SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
PHẦN A
: MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
:
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết:
Thực trạng đáng lo ngại trong thời gian gần đây là học sinh ít thích học văn. Thực
trạng này đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của
những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư
luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây
mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện
nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận
thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh. Khi HS
tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi cơ bản của học sinh
như: dùng từ sai, viết câu sai, chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu
logic. Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, … Hơn thế nữa, có tình
trạng các em học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết
liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào
những phần sau. Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không
biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình.
Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động. Muốn khôi
phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng
biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học,
khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học
văn hiệu quả nhất. Trong những kĩ thuật dạy học mới, bản thân tôi tâm đắc nhất là sử
Cơ sở lí luận và thực tiến có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm
giải pháp của đề tài
1.1- Cơ sở lí luận của đề tài
Năm học vừa qua là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nỗ lực
đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích
ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước. Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi
mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được
hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn
trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Muốn được như vậy, đòi hỏi mỗi giáo
viên phải triệt để thực hiện theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy
tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy học.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị trí quan
trọng vì mang tính nhân văn rất cao. Bởi vậy, để học sinh học tốt môn Ngữ Văn ở
trường phổ thông nói chung, người giáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học,
phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu và áp dụng những hình thức, biện pháp tổ chức dạy
học mới, hiện đại, sinh động, đưa học sinh đến với môn học này một cách tự giác, bằng
niềm say mê thật sự. Có như thế mới đáp ứng được yêu cầu của môn học mang đậm
tính nhân văn này.
Có thể khẳng định rằng PPDH bằng BĐTD là một trong những PPDH hiện đại.
Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc tưởng tượng và
khả năng sáng tạo
1.1- Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trước đây trong giảng dạy, chúng ta đã từng sử dụng các mô hình, sơ đồ, biểu
đồ để cô đọng, khái quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài tổng kết các
chương, các phần của môn học hay các bài ôn tập. Cách làm này có thể nói đã đem lại
những hiệu quả thiết thực nhất định trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho
học sinh bởi cách trình bày gọn, rõ, lô-gic. Thế nhưng, bên cạnh những ưu điểm ấy,
cách làm này vẫn còn những hạn chế nhất định, bởi trước hết là cả lớp cùng có chung
cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học
Đào tạo (đã được tập huấn).
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Sử dụng bản đồ tư duy góp phần TCH
HĐ học tập của HS, Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009.
- Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy; Bản đồ tư duy-công cụ hiệu quả hỗ trợ
dạy học và công tác quản lý nhà trường, Báo Giáo dục&Thời đại, số 147 ngày
14/9/2010.
2.1.2- Cách tiến hành
- Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học nói
chung và bộ môn ngữ văn nói riêng với mục đích giúp HS xâu chuỗi khắc sâu kiến thức
sau mỗi giờ học đồng thời giúp HS hứng thú học tập bộ môn ngữ văn nhằm nâng cao
chất lượng học tập.
- Qua thực nghiệm trên lớp, tìm hiểu thái độ học tập của học sing, đối chiếu kết
quả học tập của học sinh trước và sau khi vận dụng, tham khảo sự đóng góp của đồng
nghiệp mà rút ra được những kết luận quan trọng cho đề tài.
2.2- Thời gian tạo ra giải pháp
Đề tài này tôi đã tiến hành từ tháng 10 năm 2011 đến nay.
PHẦN B: NỘI DUNG
I- MỤC TIÊU
- Mục tiêu của đề tài này giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả, các em có
ý thức rèn luyện kỹ năng tư duy rèn luyện thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo
BĐTD trong quá trình học để các em có được phương pháp học tốt,
- BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ
não. Học sinh trực tiếp vẽ BĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát
triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em
tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập,
không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ
dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình.
- Tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập.
- Phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
II- Mô tả giải pháp của đề tài:
đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh
chính, nối chúng với trung tâm.
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi ý
chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới
liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn (nếu có)) để minh họa cho các ý,
tạo tác động trực quan, dễ nhớ.
*Giáo viên lưu ý:
+Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý
của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn.
+Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.
+Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo
sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ.
+Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết
+Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình.
d. Quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp:
- Cho học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý của giáo viên.
- Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà
nhóm mình đã thiết lập.
- Học sinh cả lớp nhận xét, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của
bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh BĐTD,
từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
2. Cách sử dụng BĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học:
a. Làm quen với BĐTD:
* Đối với giáo viên:
Đỗ Thị Lệ Hoa Năm học: 2012-2013
4
SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liên
quan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến
trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt, )
Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung.
Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung: giáo viên cần tôn
trọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em. Mặt
khác, giáo viên cũng cần khuyến khích, biểu dương những BĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ
kiến thức trọng tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét,
màu sắc.
+ Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, ta có thể
hướng dẫn thêm cho các em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó. Đây
là điều rất mới mẻ, sáng tạo và tiết kiệm rất nhiều thời gian.
b. Các hình thức sử dụng BĐTD trong quá trình dạy học:
b
1
. Sử dụng BĐTD trong các hình thức kiểm tra:
Có thể dùng BĐTD để kiểm tra trong nhiều hình thức:
† Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra bài cũ:
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề của
kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ BĐTD thông qua câu
Đỗ Thị Lệ Hoa Năm học: 2012-2013
5
SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
hỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi định
hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ SĐTD
theo yêu cầu.
* Ví dụ:
Sau khi các em học xong tiết 26, bài “Truyện Kiều của Nguyễn Du”
trước khi tìm hiểu đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” (Tiết 27 trong PPCT), giáo viên
kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập BĐTD để củng cố kiến thức đã học ở tiết học
trước thông qua câu hỏi sau: Với từ khóa “TRUYỆN KIỀU” Hãy khái quát hiểu biết
của em về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “truyện Kiều” của ông ? Sau đó, giáo viên
* Ví dụ 1: Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập SĐTD minh họa với cụm
từ khóa sau: “SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG”.
b
2
. Sử dụng BĐTD trong dạy học bài mới và ghi bảng:
Lâu nay, việc sử dụng BĐTD như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học
bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng
BĐTD vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá, chiếm lĩnh kiến
thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến thức tiết dạy, bài dạy của
giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ Qua một quá trình thử nghiệm một số
tiết dạy, tôi nhận thấy rõ ràng cách làm này ta hoàn toàn có thể làm được. Không những
thế, việc kết hợp sử dụng BĐTD trong việc tổ chức dạy học bài mới với việc sử dụng
nó để cô đọng kiến thức thay cho việc ghi bảng lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian
trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép bằng
BĐTD. Đây cũng là việc làm rất cần thiết góp phần rèn luyện kĩ năng vẽ BĐTD cho
các em, nhất là những bài học nhằm giới thiệu, cung cấp kiến thức.
Ví dụ 1:
Đối với phân môn Tiếng Việt thì sử dụng BĐTD kết hợp việc dạy học bài mới với
việc ghi bảng càng dễ dàng hơn. Ví dụ khi dạy bài “Ôn tập Tiếng Việt” học kỳ II (Tiết
138). Sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cum từ trung tâm “ÔN TẬP TIẾNG
VIỆT” lên giữa bảng đen. Sau đó, dẫn dắt học sinh lần lượt đi vào tìm hiểu các nội
dung ôn tập theo trình tự SGK. Bắt đầu với việc hệ thống, củng cố kiến thức lý thuyết
thông qua các câu hỏi:
Chúng ta đã học qua những kiến thức nào phần tiếng Việt ở học kì II? Em hãy
nhắc lại ? (vẽ bốn nhánh chính ứng với bốn bài )
Thế nào là khởi ngữ? Làm thế nào để nhận biết khởi ngữ?
Đỗ Thị Lệ Hoa Năm học: 2012-2013
7
SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
Có những thành phần biệt lập nào? Cho ví dụ mỗi thành phần ? (vẽ 4 nhánh nhỏ,
SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được thảo luận, được ghi chép và vẽ SĐTD. Sau
đây là SĐTD minh họa:
2- Khả năng áp dụng:
a- Thời gian áp dụng có hiệu quả:
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung
và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng, tôi thấy bước đầu có những
kết quả khả quan. Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ
trợ đổi mới phương pháp dạy học. Biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố kiến
thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả
hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp
kiến thức môn học. Một số học sinh trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến
thức bài học ở mức đơn giản. Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc
ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng Việt.
b- Có khả năng thay thế giải pháp hiện có:
Vận dụng đề tài này, các em học tập tích cực hơn, sôi nổi hơn. Các em không còn tâm
lý chán học, ngại học môn Ngữ văn vì phải ghi chép nhiều. Trái lại, tất cả rất hào hứng
với việc học tập. Vì việc ứng dụng BĐTD không chỉ tạo tác động trực quan lôi cuốn
các em, mà còn giúp các em ghi chép bài gọn gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và nhẹ
nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép trước đây.
Học sinh sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học nhóm thì nó sẽ giúp các em phát huy
được tính sáng tạo đồng thời kết hợp sức mạnh của các cá nhân thành sức mạnh tập thể
để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. Sơ đồ tư duy tạo cho mỗi thành
viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn.
Do vậy, khẩ năng vận dụng BĐTD trong dạy và học để thay thế các giải pháp đã vận
dụng đối với môn Ngữ văn lớp 9 là khá cao.
c- Khả năng áp dụng
Đề tài này không chỉ áp dụng cho học sinh lớp 9 mà còn áp dụng cho các khối lớp
6,7,8. Tùy vào kiến thức và đặc điểm kiểu bài mà giáo viên linh hoạt thực hiện. Cũng
có thể thực hiện ở các bộ môn khác… không những chỉ ở trường THCS Hoài Thanh
gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học văn
hiệu quả nhất. Muốn đạt được điều đó, thì mỗi giáo viên bộ môn cần phải: Nắm chắc
được những thuận lợi, khó khăn, hiểu rõ thực tế lớp mình giảng dạy, dặn dò HS chuẩn
bị kĩ về kiến thức, về đồ dùng và phương tiện cần thiết để thực hiện giờ học BĐTD đạt
hiệu quả.
-Khi vận dụng chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho phép và
phù hợp chứ không nên lạm dụng BĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết dạy.
2- Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
Tóm lại, việc vận dụng BĐTD trong dạy học, kiểm tra, đánh giá sẽ dần hình thành
cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một
cách hệ thống, khoa học, đặc biệt là đối với học sinh ở cấp THCS hiện nay. Học sinh sẽ
học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy, hình
thành những con người linh hoạt tư duy sáng tạo trong tương lai, là những nhân tài góp
phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa đất nước ta ngày càng phát
triển. Vì vậy, việc tăng cường sử dụng BĐTD trong quá trình dạy học nói chung, trong
đó có dạy học Ngữ văn là việc làm rất cần thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu của phong
trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3- Đề xuất, kiến nghị:
a- Đối với giáo viên:
Cần phải nắm vững những hiểu biết, kiến thức cơ bản về sơ đồ tư duy: khái niệm,
cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp và những tiện
ích.
Cần có sự cân nhắc khi ứng dụng BĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra đánh giá,
tổ chức hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ môn Ngữ văn.
Cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế BĐTD tức là phải biết
chọn lọc những ý cơ bản, những kiến thức thật cần thiết.
Đỗ Thị Lệ Hoa Năm học: 2012-2013
10
SKKN: Một số kinh nghiệm ử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9
Cần đầu tư thời gian hợp lí vào việc soạn bài, lập trước các BĐTD cần