó, điều kiện quan trọng nhất là nâng cao chất lượng trái cây, đưa chất
lượng trái cay vượt lên trên các yêu cầu kỹ thuật mà thế giới đặt ra.
Cơ hội vẫn còn đó, thách thức vẫn còn đó, điều quan trọng là người sản xuất – kinh
doanh – xuất khẩu trái trái vú sữa lò rèn có thể là dựa vào những điểm mạnh để khắc
phục những khuyết điểm, vượt qua những thách thức và nắm lấy cơ hội cho mình hay
không./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1)Trần Văn Hòe, 2009, giáo trình thương mại quốc tế, NXB Tài Chính.
2)Nguyễn Thị Hồng Thủy,2010, báo cáo tổng kết dự án khoa học công nghệ “Mở
rộng qui mô sản xuất vú sữa theo tiêu chuẩn Global GAP”.
3)Nguyễn Thị Hồng Thủy,2010, báo cáo tổng kết đề tài khoa học “Nhân rộng và phát
triển mô hình GAP vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim”.
4)Viet Linh, Nguyễn Văn Hòa – Võ Hữu Thọ, 25/10/2007,
sản xuất theo hướng chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
.
5)Thanh Hùng,2008, Vú sữa Lò Rèn rộng đường xuất khẩu,
/>6) Nguyễn Văn Đức, 2010, Quy trình sản xuất vù sửa lò rèn theo tiêu chuẩn GAP.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status