289 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Chi nhánh Hồ Chí Minh - Pdf 25

-1-
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại(NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị
trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm
khác nhau về ngân hàng thương mại:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của
công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho
chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu
tư.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương
mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho
vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng l0/1998:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Nghị định của Chính phủ số 49/20001NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước ".
-2-
Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.

Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Các nguồn
vốn của NHTM gồm có:
a/Vốn điều lệ và các quỹ:
Vốn điều lệ: là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt
động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng và phải đạt mức tối thiểu theo quy
định của pháp luật. Tùy tính chất sở hữu của mỗi NHTM mà vốn điều lệ được ngân
sách nhà nước cấp phát hoặc do các cổ đông đóng góp, nguồn vốn này chủ yếu
được dùng để trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu, thành lập công ty con hoặc
hùn vốn, liên doanh…
Các quỹ của ngân hàng: được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động,
bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như: quỹ dự trữ bổ sung
vốn điều lệ, các quỹ dự phòng( tài chính, trợ cấp mất việc làm), quỹ đầu tư phát
triển, quỹ khác( khen thưởng, phúc lợi)…
Vốn điều lệ và các quỹ được gọi là vốn tự có của ngân hàng, được xem là yếu
tố tài chính quan trọng, nó vừa cho thấy quy mô của ngân hàng, là tấm đệm chắn đỡ
hoạt động kinh doanh cũng như quyết định quy mô huy động vốn, quy mô tài sản
có.
b/Vốn huy động: đây là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của
NHTM. Nguồn vốn huy động gồm có: tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm, nguồn vốn huy động thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá như: kỳ
phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…
c/Nguồn vốn đi vay: khi vốn tự có và vốn huy động không đủ đáp ứng nhu
-4-
cầu kinh doanh khi NHTM có thể đi vay từ ngân hàng nhà nước, các NHTM khác
hay vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế…
d/Nguồn vốn khác: vốn tiếp nhận từ ngân sách nhà nước để thực hiện các
chương trình, dự án theo kế hoạch tập trung của nhà nước, vốn tiếp nhận để cho vay
ủy thác, vốn chiếm dụng của khách hàng trong quá trình thực hiện thanh toán không
dùng tiền mặt…

Hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường là hoạt
động kinh doanh với mục đích là lợi nhuận. Muốn thu được lợi nhuận cao thì vấn đề
then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có, nhất là khoản mục cho vay và
đầu tư, cũng các hoạt động trung gian khác.
Các khoản thu nhập của ngân hàng bao gồm:
a/- Thu từ hoạt động nghiệp vụ: thu lãi cho vay, tiền gửi, nghiệp vụ cho thuê
tài chính, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và
các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
b/- Thu từ các hoạt động khác: thu lãi góp vốn, mua cổ phần; tham gia thị
trường tiền tệ; kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ; nghiệp vụ ủy thác, đại lý; dịch vụ bảo
hiểm, tư vấn; nghiệp vụ mua bán nợ giữa các tổ chức tín dụng; cho thuê tài sản và
thu dịch vụ khác.
c/- Thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích trong chi phí; thu các khoản
vốn đã được xử lý tài sản cố định; thu về chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp
luật.
d/- Thu khác.
1.2.2. Chi phí
a/- Chi phí hoạt động kinh doanh
-6-
· Chi phí phải trả lãi tiền gửi, lãi tiền vay.
· Chi phí khấu hao tài sản cố định cho hoạt động kinh doanh theo quy
chế quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định hiện hành.
· Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương theo quy
định.
· Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn được
tính trên cơ sở quỹ tiền lương của tổ chức tín dụng và theo các quy định hiện hành
của Nhà nước.
· Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí sửa chữa tài sản cố định thuê
ngoài, vận chuyển, điện nước, điện thoại, vật liệu, giấy tờ in, văn phòng phẩm, công
cụ lao động, phòng cháy chữa cháy, tư vấn, kiểm toán, tiền mua bảo hiểm tài sản,

hạn khó đòi.
· Khoản tổn thất tài sản còn lại sau khi đã bù đắp bằng các nguồn theo
quy định.
· Chi phí cho tổ chức Đảng- đoàn thể tại tổ chức tín dụng.
· Các khoản chi hợp lý, hợp lệ khác.
1.2.3. Lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại.
Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu
phải thu trừ đi tổng các chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ.
Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của NHTM, bao gồm lợi
nhuận hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận các hoạt động khác.
-8-
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động của ngân hàng:
a/Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản- ROA (Return on Asset).
Lợi nhuận ròng
ROA = (1.1)
Tài sản Có bình quân
Ý nghĩa: một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công tác quản lý tài sản Có (tích sản) -
tài sản Có sinh lời càng lớn thì hệ số nói trên sẽ càng lớn.
b/Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu-ROE (Retum on Equity):
Lợi nhuận ròng
ROE = (1.2)
Vốn tự có bình quân
Ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu
nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng.
c/Tỷ lệ thu nhập cận biên: đo lường tính hiệu quả và khả năng sinh lời, bao
gồm:
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest Margin _ NIM) là chênh lệch giữa
thu nhập lãi và chi phí lãi, tất cả chia cho tích sản sinh lãi. Hệ số ròng biên tế được

Chí Minh.
-11-
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM -CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Vị trí và ảnh hưởng của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình CNH –
HĐH đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước ta, một trung tâm lớn về
kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính trị
quan trọng của cả nước và là trung tâm của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam.
Sài gòn - nay là thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đang đóng vai trò “một cực
phát triển” của nền kinh tế cả nước, tác động lôi kéo cả khu vực phía Nam cùng
phát triển.
Thành phố có nhiều cố gắng trong xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp và
chỉnh trang đô thị; gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó
có những vấn đề phức tạp của một thành phố lớn, từng bước nâng cao đời sống vật
chất của nhân dân. Nhiều phong trào của thành phố như: xóa đói giảm nghèo, xây
dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo,
phong trào “3 giảm” … đem lại những kết quả tích cực về chính trị, kinh tế, xã hội
trên địa bàn thành phố và có sức lan tỏa, trở thành các phong trào rộng khắp trên cả
nước.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương và của Đảng bộ thành phố về công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng các chương trình
mục tiêu cụ thể, trên cơ sở tiềm năng, ưu thế nổi trội của mình là một thành phố có
nguồn nhân lực dồi dào, có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật hùng mạnh và có cơ
sở vật chất tương đối tốt, làm tiền đề cho việc phát triển.
-12-
Bảng2.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu của TP.HCM từ 2005-2007
ĐVT: tỷ VND, triệu USD
2005 2006 2007

- Xuất khẩu trên địa bàn có bước đột phá, đạt kim ngạch trên 17 tỷ USD. Nếu
không tính dầu thô, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố
đạt 35,8%. Thị trường xuất khẩu được mở rộng, cơ cấu thị trường có chuyển biến
tích cực, giảm dần phụ thuộc vào thị trường châu Á, thâm nhập được nhiều thị
trường mới tiềm năng như Nam Phi, Úc, New Zealand….
- Trên lĩnh vực tài chính ngân hàng, nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt
442.530 tỷ đồng (tương đương 28 tỷ USD), tăng 55%; tổng dư nợ tín dụng đạt
346.918 tỷ đồng, tăng 51%. Điều đáng ghi nhận là trong tổng dư nợ tín dụng, dư nợ
tín dụng trung dài hạn chiếm đến 38,8%, tăng 71% cho thấy nguồn vốn tín dụng
được huy động cho đầu tư phát triển kinh tế đã tăng khá.
- Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Ước cả năm, giá trị sản xuất công
nghiệp tăng 13,5%. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất
18,1%, khu vực ngoài nhà nước tăng 13,5%, khu vực nhà nước tăng 8,9%. Một số
ngành có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng cao như cơ khí chế tạo, sản xuất
thiết bị truyền thông, hóa chất, sản phẩm từ cao su – plastic tiếp tục phát triển theo
đúng định hướng.
- Ngành nông nghiệp Thành phố đang chuyển dần sang nông nghiệp gắn với
đô thị và nông nghiệp sinh thái, giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích trồng hoa,
rau an toàn, cây công nghiệp hàng năm và các loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
Ước cả năm giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 6,5%.
- Nhờ kinh tế phát triển, thu ngân sách Thành phố vượt dự toán và tăng cao,
ước cả năm tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 83.435 tỷ đồng, tăng 20,44%; trong
đó thu nội địa 41.600 tỷ đồng (tăng 19%), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 33.000
tỷ đồng (tăng 25,71%), thu từ dầu thô 6.090 tỷ đồng (giảm 4,8%). Tổng chi ngân
sách Thành phố đạt 22.554 tỷ đồng, tăng 14,51%. Chi đầu tư phát triển tăng 10,05%
và chiếm 54,1% trong tổng chi ngân sách Thành phố.
- Một thành tựu quan trọng khác là vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng
cao. Trong năm 2007, tổng vốn đầu tư xã hội đạt 84.800 tỷ đồng, tăng 26,6%; trong
-14-
đó đầu tư từ vốn nhà nước chiếm 32%, vốn dân doanh chiếm 51%, vốn doanh

như phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập
kinh tế nước ta vào kinh tế khu vực và thế giới.
2.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH TP.Hồ CHÍ MINH.
2.2.1. Sự phát triển hệ thống Ngân hàng thưong mại trên địa bàn Tp.Hồ Chí
Minh.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, cả nước nói
chung cũng như thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đều thực hiện mô hình ngân hàng
một cấp và duy nhất một hình thức ngân hàng quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước.
Cấu trúc ngân hàng nhà nước là một khối thống nhất từ Trung ương đến cấp tỉnh,
thành phố, quận, huyện, thị xã và hoạt động chủ yếu theo địa dư hành chính.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (năm1986), Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng chính phủ) ký quyết
định số 218/CT ngày 3.7.1987 thí điểm việc chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch
toán kinh tế và kinh doanh XHCN (đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987 với việc
thành lập ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Công thương, tiếp đến là ở Hà
Nội, Gia Lai...). Ngày 26.3.1988 Chủ tịch HĐBT đã ban hành Nghị định 53/HĐBT
đổi mới mô hình tổ chức bộ máy ngân hàng VN theo hệ thống ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Các ngân hàng chuyên doanh: Ngân hàng Công thương Việt Nam; ngân
hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam( nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; Ngân hàng Đầu tư và
xây dựng Việt Nam( nay là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam)
Các chính sách đổi mới đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại quốc
doanh hoạt động năng động hơn, quan tâm hơn đến các nghiệp vụ tăng cường
nguồn vốn, tập trung thu hút tiền mặt. Bên cạnh đó là sự hình thành và phát triển
của các ngân hàng TMCP như Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam;Ngân hàng
-16-
phát triển Nhà, các HTXTD. Sự phát triển của các NHTMCP và các HTXTD đã
góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt cần cho sản xuất

Việt nam tiếp tục tăng cao. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 48.38 tỷ USD, tăng
21,5 % so với năm trước. Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 60.83 tỷ USD, cũng là
mức kỷ lục từ trước tới nay, tăng tới 35,5% so với năm 2006. Cam kết vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh, đạt 20.3 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư gián tiếp
cũng tăng mạnh trong năm 2007 nhờ sự phát triển nhanh chóng của các thị trường
vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán đang trên đà mở rộng về lượng. Theo số
liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, giá từ danh mục đầu tư của nhà đầu tư
nước ngoài tính đến thời điểm cuối năm 2007 đạt 7,6 tỉ USD. Năm 2007 cũng là
năm lượng kiều hối của kiều bào ở nước ngoài chuyển qua các dịch vụ ngân hàng
tăng đột biến. Theo con số thống kê được của Ủy ban về người Việt Nam ở nước
ngoài, lượng kiều hối chuyền về năm 2007 trên 6 tỷ USD. Ngoài ra còn có từ các
nguồn ngoại tệ khác như dịch vụ du lịch 4,6 tỷ USD; lượng kiều hối không chính
thức khoảng 4 tỷ ..v.v.. Theo tính toán của giáo sư Kenichi Oang, chuyên gia Diễn
đàn Phát triển Việt Nam (VDF) với số liệu thống kê trên thì có ít nhất 15 tỷ USD đã
đổ vào kinh tế Việt Nam trong năm 2007.
Song song với lượng vốn ngoại chảy vào nền kinh tế,mức độ tiêu dùng trong
nước tiếp tục tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng đã tăng khá qua các năm, nếu loại trừ yếu tố tăng giá bình quân năm, thì tốc
độ tăng về lượng liên tục đạt hai chữ số (năm 2004 tăng 10,8% năm 2005 tăng
11,3%, năm 2006 tăng 12,5%, năm 2007 tăng 11,4%), đều cao hơn tốc độ tăng
trưởng GDP tính theo giá so sánh. Tổng đầu tư xã hội vẫn ở mức 40-44% GDP
trong đó đầu tư khu vực doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng rất mạnh (năm 2007 gần
gấp 2 lần so với năm 2006 theo giá thực tế).
Từ sự tác động của hoạt động thương mại, dòng vốn bên ngoài kết hợp tốc
độ gia tăng tiêu dùng, đầu tư trong nước đã tạo mức tăng trưởng GDP năm 2007 đạt
mức 8.5%, cao nhất trong vòng 10 năm qua, đồng thời, tạo điều kiện bùng phát thị
trường chứng khoán làm tan băng thị trường bất động sản và làm cho hoạt động
-18-
ngân hàng tăng trưởng mạnh trong năm 2007. Song song với ảnh hưởng tích cực,
kinh tế nước ta đã gặp phải một vấn đề hết sức khó khăn đó là lạm phát: Chỉ số CPI

Vietcombank( VCB)- liên tục giữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam, là ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất ở Việt Nam, luôn
được biết đến như một ngân hàng đứng đầu về nguồn vốn và có uy tín trong các
lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh ngân
hàng và các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế và được xếp hạng là một trong 23
doanh nghiệp đặc biệt của Nhà nước.
Sự ra đời của ngân hàng phục vụ kinh tế đối ngoại đã đánh dấu một bước
phát triển rất quan trọng của ngân hàng Việt Nam. Trong suốt quá trình hình thành
và hoạt động, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn gắn liền với sự nghiệp cách
mạng vĩ đại và phát triển của đất nước. Khi mới thành lập Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam chỉ có một chi nhánh ở Hà nội và một chi nhánh ở Hải Phòng, hoạt động
trong tình trạng chống Mỹ và còn lệ thuộc vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cho
đến nay, ngân hàng đã phát triển thành một hệ thống gồm 1 hội sở chính, 59 chi
nhánh, 3 công ty trực thuộc và trên 150 phòng giao dịch trên cả nước và 3 văn
phòng đại diện ở nước ngoài, góp vốn cổ phần vào 5 doanh nghiệp và 7 ngân hàng,
tham gia 3 liên doanh với nước ngoài.
Ngoài các hoạt động cho vay thông thường Ngân hàng Ngoại thương đã tăng
cường hoạt động qua thị trường liên ngân hàng trong nước và quốc tế nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần tăng trưởng lợi nhuận. Trong những năm qua
Ngân hàng Ngoại thương luôn phát huy vai trò là một ngân hàng uy tín nhất trong
các lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và
các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế. Do vậy trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn giữ vững được thị phần ở mức cao và ổn
định.
-20-
Song song với các hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương luôn chú
trọng đến các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác như phát triển nguồn nhân lực, đầu
tư chiều sâu vào công nghệ ngân hàng. Hệ thống ngân hàng bán lẻ (VCB-2010) là
một bộ phận của chiến lược phát triển ngân hàng được đưa vào từ tháng 9/1999 tại
sở giao dịch và đến nay đã triển khai trong toàn hệ thống Ngân hàng Ngoại thương.

TP.HCM), là đầu mối về kinh doanh ngoại tệ và là một trong những ngân hàng
hàng đầu trong các lĩnh vực đầu tư tín dụng, bảo lãnh, thanh toán hối đoái, nghiệp
vụ ngân quỹ và thanh toán thẻ, kiều hối.
Với một đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và được đào tạo lành nghề, dày
dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng đối ngoại, với hệ thống trang thiết bị tin
học tiến tiến, Vietcombank HCM sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ
ngân hàng chất lượng cao nhất và luôn phấn đấu vì sự thành công của khách hàng.
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH TP.HỒ CHÍ MINH
2.3.1. Về huy động vốn và cho vay:
Kết thúc năm 2007, tổng nguồn vốn của chi nhánh đạt 27.966 tỷ đồng, tăng
9.8% so với năm 2006, trong đó nguồn vốn VND tăng trưởng mạnh, tăng gần 40%
nhưng nguồn vốn ngoại tệ giảm đến 19% so với năm trước. Tổng vốn huy động đạt
25.334 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng huy động trong năm 2007 chỉ đạt mức 10,3%,
thấp hơn năm 2006 là tăng 23% và thấp hơn mức tăng trưởng huy động chung trên
địa bàn.
-22-
Bảng 2.2:NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA VCB HCM TỪ NĂM 2005-2007
ĐVT: tỷ VND
TT Khoản mục Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Nguồn vốn huy động
18.991.00 22.241.00 25.334.00
1 Phân theo thị trường
Thị trường 1 93,35% 88,70% 91,28%
Thị trường 2 6,65% 11,30% 8,72%
2 Phân theo kỳ hạn
Không kỳ hạn 47,99% 65,71% 66,91
Có kỳ hạn 52,01% 34,29% 33,09
3 Phân theo loại tiền
VND 51,70% 54,59% 54,11%

năm 2007 là 0,17%) .
Bảng 2.4:Tỷ lệ CAR của một số ngân hàng
AGRI VCB BIDV MHB ACB STB EAB
2005 0,41 7,27 3,97 10,19 12,1 15,4 8,94
2006 4,97 9,57 4,82 9,31 10,89 11,82 13,57
2007 7,2 11 11 9,44 16,19 11,07 14,36
Nguồn:Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng
Chính sách đa dạng hoá khách hàng đã tạo ra một chuyển biến đáng kể, trong
đó vừa mở rộng đối tượng khách hàng vừa hạn chế tối đa các rủi ro. Về cơ cấu cho
vay khách hàng chi nhánh vẫn tiếp tục duy trì đa dạng hoá khách hàng, trong đó dư
nợ khách hàng ngoài quốc doanh tiếp tục tăng trưởng khá cao, tăng 55,80% so với
năm trước, tuy nhiên cho vay doanh nghiệp FDI chưa thể thực hiện đúng định
hướng, tính đến cuối năm 2007, dư nợ cho vay doanh nghiệp FDI đạt 1.251 tỷ,
chiếm tỷ trọng 9,1%, giảm với năm trước. Nguyên nhân do bị các ngân hàng nước
ngoài cạnh tranh bằng lãi suất và sẵn sàng cấp tín dụng với hạn mức cao.
-24-
Bảng2. 5:MỨC ĐỘ TẬP TRUNG TÍN DỤNG CỦA VCB HCM TỪ 2005-2007
Nguồn:Báo cáohoạt động kinh doanh VCB HCM
2.3.4.Công tác thanh toán và dịch vụ
Doanh số thanh toán xuất khẩu thực hiện đến 31/12/2007 đạt 6.076 triệu
USD, giảm 12,63% so với năm 2006, chỉ đạt 71,55% kế hoạch. Sự giảm sút về
thanh toán xuất khẩu trong năm 2007 là trong cơ cấu thanh toán mặt hàng dầu thô
chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng dầu thô trong tổng doanh số xuất khẩu năm 2006 bình
quân là 74%, năm nay do lượng dầu thô xuất khẩu sụt giảm nên tỷ trọng thanh toán
qua VCBHCM giảm xuống còn 64%. Sự sụt giảm doanh số thanh toán dầu thô là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụt giảm tổng doanh số thanh toán xuất khẩu của
chi nhánh so với năm 2006.
-25-
Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu trong năm 2007 qua VCBHCM đạt
3.780 triệu USD, tăng 19,8% so năm 2006. Các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỉ trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status