274 Xây dựng mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại chuỗi cửa hàng bán lẻ CoopMart tại TP.HCM - Pdf 25

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính thiết thực của đề tài
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO một sân chơi công bằng và khắc nghiệt, buộc
chính phủ Việt Nam phải thay đổi việc quản lý mang tính bảo hộ một số ngành và từ
ngày 01/01/2007 các doanh nghiệp nước ngoài được quyền mở liên doanh bán lẻ tại
Việt Nam, sau đó kể từ 01/01/2009 được phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100%
vốn nước ngoài, đã khiến các nhà quản lý cũng như các doanh nghiệp trong nước “lên
cơn sốt”.
Thò trường bán lẻ Việt Nam, đất nước với hơn 86 triệu dân đang ngày một nóng
lên với sự tham gia dành thò phần của các tập đoàn hàng đầu trong và ngoài nước:
HaproMart, Satra, Parkson, Co.opMart, Metro, Maxi, Citimart, Vmart, Fivimart, G7,
24h, Shop & Go, Day & Night… Bên cạnh đó, các tập đoàn bán lẻ khác như: Giant,
Tesco, Carrefour, Walmart cũng đang trong quá trình xin giấy phép đầu tư vào Việt
Nam. Với nguồn tài chính hùng mạnh, nhiều kinh nghiệm trong lónh vực quản lý bán
lẻ, các tập đoàn nước ngoài đe dọa sẽ nuốt chửng các doanh nghiệp trong nước, độc
chiếm thò trường bán lẻ màu mở này.
Đứng trước thời cơ cũng như thách thức đó, Co.opMart một thương hiệu bán lẻ
hàng đầu của Việt Nam, Tốp 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương
trong các năm 2004-2005-2006-2007-2008 cần có những bước chuyển mình để đón
đầu, nâng cao tính chuyên nghiệp trong các công tác mua hàng, hậu cần, phục vụ
khách hàng tốt hơn tạo chổ đứng vẫn chắc trong lòng người tiêu dùng. Ngoài ra, việc
mở rộng chân rết của mình chiếm lónh thò phần trước tại các nơi mà hiện nay các
chuỗi bán lẻ chưa đủ điều kiện cũng như không thể đầu tư vươn tới được là một điều
hết sức cần thiết. Do vậy, làm sao để có thể thực hiện được những điều nêu trên trong
khi nguồn tài chính có hạn, hậu cần và tính chuyên nghiệp của mình vẫn còn chưa
cao so với các tập đoàn bán lẻ khác của thế giới? Trong phần đề tài của mình, em xin
trình bày một trong các phương thức có thể một phần giúp doanh nghiệp mở rộng
chân rết của mình giảm thiểu các chi phí đầu tư, cũng như có thể mang về doanh thu
cho mình. “Nhượng quyền thương mại Co.op Mart”. Đó là nội dung của vấn đề
nghiên cứu.


- Các cửa hàng kinh doanh bán lẻ nhỏ thành công tại các quận huyện tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tài liệu trong ngành bán lẻ
Tài liệu trong ngành Marketing
Tài liệu về Thương Hiệu
Tài liệu về nhượng quyền thương mại (franchise), …
4.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu

- Nhận dạng vấn đề
- Đặt giả thuyết điều tra
- Xây dựng bảng câu hỏi điều tra
- Chọn mẫu điều tra
- Chọn kỹ thuật điều tra
- Xử lý kết quả điều tra
5. Kết quả đạt được của luận án
- Về mặt lý luận
- Về thực tiễn
- Đề xuất
3
CHƯƠNG 1:
LÝ THUYẾT VỀ NHƯNG QUYỀN THƯƠNG MẠI (FRANCHISE)
1.1 Giới thiệu về nhượng quyền thương mại (Franchise)
1.1.1 Thương Hiệu – Nền tảng của hệ thống nhượng quyền thương mại
Trước khi đến đònh nghóa về Franchise, chúng ta nên tìm hiểu khái niệm về
thương hiệu vì sự hiện hữu của Franchise lại đặt trên nên tảng thương hiệu. Thương
hiệu không chỉ là cái tên, mà là 1 tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng các

mạnh là như thế nào?” mà tôi tâm đắc là:
- Một thương hiệu mạnh trước hết phải có sự khác biệt.
- Một thương hiệu mạnh phải có sự khác biệt, nhưng khác biệt về lâu dài.
- Được người tiêu dùng tin cậy.
Khác với các loại sở hữu hàng hóa thông thường, thương hiệu là một loại hàng
hóa trí tuệ, là tài sản quý nhất của một doanh nghiệp. Đó chính là lý do tại sao chủ
thương hiệu phải nên ghó đến chuyện làm thế nào để đánh bóng thương hiệu của
mình hơn; làm thế nào để xây dựng thương hiệu của mình ngày càng lớn mạnh hơn;
tạo độ trung thành cao của khách hàng đối với thương hiệu; hiệu quả hơn trong đàm
phán với khách hàng, nhà cung cấp; và làm thế nào để đem lại thêm nhiều nguồn lợi
4
kinh tế từ tài sản trí tuệ này. Franchise là một trong những phương thức có thể đáp
ứng những nhu cầu kể trên.
1.1.2 Khái niệm về nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh (gọi tắt là Franchise,
Franchising) dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt nhân rộng hương hiệu,
nhân rộng mô hình kinh doanh, có nhiều đònh nghóa về Franchise trên thế giới.
Theo Tiến Sĩ Lý Q Trung có viết trong tạp chí “Thành Đạt”: Franchise được
dòch ra tiếng việt là nhượng quyền thương mại. Cụm từ gồm 4 chữ nhưng vẫn chưa lột
tả đúng bản chất của mô hình kinh doanh này nếu không muốn nói là không đúng
nghóa. Về nội dung, Franchise là một phương thức hợp tác kinh doanh mà trong đó
chủ thương hiệu hay bên nhượng quyền cho phép bên nhận nhượng quyền được sử
dụng nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu … của mình để kinh doanh. Bù
lại, bên nhận nhượng quyền phải trả các khoản phí nhượng quyền cho chủ thương
hiệu, thành công của họ sẽ góp phần đáng kể làm tăng giá trò thương hiệu nói chung.
Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise
Association), hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đó đònh nghóa nhượng quyền kinh
doanh như sau: "Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên
giao và bên nhận quyền, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên
tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như : bí quyết kinh doanh

Ngoài ra còn có rất nhiều đònh nghóa khác nữa nhưng cũng vẫn dựa trên một số ý
cơ bản của các trích dẫn nói trên.
Tóm lại, theo tôi có thể hiểu Franchise chính là việc bên nhượng quyền cho phép
bên nhận nhượng quyền được tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa hay cung ứng
dòch vụ theo những điều kiện nhất đònh và bên nhận nhượng quyền phải trả cho bên
nhượng quyền một khoản phí.
1.1.3 Các hình thức nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product Distribution Franchise)
Đây là hình thức mà bên nhượng quyền cho phép bên nhận nhượng quyền phân
phối sản phẩm do mình sản xuất, dòch vụ của mình trong phạm vi khu vực và thời
gian nhất đònh. Bên nhận nhượng quyền có thể sử dụng thương hiệu (Brand), biểu
tượng, tên nhãn hiệu (Trade mark), logo, khẩu hiệu (slogan), … bên nhượng quyền sẽ
không nhượng lại cách thức kinh doanh. Bên mua Franchise sẽ quản lý điều hành cửa
hàng của mình khá độc lập, ít bò ràng buộc bởi những quy đònh từ phía chủ thương
hiệu, thậm chí có thể biến cung cách phục vụ và kinh doanh theo ý mình. Phương
thức này có nhận ra qua các đại lý nước giải khát Coca Cola, Pepsi, bia 333, tiger, lớp
xe casumina, ……
Nhượng quyền sử dụng cách thức kinh doanh (Business Format Franchise)
Là hình thức nhượng quyền phổ biến, còn gọi là nhượng quyền kinh doanh hay
nhượng quyền thương mại. Hình thức này chặt chẽ hơn hình thức trên, trong đó bên
nhượng quyền không chỉ cho phép bên bên nhận nhượng quyền được phân phối sản
phẩm dưới thương hiệu của người nhượng quyền mà còn chuyển giao kỹ thuật kinh
doanh, công thức điều hành quản lý và huấn luyện nhân viên cho bên nhận nhượng
quyền. Đây là sự khác biệt quan trọng so với hình thức trên vì bên nhượng quyền sẽ
chuyển nhượng cho bên nhận quyền tất cả các yếu tố để tạo nên một hệ thống đồng
bộ chẳng hạn như : phải chọn đòa điểm kinh doanh ở đâu, chuẩn bò sản phẩm như thé
nào, mua nguyên vật liệu ở đâu … Bên nhượng quyền cũng thường giúp bên nhận
nhượng quyền trong việc điều hành , quản lý cơ sở nhượng quyền. Ngược lại, bên
nhận nhượng quyền phải trả một khoản phí cho bên nhượng quyền, có thể là một
khoản phí trọn gói, có thể là một khoản phí hàng tháng dựa trên doanh số, và cũng có

mua Franchise sẽ được chủ thương hiệu chia cho đại lý Franchise độc quyền theo tỉ lệ
thỏa thuận. Thường thì phía Master Franchise sẽ được chi nhiều hơn vì phần lớn công
sức và chi phí để tìm kiếm và phát triển số người mua Franchise trong khu vực do
phía đại lý Franchise độc quyền gánh chòu.
Đây là hình thức phổ biến nhất và nhanh nhất trong việc đưa thương hiệu xâm
nhập vào thò trường nước ngoài. Với hình thức này, chủ thương hiệu đã chuyển hầu
như toàn bộ gánh nặng về phát triển thương hiệu ở khu vực đó cho bên mua master
Franchise.
Phương thức nhượng quyền phát triển khu vực “Area Developer”
Đây là hình thức trung gian của master franchise và single-unit franchise. Người
mua franchise phát triển khu vực sẽ được độc quyền trong một phạm vi và thời gian
nhất đònh. Đối tác mua franchise phát triển khu vực không được bán franchise cho bất
cứ ai nhưng cũng không phải cung cấp các dòch vụ cho ai như đối với trường hợp
master franchise. Để được độc quyền trong một khu vực nhất đònh, người mua
franchise phát triển khu vực phải trả một khoản phí franchise ban đầu tương đối cao
và phải cam kết phải phát triển bao nhiêu cửa hàng theo một tiến độ thời gian đã ghi
rõ trong hợp đồng đã được thống nhất với chủ thương hiệu. Nếu không đáp ứng đúng
những thỏa thuận trong hợp đồng, doanh nghiệp này sẽ bọ mất ưu tiên độc lập tương
tự như đối với trường hợp master franchise.
Phương thức nhượng quyền liên doanh “Join-Ventures”
7
Với hình thức này chủ thương hiệu sẽ liên doanh với một đối tác khác tại khu vực
mà phía chủ thương hiệu muốn Franchise và liên doanh này sẽ đóng vai trò là một
đại lý Franchise độc quyền. Việc lựa chọn đúng công ty đối tác để liên doanh là tối
quan trọng vì một khi chọn nhầm đối tác cả thò trường xem như bế tắt. Trong nhiều
trường hợp, chủ thương hiệu góp vốn vào liên doanh bằng chính thương hiệu, bí quyết
kinh doanh và đôi khi thêm tiền mặt và quy ra tỉ lệ phần trăm vốn góp tùy thỏa thuận
giữa hai bên. Đối tác liên doanh thường góp vốn bằng tiền mặt và kiến thức sự am
hiểu về thò trường tại khu vực mà phía liên doanh đang đóng.
1.1.4 Một số ngành, lónh vực thường nhượng quyền thương mại

hộ các đối tác franchise tiềm năng, và có nhiều ưu đãi đối với các khách hàng này
trong quá trình huy động vốn kinh doanh.
Giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tích lũy kinh nghiệm để tạo tiền đề phát triển.
Thông qua hoạt động này, họ sẽ dần nắm bắt được những cách thức trong quản lý,
8
kinh doanh, phân phối, tiếp thò,… và giúp họ tự tin hơn cho hoạt động kinh doanh của
riêng mình sau này.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới. Với sự
giúp đỡ qua lại từ phía người nhượng quyền, người nhận nhượng quyền. Các doanh
nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận với khoa học công nghệ mới, trình độ kỹ thuật quản lý
tiên tiến
Chi phí thấp : đây là một kết luận của hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế
tổng kết, một đặc trưng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, những người muốn làm chủ
kinh doanh thương hiệu nổi tiếng nhưng không đủ vốn. Bằng phương thức kinh doanh
nhượng quyền này, người nhận nhượng quyền không những không tốn khoản phí để
xây dựng thương hiệu mà họ còn chia sẻ chi phí này với chủ nhượng quyền và các
cửa hiệu franchise khác.
Giúp chủ thương hiệu nhanh chóng chiếm lónh thò trường trong và ngoài nước. Đây
là cách nhanh nhất và an toàn nhất để chiếm lónh thò trường vì chủ thương hiệu sẽ
chia sẻ những rũi ro, vốn đầu tư của mình cho người nhận quyền.
Thỏa mãn tốt cả bên mua và bên bán : về phía người bán, họ sẽ cung cấp ra thò
trường những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, chất lượng đảm bảo, hoạt động
quản cáo, huấn luyện nhân viên cũng được bên nhượng quyền quan tâm và hỗ trợ từ
đó uy tín của họ sẽ tăng lên. Về phía khách hàng, ưu điểm của một cửa hàng nhượng
quyền là cảm giác thoải mái, yên tâm với chất lượng sản phẩm mình đang sử dụng.
Nhược điểm
Chi phí thành lập một cửa hàng franchise thường cao hơn 40% so với chi phí bỏ ra
kinh doanh một cửa hàng độc lập. Do có nhiều chi phí phát sinh trong quá trình khi
mua franchise.
Tính lây lan trong hệ thống: có sự phụ thuộc lớn giữa các cửa hiệu nhượng quyền

hiệu lực.
Phí franchise thực chất là giá mà người nhượng quyền bán cho người nhận nhượng
quyền và sản phẩm đây là mô hình kinh doanh nhượng quyền tùy theo hình thức được
đề cập ở trên. Với mỗi thương hiệu khác nhau thì chắc chắn mức phí này sẽ có sự
khác nhau. Việc đònh giá cho sản phẩm của mình nói chung lúc nào cũng khó khăn
và cần có nhiều sự cân nhắc. Đònh giá franchise cũng vậy, cần cân nhắc nhiều yếu tố
khác nhau :
Đầu tiên là mức độ nổi tiếng của thương hiệu, một yếu tố rất khó đònh giá, một
thương hiệu nổi tiếng sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho người được nhượng quyền hơn,
và phí nhượng quyền sẽ cao đối với những thương hiệu nổi tiếng hơn như :
MCDonald’s (500.000 USD - 1,5 triệu USD), KFC (250.000 USD - 300.000 USD), 7-
Eleven (150.000 USD - 750.000 USD), Kinh Đô (30.000 USD), nước mía siêu sạch
(80 tròêu VNĐ).
Phí franchise còn phụ thuộc vào đòa điểm nhượng quyền. Những nơi có khả năng
tiêu thụ tốt, tiềm năng phát triển tốt thì chi phí nhượng quyền sẽ cao hơn. Hay những
khu vực nào có mức sống cao thì chi phí nhượng quyền cũng sẽ cao. Điển hình Phở
24 nếu nhượng quyền tại Việt Nam đối tác phải bỏ ra từ 7.000USD – 10.000USD,
nhưng nếu nhượng quyền tại nước ngoài phải mất từ 12.000USD – 15.000USD.
Ngoài ra, phí franchise còn khác nhau tùy thuộc vào ngành nghề franchise. Không
phải ngành nghề nào cũng có cách tính phí nhượng quyền giống nhau vì lợi nhuận và
thời gian hoàn vốn sẽ khác nhau.
Phí nhượng quyền bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí duy trì thương hiệu
hàng tháng. Ngòai ra, các chi phí khác như phí bất động sản, máy móc thiết bò, thiết
kế, trang trí nội thất, bàn ghế,... không được tính là phí nhượng quyền nhưng vẫn
được chủ thương hiệu yêu cầu đầu tư để đảm bảo tính đồng bộ. Ngân sách dành cho
quảng cáo (chi phí marketing, truyền thông, …) được trả đònh kỳ, khoản tiền này
thường được đưa vào tài khoản chung để sử dụng vào chiến dòch quảng cáo hay
khuyến mãi cho cả hệ thống trên phạm vi đòa phương hay toàn hệ thống.
Phí nhượng quyền ban đầu (initial fee) bao gồm quyền sử dụng tên và hệ thống
sản xuất, điều hành, phí này còn dùng trang trải cho việc đào tạo theo chế độ, những

1.2 Quá trình phát triển của nhượng quyền thương mại
1.2.1 Quá trình phát triển
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện
vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu. Tuy nhiên, họat động nhượng quyền kinh
doanh (hay nhượng quyền thương mại) đã chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát
triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký
kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác mình.
Franchise được phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế Chiến II
kết thúc). Với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và hệ thống kinh
doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự
phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương
thức này. Từ những năm 60, Franchise trở thành phương thức kinh doanh thònh hành,
thành công không chỉ tại Mỹ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp, …
Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Mỹ và một số nước Châu u
trong lónh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn – nhà hàng đã góp phần “truyền
11
bá” và phát triển Franchise trên khắp thế giới. Hoạt động Franchise đã có mặt tại hơn
150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh
theo phương thức nhượng quyền.
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và
quảng bá hoạt động Franchise đã được thành lập. 1960 một số nhà nhượng quyền liên
kết lại và thành lập nên Hiệp Hội Franchise quốc tế IFA (International Franchise
Association) để bảo vệ hoạt động franchise và nghiên cứu sâu hơn về lónh vực này,
và có khoảng 30000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp mua, bán Franchise. 1979
Ủy Ban Thương Mại Liên bang (the Federal Trade Commission) viết tắt FTC đã đưa
ra các quy đònh về hoạt động Franchise từ đó hoạt động franchise trở nên matnh mẽ
và nhanh ở Mỹ. Điển hình là Hội đồng Franchise Thế giới (World Franchise
Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên là các hiệp hội Franchise của nhiều
quốc gia. Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho
các nền kinh tế quốc gia đã được thực hiện như :

để các tập đoàn này bán Franchise ra khắp Châu Á. Thông qua đó, hoạt động
Franchise của Trung Quốc trở nên ngày càng phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã
thay đổi thái độ e dè chuyển sang khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh
bóng” trên thò trường quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bò
cho kế hoạch đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là một
trong những động thái quan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang nóng của Trung
Quốc.
Ở Việt Nam franchise được manh nha xuất hiện vào giữa thập niên 90, khi mà
đồng loạt xuất hiện hệ thống các quán càphê Trung Nguyên trên khắp mọi miền đất
nước. Mặc dù cách làm của Trung Nguyên lúc đó không hoàn toàn là franchise,
nhưng cũng phần nào thể hiện được những đặc trưng cơ bản của phương thức
franchise.
Năm 2004, Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới (WFC) đã tiến hành một
cuộc điều tra khẳng đònh rằng: đã tồn tại hơn 65 hệ thống franchise hoạt động tại
Việt Nam đa số là các thương hiệu nước ngoài. Mặc dù còn khá ít so với các quốc gia
láng giềng, nhưng với tình thế hiện nay, khi franchise đã được luật hóa, Việt Nam
chính thức bước qua cửa WTO, đã có nhiều nhận đònh rằng hoạt động franchise sẽ
phát triển như vũ bão.
1.2.2 Vai trò của nhượng quyền thương mại trong quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế
Vai trò của nhượng quyền thương mại đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
 Sự cần thiết bán Franchise

Nhân rộng mô hình kinh doanh: phần lớn các doanh nghiệp muốn nhân rộng mô
hình kinh doanh của mình khi đã đạt được thành công. Tuy nhiên, khó khăn thường
gặp không ít thì nhiều ở các doanh nghiệp khi muốn mở rộng mô hình kinh doanh của
mình là tài chính. Ngòai vấn đề ngân sách, các yếu tố khác như đòa lý, con người,
kiến thức văn hóa đòa phương, … cũng là những trở ngại không nhỏ. Phương thức
nhượng quyền kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp chia sẻ khó khăn nêu trên cho bên

chọn đòa điểm cửa hàng, tiếp thò, quảng cáo,… Sau khai trương được hỗ trợ nhiều mặt,
trong đó nổi bật là khâu tiếp thò, quảng cáo và tái đào tạo.
Dễ vay tiền ngân hàng: do xác suất thành công cao hơn, nên các ngân hàng
thường tin tưởng hơn trong việc xét duyệt cho các doanh nghiệp mua franchise vay
tiền.
Chi phí quảng cáo, tiếp thò thấp hơn: các cửa hàng riêng lẻ trong hệ thống
franchise không phải tốn nhiều chi phí quảng cáo cho thương hiệu như đối với trường
hợp đứng ra kinh doanh độc lập. Chi phí quảng cáo chung thường được chủ thương
hiệu và tất cả cửa hàng trong hệ thống franchise chia sẻ nên có thể quảng cáo được
nhiều mà chi phí chia ra cho từng cửa hàng lại ít đi. Ngoài ra, do gộp chung với số
lượng lớn chi ohí quảng cáo cũng có thể được giảm.
Tự làm chủ lấy mình: Tuy phải tuân thủ nhiều quy đònh, hướng dẫn chung cho hệ
thống franchise nhưng người mua franchise có thể tự quyết đònh rất nhiều trong công
việc hàng ngày, giống như người chủ doanh nghiệp.
Nhãn hiệu được bảo hộ sẵn: đa số các thương hiệu, nhãn hiệu khi bán franchise đã
được đăng ký bảo hộ tại nhiều nước. Một khi chủ thương hiệu đã đăng ký bảo hộ rồi
thì người mua franchise không phải tốn chi phí này và khi có ai đó vi phạm bản
quyền thì sẽ được chủ thương hiệu hỗ trợ trong việc khiếu kiện.
Vai trò của nhượng quyền thương mại đối với nền kinh tế
Hoạt động nhượng quyền sẽ làm tăng sức mua trên thò trường vì sự mở rộng nhiều
cửa hàng, kênh phân phối của những thương hiệu nổi tiếng.
Giúp cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn và cơ hội sử dụng những hàng hóa chất
lượng hơn.
Giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động đây là vai trò quan trọng của
hoạt động này. Bên cạnh đó, họat động franchise còn đem lại cho nền kinh tế doanh
thu không nhỏ. Ở Việt Nam do hoạt động này còn khá mới mẻ nên chưa có một số
thống kê cụ thể là doanh số đem lại bao nhiêu và giải quyết công ăn việc làm cho
bao nhiêu lao động. Nhưng đối với các quốc gia có hoạt động nhượng quyền thì con
số này không nhỏ.
14

chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, những đối tượng nào được chuyển giao là đối
tượng của sở hữu công nghiệp thì vẫn chòu sự chi phối của luật pháp về sở hữu trí tuệ.
Kể từ năm 2006, franchise chính thức được luật hóa và công nhận. Luật thương
mại mới ra đời ngày 14/06/2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006) đã dành nguyên mục
8 Chương VI để quy đònh về hoạt động nhượng quyền thương mại. Tại điều 284 đến
291 nêu đònh nghóa về nhượng quyền thương mại, quyền và nghóa vụ của bên nhượng
quyền và nhận quyền, hợp đồng nhượng quyền đăng ký nhượng quyền.
Và sau đó không lâu, Chính Phủ ban hành nghò đònh 35/2006/NĐ-CP ngày
31/03/2006 quy đònh chi tiết luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại,
đến ngày 25/05/2006 thì Bộ Thương mại ban hành thông tư 09/2006/TT-BTM hướng
dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền giúp cho việc đăng ký hoạt động nhượng quyền
rõ ràng hơn. Đây chính là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất, tương đối đầy đủ để
điều chỉnh và tạo điều kiện cho franchise phát triển tại Việt Nam.
15
Mặc dù hoạt động nhượng quyền ở Việt Nam đã được luật hóa và đã có những
quy đònh cụ thể nhưng vẫn còn nhiều điều đáng bàn.
Khái niệm “thương hiệu” chưa được bảo hộ về mặt pháp lý nên chưa thể coi là tài
sản có thể chuyển nhượng. Trên thực tế, Tổng cục thuế có công văn 3539, ra ngày
20/09/2006 không công nhận giá trò thương hiệu. Tất nhiên, những đối tượng như
nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, tên thương mại là
những yếu tố tạo nên thương hiệu nhưng chưa đủ. Ở Việt Nam, khái niệm thương
hiệu thường được hiểu đồng nghóa với nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, khái niệm
thương hiệu thực tế rộng hơn nhiều, nó có thể là bất cứ cái gì được gắn liền với sản
phẩm hay dòch vụ làm cho chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt hóa với sản
phẩm cùng loại.
Ngoài ra, theo điều 142 thì tên thương mại, một đối tượng của hoạt động nhượng
quyền cũng không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng. Như vậy, điều này sẽ
tiềm ẩn những khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhượng quyền.
Bên cạnh đó, pháp luật về nhượng quyền thương mại còn có sự chồng chéo trong
các văn bản luật, chưa có sự kết nối phù hợp giữa luật thương mại 2005, Luật dân sự

quyền cố tình đưa những thông tin sai lệch cho người nhận nhượng quyền thì họ sẽ
chòu trách nhiệm trước pháp luật tùy theo mức độ.
Hội Đồng Thương Mại Liên Ban Hoa Kỳ (The US Federal Trade Commission –
FTC) “Franchise là một hợp đồng hay thỏa thuận giữa ít nhất 02 người, trong đó:
người mua Franchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dòch vụ theo cùng
một kế hoạch hay hệ thống tiếp thò của người chủ thương hiệu. Hoạt động kinh doanh
của người mua Franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thò gắn
liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và những
biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu. Người mua Franchise phải trả một
khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí Franchise”. FTC lại nhấn mạnh tới việc
Bên giao quyền kinh doanh hỗ trợ và kiểm soát Bên nhận trong hoạt động. FTC yêu
cầu bên nhượng quyền cung cấp toàn bộ thông tin cho bên nhận quyền thông qua
UFOC tài liệu chỉ ra hạng mục chi tiết mà bên nhượng quyền phải cung cấp cho đối
tác mua tiềm năng và phải được trao đổi cho đối tác trước khi kết hợp đồng nhượng
quyền. FTC yêu cầu franchisor phải cung cấp tài liệu UFOC tại cuộc họp trực tiếp
đầu tiên hoặc chậm nhất 10 ngày trước khi bất kỳ thỏa thuận nào được ký kết hoặc
phí đầu tư cho hoạt động nhượng quyền đã được thanh toán. Nếu không thực hiện bên
nhượng quyền có thể bò thua kiện bởi người nhận quyền của mình. Ở Mỹ mỗi bang có
thể có yêu cầu về tài liệu UFOC riêng biệt nên nhiều franchisor còn có tài liệu
UFOC cho riêng mỗi tiểu bang hoặc cũng có thể gộp hệt yêu cầu của các bang vào
một tài liệu. Bất kể ngành nghề kinh doanh, quy mô và các yếu tố khác. UFOC tại
Mỹ gồm nhiều khoản bắt buộc rất cụ thể.
Từ những thông tin mà FTC yêu cầu bên nhượng quyền phải cung cấp đầy đủ cho
bên nhận quyền. Từ các thông tin trên pháp luật Việt Nam về franchise cần có những
yêu cầu thật cụ thể và ràng buộc chặt hơn giữa bên nhượng quyền và nhận quyền.
Pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Mêhicô
Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc nhượng quyền kinh doanh về mặt hỗ trợ
kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyển giao "kiến thức kỹ
thuật" (technical knowledge) để bán sản phẩm, hoặc dòch vụ đồng bộ và có chất
lượng. Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy đònh:

nền kinh tế đang phát triển. Lợi ích trong nhượng quyền thương mại đến từ cả ba
bên trong mối quan hệ bên nhượng quyền – bên nhận quyền và người tiêu dùng.
1.4 Một số hệ thống nhượng quyền thương mại điển hình trên thế giới và Việt
Nam
1.4.1 Một số hệ thống nhượng quyền thương mại điển hình trên thế giới
Chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh Mc Donald’s
Năm 1954, Ray Kroc-một người bán máy pha chế nước uống đa năng đó quyết
đònh đến thăm một khách hàng quan trọng ở San Bernadino bang Califonia vì cửa
tiệm vừa đặt mua tới 10 cái máy pha chế trong khi một tiệm ăn bình thường chỉ sử
dụng có một máy. Khi đặt chân đến tiệm ăn này, Ray Kroc thật sự kinh ngạc khi thấy
hàng dài người xếp hàng phía trước nhà hàng chỉ để mua chiếc bánh Hamburger kẹp
thòt với giá 15 cent (rẻ hơn đối thủ cạnh tranh rất nhiều). Điều thú vò là ở chỗ phương
thức bán hàng của hai anh em Dick McDonald và Mac McDonald-chủ tiệm ăn nói
trên. Đó là thức ăn được bán thông qua các ô cửa sổ, nhân viên làm việc tất bật và
khoa học, thực đơn thật đơn giản với vài món. Kroc nhận ra ngay mô hình kinh doanh
này có chi phí điều hành rất thấp và có thể nhân rộng dễ dàng.
Anh em nhà Mac cũng đã từng triển khai việc nhân rộng mô hình kinh doanh
nhưng không thành công. Vả lại họ cũng đã rất thỏa mãn với khoản doanh thu đạt
được từ chính cửa hàng của mình nên không thích bành trướng chuyện làm ăn ra khỏi
khu vực sinh sống. Ray Kroc chớp lấy cơ hội và thuyết phục anh em nhà Mac ký hợp
đồng ủy quyền cho mình như một đại lý Franchise độc quyền dưới tên công ty
McDonaid’s System mà sau đó đổi thành McDonald’s Corporation lừng danh thế
giới. Theo hợp đồng đại lý Franchise độc quyền này thì cứ mỗi 1,9% phí Franchise
hàng tháng mà người mua Franchise trả cho tập đoàn McDonald’s của Ray Kroc thì
18
anh em nhà Mac (chủ thương hiệu) được chia 0,5%. Tuy nhiên đối với phí Franchise
ban đầu thì Ray Kroc không phải chia, và phí này đã được tăng từ mức 950 USD lên
45.000 USD vào thời điểm hiện nay.
Theo đánh giá trung bình mỗi ngày, cứ bốn người Mỹ thì có một người ghé vào
quán fastfood của McDonald’s. Với biệt danh "con gà đẻ trứng vàng", McDonald’s

vệ sinh. Tiếp theo họ được đào tạo ở cấp cao hơn, tập trung vào các vấn đề như quản
trò kinh doanh, các kỹ năng lãnh đạo, xây dựng đội ngũ và xử lý những yêu cầu của
khách hàng và học tất cả những kỹ năng quản lý nguồn nhân sự. Các franchisee sẽ
phải tuyển dụng, đào tạo đội ngũ nhân viên của họ, vì thế họ sẽ phải học tất cả các
kỹ năng về quản lý nguồn nhân lực. Giai đoạn cuối, các học viên sẽ được học về
kiểm soát lượng hàng sẵn có và quản lý đơn mua hàng, kê khai lợi nhuận và thua lỗ,
cũng như các vấn đề liên quan tới tuyển dụng sử dụng nhân công.
19
Thứ tư, rất quan trọng, đó là các franchisee sẽ được hưởng lợi từ hoạt động
marketing của McDonald’s. McDonald’s đó là một thương hiệu lớn. Tên thương mại
của McDonald’s - Golden Arches (Những chiếc cung vàng) - đó trở thành một trong
những biểu tượng dễ nhận biết nhất trên toàn cầu. McDonald’s thường xuyên có
chiến dòch quảng cáo rầm rộ. Họ luôn là nhãn hiệu quảng cáo nhiều nhất trên các
kênh truyền hình nước Anh. Các franchisee sẽ hưởng lợi từ việc quảng cáo này và chỉ
phải đóng góp một phần, ước tính khoảng 4,5% từ doanh thu.
Với những chiến lược trên, McDonald’s hầu như chinh phục được toàn thế giới.
Ngay cả khi nhiều chuyên gia khuyến cáo rằng đồ ăn nhanh McDonald’s rất nhiều
chất bột, cholesterol, muối, đường…, gúp phần làm tăng nguy cơ béo phì và những
bệnh về tim mạch, song, với ưu thế tuyệt đối về chất lượng, phục vụ nhanh và giá rẻ,
đồ ăn nhanh của McDonald’s vẫn được ưa chuộng rộng rãi.
Không những thế tập đoàn này còn đưa vấn đề tiền thuê cửa hàng vào hợp doanh
mô hình kinh doanh nhượng quyền. Đối với cửa hàng diện tích càng lớn, ngoài phí
lixăng nhượng quyền kinh doanh, tập đoàn còn thu một khoản tiền tương ứng. Chính
vì thế mà tập đoàn khắc phục được việc khó khăn kiểm soát doanh thu của người
nhận nhượng quyền. Bên cạnh đó, McDonald’s còn có chiến lược hợp tác kinh doanh
dài hạn với các tập đoàn khác như Coca Cola và trở thành nhà tiêu thụ Coca Cola lớn
nhất thế giới.
Trung bình cứ mỗi 3 tiếng lại có một nhà hàng McDonald’s mọc ra đâu đó tại một
trong số 120 quốc gia mà McDonald’s có chi nhánh. Và trong số hơn 30.000 nhà
hàng trên khắp thế giới, McDonald’s chỉ trực tiếp điều hành khoảng 15%, còn lại

tuần thực tập tại một trong những cửa hàng 7-Eleven ngay trong khu vực. Tại đây,
người mua franchise được hướng dẫn cách bán hàng, nhất là cách bán những mặt
hàng không thể tồn kho lâu như thuốc lá chẳng hạn. Sau đó là một khóa đào tạo tiếp
theo từ 4-5 tuần, cũng tại một trong các cửa hàng trong khu vực, để biết cách đặt
hàng, kỹ năng thao tác quầy, báo cáo bằng vi tính và các dòch vụ khách hàng. Sau
khai trương, công ty 7-Eleven tiếp tục tư vấn, hỗ trợ cho cửa hàng franchise về việc
vận hành cửa hàng và chiến thuật quản lý.
Chuỗi khách sạn Mariott
Marriott là thương hiệu của một trong những chuỗi khách sạn lớn nhất thế giới
được thành lập từ thập niên 50. Người sáng lập tập đoàn Marriott là J.W.Marriott, lúc
còn là chủ tòch ông không đẩy mạnh việc kinh doanh nhượng quyền, do ông thấy
nhiều đồng nghiệp thất bại trong việc kiểm soát chất lượng đồng bộ của thương hiệu.
Mãi đến thập niên 60 con trai ông Bill Marriott chủ tòch kiêm tổng giám đốc mới
thuyết phục được cha mình ủng hộ cho việc bán franchise thương hiệu Marriott.
Để tránh rủi ro trong việc mất kiểm soát chất lượng đồng bộ theo tiêu chuẩn của
Marriott khi bán franchise, Marriott đã xây dựng một loạt nhãn hiệu mới phù hợp với
một số thò trường nhất đònh và đặc biệt là phù hợp với những chủ đầu tư mà đối với họ
mô hình chuẩn mực Marriott là quá khắt khe. Thật vậy, đối với các nhãn hiệu mới
này (đa số có tên gắn liền với tên Marriott) Marriott đã có những điều chỉnh, thay đổi
về tiêu chuẩn thiết kế, đầu tư và phương thức điều hành để dễ bán franchise hơn mà
chủ tòch tập đoàn gọi là “franchise friendly” tạm dòch là “nhượng quyền thân thiện”.
Năm 1968 nhãn hiệu đầu tiên để bán franchise có tên “Marriott Inns” sau đó là
“Courtyard by Marriott” ra đời 1983 rồi đến Marriott Suites năm 1984, và Fairfeild
Inns năm 1987. Mười năm sau tập đoàn Marriott cho ra đời nhãn hiệu khác chuyên
dành cho kinh doanh franchise có tên là Marriott Residences.
Và hiện nay, có hơn 2.000 khách sạn mang cùng nhãn hiệu, tuy nhiên chỉ có hơn
200 khách sạn là tài sản thực thụ của gia đình Marriott, số còn lại là các khách sạn
mua franchise trong đó thương hiệu và công thức quản lý khách sạn là hai sản phẩm
chủ yếu của hợp đồng mua franchise.
1.4.2 Một số hệ thống nhượng quyền thương mại điển hình tại Việt Nam

Mô hình nhượng quyền của Trung Nguyên thực hiện cụ thể như sau:
- Phương thức nhượng quyền: bán lẻ, các đối tác sẽ phải đàm phán ký hợp đồng
trực tiếp với Trung Nguyên với những cam kết rõ và cụ thể.
- Phí nhượng quyền ban đầu từ 50 triệu đồng (mức 1) và 70 triệu đồng (mức 2)
trong vòng 3 năm tùy vào quy mô đầu tư của cửa hàng nhỏ hay lớn. Các đối tác được
sử dụng nhãn hiệu, kỹ thuật, quy trình quản lý quán,… trong hoạt động kinh doanh của
mình.
- Phí hàng tháng 2% tính trên các sản phẩm đầu vào nhập từ Trung Nguyên. Đây
là khoảng chi phí cho hoạt động Marketing của toàn hệ thống. Các chi phí xây dựng
cơ sở vật chất, trang trí mang phong các của Trung Nguyên do bên nhận nhượng
quyền chòu.
- Công ty hỗ trợ quãng các khai trương trên phương tiện thông tin đại chúng, bảng
hiệu, nhân sự điều hành khai trương. Công ty trang bò vật dụng như: ly, tách, menu,
dù bạt,… năm đầu không quá 25 triệu cho mức 1 và 35 triệu cho mức 2. Các vật dụng
sẽ được giảm giá 20% nếu mua thêm trong năm thức nhất; giảm 30% trong năm 2 và
50% trong năm thứ 3.
- Công ty huấn luyện quản lý điều hành, các kỹ thuật pha chế, kỹ năng phục vụ
cho các hệ thống miễn phí. Đònh kỳ có huấn luyện bổ sung. Các nhân viên phải sử
22
dụng đồng phục và thực hiện phục vụ theo quy trình, phong cách, chất lượng phục vụ
chung đã tập huấn.
- Trung Nguyên chấp thuận cho các hệ thống cửa hàng nhượng quyền được bán
các sản phẩm khác như: rượu, bia, các loại trà, nước uống bổ sung nhưng nhất thiết
không được sử dụng sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh của Trung Nguyên.
- Trung Nguyên thực hiện việc giám sát qua hệ thống nhân viên chuyên nghiệp
bao gồm nhiều bộ phận khác nhau. Giám sát kiểm tra hoạt động đội ngũ chuyên viên
bộ phận nhượng quyền đònh kỳ hàng tháng không báo trước.
Phở 24
Phở 24 là chuỗi quán phở Việt Nam thương hiệu của An Nam Group, một tập
đoàn kinh doanh nhiều mặt hàng trong lónh vực thực phẩm, ăn uống như : hệ thống

CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ VIỆT NAM - HỆ
THỐNG CHUỖI SIÊU THỊ CO.OPMART VÀ HOẠT ĐỘNG
NHƯNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH BÁN LẺ
2.1 Thực trạng về thò trường bán lẻ
Thò trường bán lẻ thế giới
(Xem phụ lục: Tổng quan bán lẻ thế giới (về doanh số – số cửa hàng). Nguồn
trong báo cáo nhận đònh về tình hình bán lẻ tại Saigon Co.op 2007)
Doanh số mang lại từ bán lẻ đều tăng qua các năm. Đặc biệt khu vực Châu Á về
doanh số xếp thứ 3 sau khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ và càng rõ hơn khi số lượng cửa
hàng bán lẻ tại đây đang phát triển như vũ bảo xếp thứ 1. Tuy nhiên, việc phát triển
nhanh như vậy cũng nên xem lại nếu ta so sánh doanh số trên số cửa hàng bán lẻ
phát triển thêm so với các khu vực như Châu Âu và Bắc Mỹ thì rất thấp.
Theo Emarketer: năm 2006 doanh số bán lẻ qua mạng tăng 24% so năm 2005, và
năm 2007 tăng 25%.
Các nhà bán lẻ mở rộng thò trường:
Sau thất bại tại Hàn Quốc 06/2006 nhà bán lẻ hàng đầu thế giới Wal-Mart đã bán
lại chuỗi 16 cửa hàng cho tập đoàn Shinsegae (thương hiệu E-Mart). Cũng cùng thời
gian, tập đoàn bán lẻ Walmart cũng đành chia tay thò trường Đức sau khi bán lại 3 đại
siêu thò và hàng loạt cửa hàng cho tập đoàn Metro. Để lấy lại những thất bại tại 2 thò
trường trên Wal-Mart tiếp tục mở rộng nhanh chóng ở Nam Mỹ: Argentina, Brazil. Ở
châu Á, đang từng bước chiếm lónh thò trường Ấn Độ thông qua việc liên kết với hãng
Bharti Enterprises; Trung Quốc; củng cố vò trí tại Nhật thông qua Seiyu.
Carrefour tiếp theo sau Wal-Mart tiến vào Ấn Độ, Algeria với phương thức tương
tự. Và trong năm nay 2008 tập đoàn đang có kế hoạch thâm nhập vào thò trường Iran.
Anders Morberg, CEO của tập đoàn Majid AL Futtaim, đối tác kinh doanh khu vực
Trung Đông của Carrefour đã trả lời trong cuộc phỏng vấn rằng công ty đang có kế
hoạch đưa Carrefour vào thò trường Iran trong năm nay. “Chúng tôi sẽ đến Iran trong
năm nay với việc khai trương một đại siêu thò mang tên Carrefour, và chúng tôi cũng
đã mua đất để xây khách sạn ớ đó. Vùng thò trường trọng điểm của chúng tôi bao bọc

Kinh 2008”. Cùng với việc thâu tóm, nhà bán lẻ Hàn Quốc sẽ xây dựng thêm một
siêu thò giảm giá mới trong năm nay tại Bắc Kinh. Tập đoàn cũng thông báo rằng họ
sẽ xây dựng trung tâm thương mại đầu tiên trong tháng 5, với diện tích 83.600m
2

trung tâm mua sắm cao cấp ở Wangfujing, trước khi tìm kiếm ở các thành phố khác
như Thượng Hải, Hắc Long Giang, Jilin, Liaoning. Lotte đang mở rộng sang Việt
Nam với siêu thò đầu tiên ở TP.HCM vào cuối năm. Tháng 9 năm trước, tập đoàn đã
khai trương Trung Tâm Thương Mại đầu tiên ở nước ngoài tại Mat-cơ-va, Nga.
Sau khi phát triển thò trường ở Thái Lan, 7-Eleven chuẩn bò mở rộng sang Đông
Nam Á.
(Xem phụ lục: Tốp 25 nhà bán lẻ thực phẩm thế giới năm 2008 của Supermarket
News giới thiệu được cộng tác cùng PlanetRetail)
Thò trường bán lẻ tại Việt Nam
Tỉ trọng phát triển thương mại hiện đại ở các nước trên thế giới ngày càng cao, tại
Mỹ là 90%, Trung Quốc là 56%, còn tại Việt Nam con số này chỉ vỏn vẹn có 15%.
85% còn lại của một thò trường hơn 86 triệu dân quả thật có sức hút lớn đối với các
nhà đầu tư trong lónh vực bán hàng hiện đại.
Mô hình siêu thò xuất hiện tại Việt Nam những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20,
nhưng chỉ dừng ở mức độ tương đối sơ khai của một mô hình bán hàng hiện đại. Tức
là mới chỉ có các siêu thò hoặc chuỗi siêu thò, cửa hàng tiện ích mà chưa có đại siêu
thò, tổng kho phân phối. Mô hình phân phối và bán lẻ tại Việt Nam đang được thực
hiện như sau: Nhà sản xuất - nhà phân phối và Metro; từ hai đầu mối này, hàng sẽ
được đưa tới các siêu thò, cửa hàng bán lẻ, trung tâm bán buôn để đến với người tiêu
dùng.
Từ những năm đầu thế kỷ 21 mô hình bán lẻ tại Việt Nam trở nên đa dạng hơn với
sự có mặt của các đại gia bán lẻ thế giới, và cách đổi mới kinh doanh trong lónh vực
25
bán lẻ của các doanh nghiệp trong nước đã tạo nên bức tranh sống động hơn cho thò
trường bán lẻ. Có thể kể các mô hình thương mại trên thế giới đã có tại Việt Nam

2004-2008 theo khảo sát và điều tra của AT Kearney)
Theo kết quả nghiên cứu lựa chọn xếp hạng 30 nền kinh tế có thò trường bán lẻ
hấp dẫn nhất thế giới trong số 185 nền kinh tế vừa được tập đoàn tư vấn AT Kearney
công bố Bảng 2.2, với “Chỉ số phát triển bán lẻ chung năm 2007” (tên tiếng Anh viết
tắt là GRDI : Global Retail Development Index) đạt 74 điểm, Việt Nam xếp thứ 4,
sau Ấn Độ với 92 điểm và Nga với 89 điểm. Còn Trung Quốc với 86 điểm đã giành
lại vò trí 3 sau hai năm bò “tuột” mất.
Hiển nhiên, đó là một thứ hạng cao, thể hiện triển vọng phát triển sáng sủa và sức
hút mạnh mẽ của thò trường bán lẻ nước ta đối với các nhà kinh doanh toàn cầu. Tuy
nhiên, nếu so với các kết quả nghiên cứu xếp hạng những năm gần đây của chính tập

Trích đoạn Xác định mơ hình kinh doanh nhượng quyền thương mại chuỗi cửa hàng bán lẻ Co.opMart cơ bản Chi hỗ trợ cửa hàng (kệ, thiết kế trưng bày ,4 50.000 200 Tổ chức bộ máy phục vụ nhượng quyền thương mại và nhiệm vụ của các phịng ban phối hợp trong cơng tác kinh doanh nhượng quyền mạ Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, quảng bá thương hiệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status