Tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – Học viện Quản lý Giáo dục - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống ngày càng có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều yêu cầu mới cho mỗi
cá nhân. Để hoàn thiện chính mình và đáp ứng yêu cầu của thời đại, mỗi cá
nhân đều phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết.
Sinh viên là lực lượng rất trẻ và chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập, lao
động. Thế nhưng họ đang phải đối mặt với những yêu cầu của hội nhập,
những thay đổi trong phát triển kinh tế và những vấn đề nảy sinh trong đời
sống xã hội. Do đó, việc trang bị những kỹ năng sống cho sinh viên trước khi
họ bước vào đời là một việc làm hết sức cần thiết.
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người thường gặp gỡ những người mà
mình chưa quen biết, vậy họ sẽ có những ứng xử như thế nào để phù hợp với
mình và mọi người xung quanh. Nhân dân ta có câu :“ Mất 4 phút để tạo ấn
tượng ban đầu nhưng phải mất 4 năm để xóa đi ấn tượng đó”. Do vậy, tạo ấn
tượng ban đầu với người khác là vô cùng quan trọng. Mặt khác, học để chung
sống là mục tiêu then chốt của giáo dục hiện nay. Đối với sinh viên của thời
đại mới, họ cần phải làm chủ cuộc sống và cần phải có những kĩ năng giao
tiếp cơ bản nhất. Ấn tượng ban đầu là “cửa ngõ” quan trọng của quá trình
giao tiếp, là điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển mối quan hệ lâu dài.
Vì thế, trong giao tiếp nếu ngay từ đầu ta gây được ấn tượng tốt đẹp với đối
phương thì quá trình giao tiếp tiếp theo sẽ diễn ra suôn sẻ, thuận lợi hơn và
ngược lại. Ấn tượng ban đầu tốt đẹp chính là chìa khóa thành công trong quá
trình giao tiếp tiếp theo.
Học viện Quản lí giáo dục mới thành lập và đang trong quá trình hoàn
thiện về mọi mặt.Các hoạt động chính khóa, ngoại khóa nhằm rèn luyện các
kỹ năng mềm cho sinh viên còn hạn chế. Mặt khác, chương trình đào tạo của
Học viện hiện nay còn nặng về lý thuyết, thời gian thực hành các kĩ năng nói
1
chung không nhiều, đặc biệt là kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
cho sinh viên. Ngoài ra, chính bản thân sinh viên cũng chưa đáp ứng được
yêu cầu mà nhà trường và xã hội đề ra.Thực tế đa số sinh viên chưa thực sự

dục.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tiến hành nghiên cứu tài liệu sách
báo liên quan đến việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao
tiếp, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp hệ thống hóa, xây dựng thành cơ
sở lý luận của đề tài.
5.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra khả năng giao tiếp của
sinh viên lớp K5B nhằm mục đích làm rõ thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng
tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục –
HVQLGD (Tiến hành xây dựng 1 phiếu hỏi cho sinh viên lớp K5A
5.3. Phương pháp quan sát: Quan sát tổng thể về lối sống, học tập, lao động…
của sinh viên lớp K5A nhằm thu thập thông tin cần thiết để đánh giá thực
trạng của việc rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh
viên lớp đó.
Quan sát, về lối sống, công việc học tập, mối quan hệ, mọi người xung
quanh… củamột số cá nhân cụ thể có khó khăn trong giao tiếp, đặc biệt là khó
khăn về kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu để có những định hướng phù hợp.
5.4. Phương pháp phỏng vấn: Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt
quá trình làm đề tài, tiến hành gặp gỡ, trao đổi phỏng vấn sinh viên lớp K5A
Khoa Giáo dục – HVQLGD nhằm tìm hiểu thực trạng việc tự rèn luyện kĩ
năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp, thu thập những thông tin cần thiết
tới vấn đề nghiên cứu
3
5.5. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý
kiến của giảng viên hướng dẫn để hoàn thiện đề tài nghiên cứu.
5.6. Phương pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp này để phân tích xử
lý các số liệu điều tra nhằm định hướng các kết quả nghiên cứu, thống kê tần
số, tính tỉ lệ %.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và sử dụng các số liệu thu được sau khi khảo sát, phân tích

2.2. Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu
trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.1. Thực trạng nhận thức của sinh viên lớp K5A về vai trò của kĩ năng
tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
2.2.2. Thực trạng trình độ kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong
giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.3. Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu
trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.4. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
Chương 3: Biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu
trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – HVQLGD
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban
đầu trong giao tiếp của sinh viên
3.2. Biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của
sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục - HVQLGD
3.2.1. Rèn luyện kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
5
3.2.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, đặc biệt là giao
tiếp lần đầu
3.2.3.Rèn luyện cách đặt vấn đề khi nói chuyện
3.2.4.Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong giao tiếp
3.2.5. Biện pháp xử lý tốt tình huống nảy sinh trong giao tiếp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỰ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
TẠO ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
1.1.Một số khái niệm công cụ
1.1.1.Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một phương thức tồn tại cơ bản của con người, do đó
những nghiên cứu về giao tiếp rất đa dạng và phong phú, bao trùm một phạm
vi tương đối rộng, từ lý luận đến những nghiên cứu thực nghiệm, xuất phát từ

phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác
- Giao tiếp diễn ra quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm, thế
giới quan và nhân sinh quan.
- Giao tiếp bao giờ cũng dẫn đến sự nhận thức và hiểu biết lẫn nhau
- Giao tiếp thể hiện mối quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội.
- Giao tiếp được tiến hành trong một thế giới nhất định và các diều kiện
cụ thể. Con người trong giao tiếp vừa là chủ thể, vừa là khách thể cảu giao
tiếp.
Từ cách hiểu về giao tiếp như vậy nên khi nghiên cứu đề tài này tôi đã sử
dụng khái niệm giao tiếp của tác giả B.B.Bogoxlovxki: Giao tiếp là sự tác
động qua lại giữa con người với con người trong đó diễn ra sự tiếp xúc tâm
7
lý, biểu hiện ở sự trao đổi thông tin , rung cảm lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau
và ảnh hưởng lẫn nhau.
Qua định nghĩa này chúng ta thấy giao tiếp là một hoạt động chỉ có ở con
người. Hoạt động này diễn ra trong mối quan hệ người – người nhằm mục
đích thiết lập sự tiếp xúc giữa con người với nhau, tạo sự hiểu biết lẫn nhau
làm thay đổi mối quan hệ giữa con người với con người, đồng thời còn tác
động đến thái độ, tình cảm, tri thức và toàn bộ nhân cách con người. Có thể
nói rằng giao tiếp là một trong những điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại của
con người và của cả xã hội loài người.
1.1.2. Khái niệm kĩ năng
• Quan niệm triết học về kỹ năng
Theo quan điểm triết học, kỹ năng có cả ở người và động vật.Cơ chế
tâm lý của sự hình thành kỹ năng ở người và động vật là hoàn toàn tương tự
như nhau. Tuy nhiên kỹ năng của con người là có ý thức còn kỹ năng của
động vật là không có ý thức. Về bản chất, quan điểm Triết học xem xét kỹ
năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động.Đó là những động tác máy móc,
do được lặp đi lặp lại nhiều lần mà thành. Đồng thời họ cũng khẳng định kỹ
năng chính là kết quả của hành động và có liên quan chặt chẽ với năng lực, là

+ Để có kỹ năng con người cũng phải biết cách thức hành động trong
những điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự luyện tập nhất
định.
+ Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người. Nó là biểu
hiện cụ thể của năng lực
Với cách nhìn nhận như trên, có thể đi đến một cách hiểu chung, khái
quát về kỹ năng như sau:
Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng
cách vận dụng những tri thức,kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù
hợp với những điều kiện nhất định.Kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ
thuật của hành động mà còn là biểu hiện về năng lực của chủ thể hành động.
[3]
1.1.3. Khái niệm ấn tượng ban đầu
9
Trong quá trình con người hoạt động và liên hệ với nhau thì nhận thức
về nhau là một yếu tố vô cùng quan trọng. Con người nhận thức về nhau nhờ
quá trình tri giác xã hội: họ quan sát, phân tích vẻ mặt, dáng điệu, lời ăn tiếng
nói, hành động… của nhau, để từ đó mà nhận thức được người khác. Từ nhận
thức đó mà chủ thể giao tiếp xác định những phương thức ứng xử của mình:
cách xưng hô, thái độ, cử chỉ hành vi cho phù hợp với đối tượng. Kết quả của
quá trình tri giác bị chi phối bởi nhiều yếu tố như ấn tượng ban đầu, sự quy
gán hành vi, các định kiến định khuôn khác nhau trong mỗi cộng đồng, mỗi
nền văn hóa.
Nói chung, tri giác của chúng ta về người khác thường dựa vào sự tìm
kiếm những ấn tượng phản ánh những đặc tính chủ yếu của nhân cách. Trong
quá trình tri giác đó thì những ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng, nó thường
hay kéo dài và chi phối thái độ hành vi của chúng ta trong “phút đầu gặp gỡ”
hay “lần đầu tiên gặp gỡ”. Cần phải xác định rõ ở đây ấn tượng ban đầu là ở
“phút đầu gặp gỡ” hay “lần đầu tiên gặp gỡ”:
- Nếu hiểu ấn tượng ban đầu là ở “phút đầu gặp gỡ “thì có thể nói ở cuộc

được một số nội dung cơ bản của việc tự rèn luyện như sau:
+ Để tự rèn luyện được thành công bản thân mỗi chủ thể phải thỏa mãn được
những điều kiện cụ thể: nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc cần rèn
luyện, phải thông qua những trải nghiệm khó khăn trong cuộc sống, biết nỗ
lực và vươn lên để đạt được kết quả cao.
+ Quá trình rèn luyện diễn ra từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp, thể hiện
được sự bền bỉ và tập trung vào những vấn đề cốt lõi để đạt được những phẩm
chất hay trình độ ở mức độ nào đó
Từ cách nhìn nhận cụ thể như trên có thể đưa ra khái niệm tự rèn luyện như
sau:
Tự rèn luyện là quá trình tự bản thân tập luyện một cách thường xuyên
liên tục để tạo ra những kĩ năng kĩ xảo trong lĩnh vực, hoạt động nào đó.
Trên cơ sở khái niệm tự rèn luyện có thể đi tới khái niệm tự rèn luyện kĩ năng
tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp như sau:
11
Tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp là quá trình
tập luyện của bản thân một cách thường xuyên liên tục để tạo ra được ấn
tượng ban đầu tốt đẹp với người khác về các mặt: diện mạo, lời nói, cử chỉ,
tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ, trang phục
1.2. Một số vấn đề chung về giao tiếp
1.2.1.Đặc trưng giao tiếp
- Giao tiếp mang tính bản chất xã hội. Bản chất xã hội thể hiện ở chỗ bất cứ
một giao tiếp nào cũng là một quan hệ xã hội, thông qua sự trao đổi, tiếp xúc
giữa con người với con người. Quá trình tiếp xúc này hình thành nên các
chuẩn mực, các giá trị, các nhu cầu, lợi ích… của xã hội cũng như nhóm xã
hội và cá nhân tham gia.Mặt khác mục đích, động cơ, phương tiện giao tiếp…
của mỗi cá nhân cũng đều do xã hội quy định, chế ước.
- Đặc trưng của giao tiếp xã hội là tính chủ thể trong giao tiếp.Quá trình giao
tiếp được thực hiện bởi những cá nhân cụ thể. Họ là chủ thể của sự trao đổi
hay tác động. Họ là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùng

bệnh “đói giao tiếp”. Theo M.M Selovannop: Những trẻ em lớn lên trong tình
trạng đói giao tiếp đều bị trì trệ rõ rệt trong sự phát triển tâm lý cũng như thể
chất của mình.
Theo B.Ph Lomov – vấn đề giao tiếp trong TLH: Nhu cầu giao tiếp có
liên quan đến các nhu cầu cơ bản của con người. Nó quy định hành vi của con
người không kém gì cái được gọi là nhu cầu sống. Điều đó là tự nhiên bởi
giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người
như thành viên của xã hội.
Như vậy, nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản của con người. Suốt cuộc đời
con người từ lúc mới sinh ra đến lúc chết con người luôn tồn tại nhu cầu này.
Nó được coi như thuộc tính cơ bản của cá nhân, xác định thái độ của cá nhân
đối với hiện thực và trách nhiệm đối với bản thân.
1.2.3. Đối tượng và phạm vi giao tiếp
Theo PGS.TS Ngô Công Hoàn và PGS.TS Hoàng Anh thì đối tượng
giao tiếp là các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, xóm làng, phố
13
phường, các đoàn thể mà chúng ta tham gia ở đó).Đối tượng giao tiếp rất
rộng, đa dạng và vô cùng phong phú.Ở các lứa tuổi khác nhau, công việc và
hoàn cảnh khác nhau thì đối tượng giao tiếp sẽ khác nhau.Những người tham
gia vào quá trình giao tiếp thường tác động lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của
nhau về tâm lý ý thức.
Đối tượng giao tiếp đã quy định một phần nào đó về phạm vi giao tiếp. Nếu
đối tượng phong phú thì phạm vi sẽ được mở rộng như chúng ta có đối tượng
giao tiếp là bạn bè cùng trường, bạn bè khác trường, banh bè quốc tế thì
phạm vi giao tiếp rất rộng từ môi trường đại học này đến môi trường đại học
khác và xuyên quốc gia. Và ngược lại nếu đối tượng nghèo nàn thì phạm vi
giao tiếp sẽ hẹp lại.
Đối tượng và phạm vi giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu giao tiếp và
sự phát triển hoàn thiện nhân cách con người nói chung và tới sinh viên nói
riêng.

bắt đầu tiếp xúc như thiện chí, hữu nghị hay lãnh đạm, quan tâm hay thiếu
quan tâm.
- Hành vi là một nội dung tâm lý quan trọng trong quá trình giao tiếp. Nó
được biểu hiện qua hệ thống những vận động của đầu, chân tay, nét mặt, ngôn
ngữ, ánh mắt sự vận động của toàn bộ những bộ phận trên hợp thành hành
vi giao tiếp
 Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội.
nội dung công việc mang tính chất tạm thời, xảy ra trong mối quan hệ người –
người.
Như vậy, nội dung giao tiếp luôn được thể hiện ở bất kì một quá trình giao
tiếp nào, đó là một trong những đặc trưng của giao tiếp. Nội dung giao tiếp
chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp giới tính của các chủ thể giao tiếp,
ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp cũng như
trạng thái tâm lý của chủ thể.
1.3. Đặc điểm của ấn tượng ban đầu
Đặc điểm nổi bật của ấn tượng ban đầu là nó có được sau lần tiếp xúc
đầu tiên. Nghĩa là trong hoàn cảnh hai bên chưa hề quen nhau, chưa hề gặp gỡ
15
nhau một lần nào cả, có thể đã có một số thông tin về nhau hoặc thậm chí
chưa hề có một thông tin gì về nhau. Những thông tin này có được có thể
thông qua bạn bè, từ những người xung quanh (đôi khi có những trường hợp
hai bên đã biết khá rõ về nhau qua nghiên cứu hồ sơ). Trên cơ sở những thông
tin ấy, họ sẽ dùng làm cơ sở để đánh giá phân tích tổng hợp về đối tượng.Vì là
buổi tiếp xúc đầu tiên, thời gian chỉ giới hạn trong một buổi tiếp xúc mà chủ
thể có những ấn tượng rõ nét hay mơ hồ về đối tượng.
Ấn tượng ban đầu là những là những ấn tượng chung, tổng thể về đối
tượng, là những nét khái quát nhất về đối tượng chứ không phải là những nét
riêng lẻ về đối tượng, chẳng hạn đó không phải là một nụ cười rạng rỡ hay
một bộ dạng lôi thôi, mà là những nét khái quát nhất trên cơ sở ta nhìn nhận
toàn diện về họ, ví dụ như đó là một người cởi mở hay lạnh lùng, điềm đạm

không thì quan hệ tiến triển sẽ rất khó khăn, hoặc không quan hệ nữa, vì
người ta thường tìm kiếm những thông tin phù hợp với thái độ sẵn có về đối
tượng
1.4. Vai trò của ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
Như đã phân tích, ấn tượng ban đầu là một hình ảnh tổng thể về người
khác trên cơ sở nhìn nhận họ một cách toàn diện từ hình dáng tác phong bề
ngoài cho tới đặc điểm nhân cách bên trong có được từ buổi tiếp xúc đầu tiên.
Do vậy ấn tượng ban đầu có vai trò rất quan trọng trong giao tiếp:
Thứ nhất: Ấn tượng ban đầu là những dấu hiệu sơ khai và chủ yếu là những
dấu hiệu bề ngoài nhưng chính nó lại là những tiền đề để hiểu, để phán đoán
và hành động với nội dung tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp.
Ấn tượng ban đầu là “cửa ngõ” quan trọng của quá trình giao tiếp. Trong cuộc
sống hàng ngày có vô số các cơ hội để gặp gỡ người này hay người khác, cho
nên nếu trong lần tiếp xúc đầu tiên mà đối tượng không gây được cảm tình
đối với ta thì sẽ khó có thể có lần giao tiếp tiếp theo và như vậy mối quan hệ
giữa hai người sẽ không thể thiết lập, nhưng nếu có ấn tượng tốt, người ta sẽ
17
có mong muốn được gặp lại đối tượng và như thế là một yếu tố quan trọng để
người ta xây dựng các mối quan hệ với nhau.
Thứ hai: Nó định hướng cho việc tìm kiếm những những thông tin về đối
tượng trong những cuộc giao tiếp tiếp theo, vì ấn tượng ban đầu cho ta ý niệm
chặt chẽ về đối tượng, nó là cơ sở để cho ta chọn lọc những thông tin phù hợp
với những gì ta đã biết về đối tượng và định giá những thông tin không phù
hợp
Thứ ba: Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người
khác, nắm bắt được những phản ứng của chúng ta và quyết định những hành
vi sắp tới mà không sợ mắc quá nhiều sai lầm. Ấn tượng ban đầu là hình ảnh
về đối tượng giao tiếp cho nên trước hết nó phụ thuộc vào đặc điểm của đối
tượng giao tiếp, đặc biệt là những đặc điểm bề ngoài như : đầu tóc, ăn mặc,
ánh mắt nhìn, nét mặt, nụ cười, tư thế, cử chỉ, điệu bộ, nói năng…

khác thì cần phải có ý thức tự rèn luyện. Do vậy, tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn
tượng ban đầu trong giao tiếp là quá trình tập luyện của bản thân một cách
thường xuyên liên tục để tạo ra được ấn tượng ban đầu tốt đẹp với người khác
về các mặt: diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ,
trang phục
Hiện nay, việc ứng dụng kĩ năng mềm vào trong cuộc sống cũng như
học tập đang rất được gia đình, nhà trường và xã hội coi trọng, kĩ năng tạo ấn
tượng ban đầu trông giao tiếp không là ngoại lệ. Tuy nhiên, việc tiếp cận và
19
nghiên cứu vấn đề này còn chưa được đầy đủ, toàn diện và sâu sắc.Học viện
Quản lý giáo dục đang trong những năm đầu đào tạo, đã đưa những phương
pháp dạy và học tích cực, lấy người học làm trung tâm, tuy vậy vẫn chưa đạt
kết quả cao.
Chính vì vậy, có thể nhận thấy một điều rằng công tác giáo dục và rèn
luyện kĩ năng sống, đặc biệt là kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
cho sinh viên là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn và rất cần thiết, nhất là
những sinh viên năm thứ nhất. Trong chương 1 của đề tài, tác giả đã trình bày
một số vấn đề liên quan đến kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp làm
cơ sở lý luận. Trong chương 2 tiếp theo đây, tác giả sẽ trình bày thực trạng
việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên
lớp K5A – Học viện Quản lý Giáo dục.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC TỰ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẠO ẤN TƯỢNG
BAN ĐẦU TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN LỚP K5A – HỌC
VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
2.1. Một số đặc điểm khái quát về sinh viên khoa Giáo dục
2.1.1. Sinh viên khoa Giáo dục
Học viện Quản lý giáo dục là cơ sở giáo dục Đại học trực thuộc Bộ GD &
ĐT, được thành lập theo quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cán bộ quản lý giáo dục và

học tập của mỗi sinh viên. Song không vì thế mà chất lượng học tập của sinh
viên Khoa Giáo dục kém đi, mà vượt lên những khó khăn đó, sinh viên trong
khoa luôn được đánh giá là có chất lượng học tập và rèn luyện khá cao (đặc
biệt là sinh viên TLGD khóa 1).
Học để chung sống là mục tiêu then chốt của Giáo dục hiện nay. Việc dạy
ở đại học là dạy cho sinh viên cách thức đi tới sự hiểu biết.Đứng trước xu thế
hội nhập sinh viên khoa Giáo dục còn phải trang bị cho mình những kĩ năng
sống cần thiết.Kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu nằm trong hệ thống các kĩ năng
giao tiếp, nhưng nó lại là cơ sơ và tiền đề cho quá trình giao tiếp. Để có được
sự thành thạo ấy đòi hỏi bản thân mỗi sinh viên phải tự rèn luyện và trau dồi
21
kiến thức cho mình. Sinh viên khoa Giáo dục rất tự tin, năng động nhưng vẫn
chưa có sự đồng bộ.Vậy làm thế nào để cải thiện tình trạng nêu trên?
2.1.2. Sinh viên lớp K5A
Lớp K5A nằm trong khoa Giáo dục của Học viện quản lý Giáo dục, là
những sinh viên năm thứ nhất của trường và tổng số học viên trong lớp là 51,
trong đó có 6 nam (chiếm 11,7%) và 45 nữ (chiếm 88,2%). Sinh viên trong
lớp đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước. Đa số sinh viên trong lớp là nữ,
cũng là đặc điểm chung của khoa Giáo dục. Đôi khi chính vì hoàn cảnh này
có ảnh hưởng tới tâm lý chung của các sinh viên trong lớp cũng như trong
khoa.
Lứa tuổi của các bạn sinh viên lớp K5A tập trung chủ yếu từ 18 – 19 tuổi,
xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau, có quá trình học tập, tu dưỡng đạo
đức khác nhau. Họ có một thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, luôn muốn
tự khẳng định, tự học, giao tiếp, kiếm sống theo cách riêng của bản thân.
Những yếu tố đó xuất hiện từ tuổi thiếu niên nhưng đến tuổi thanh niên mới
có cơ hội phát triển mạnh mẽ.Họ là những thế hệ trẻ và vừa bước chân vào
giảng đường đại học. Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục
tính độc lập, tự chủ, năng động cho sinh viên, giúp sinh viên có khả năng
thích nghi nhanh với cuộc sống và sinh hoạt, học tập ở nhà trường. Tuy nhiên

Mức độ
Rất quan
trọng
Quan
trọng
Bình
thường
Không
quan trọng
SL TL
%
SL TL
%
SL TL
%
SL TL
%
1 Là cơ sở, tiền đề cho quá trình
giao tiếp tiếp theo
35 68,6 12 23,5 4 7,9 0 0
2 Nó định hướng cho việc tìm
kiếm những những thông tin về
đối tượng trong những cuộc
giao tiếp tiếp theo
12 23,5 25 49,0 14 27,5 0 0
3 Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm
bắt được những đặc trưng của
12 23,5 25 49,0 10 19,6 4 7,9
23
người khác

- Với nội dung Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng
của người khác
24
Ở nội dung thứ baẤn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc
trưng của người khác khi chúng tôi đưa ra thì có tới 49% số sinh viên cho
rằng ở mức quan trọng và 23,5% số sinh viên cho rằng rất quan trọng, chỉ có
19,6% cho rằng bình thường và 7,9% số học viên cho rằng không quan trọng,
số học viên nhận thức được tầm quan trọng vẫn chiếm 2/3 trong tổng số sinh
viên trong lớp. Qua phỏng vấn một số thành viên trong lớp để tìm hiểu thêm
thông tin cũng như sự hiểu biết của họ về ấn tượng ban đầu, câu hỏi đặt ra tại
sao Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người
khác? Một số ý kiến cho rằng ngay từ đầu tiếp xúc ta có thể nhận ra người đó
cởi mở hay lạnh lùng, điềm đạm hay nóng nảy qua cách họ nói chuyện với
mình hay với người khác, đó là những nét đặc trưng về họ, do vậy mà yếu tố
này cũng quan trọng.
- Với nội dung Ấn tượng ban đầu bị chi phối bởi cảm xúc, do vậy nó ảnh
hưởng đến cách ứng xử về sau
Ở nội dung thứ tư Ấn tượng ban đầu bị chi phối bởi cảm xúc, do vậy nó
ảnh hưởng đến cách ứng xử về sau cũng có sư lựa chọn tương tự như các nội
dung trên. Tuy nhiên ở vai trò này mức độ bình thường lại được chọn nhiều
hơn mức độ rất quan trọng, chiếm tỉ lệ 29,4%. Khi được hỏi lý do bạn chọn
đáp án này thì họ trả lời rằng: Nhiều lý do cho rằng ấn tượng ban đầu bị chi
phối bởi cảm xúc là quan trọng vì cảm xúc, tâm trạng của mỗi người là khác
nhau, đồng thời do điều kiện thiếu thông tin, thời gian tiếp xúc lại quá ngắn,
cả hai bên sẽ không thể bộc lộ hết mọi tính cách của mình, sẽ khó khăn hơn
khi nhận diện đối tượng . Chỉ dựa vào sự quan sát bề ngoài như tác phong, cử
chỉ, lời nói…. Rồi dựa vào kinh nghiệm để phán đoán đối tượng sẽ không
tránh khỏi sự chủ quan phiến diện. Các bạn cũng chia sẻ là chính bản thân
mình đã gặp những tình huống do không làm chủ được cảm xúc, tâm trạng
mà làm ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp, ví dụ hôm đó có chuyện không vui


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status