TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN 2012-2013 - Pdf 25

Vai trò quan trọng của phương tiện dạy học
đối với đổi mới phương pháp dạy học
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu. Hiện nay các
quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục-đào
tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính
tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học
hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Muốn vậy
cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện
dạy và học là một thành tố quan trọng.
Nói chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ công
việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có
được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo
của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở
nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn
học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học
sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe-thấy-làm được (những gì nghe
được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những
gì tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giáo viên có
điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu
quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các
em.
Tính chất của phương tiện dạy học biểu thị nội dung thông tin học, hình thức
thông tin và phương pháp cho thông tin chứa đựng trong phương tiện và phải dưới
sự tác động của giáo viên hoặc học sinh tính chất đó mới đựơc bộc lộ ra. Như vậy
đã có mối liên hệ chặt chẽ giữa tính chất và chức năng của phương tiện dạy học.
Trong quá trình dạy học, chức năng của các phương tiện dạy học thể hiện sự
tác động đạt được mục đích dạy-học.
Phương tiện dạy học bao gồm các chức năng sau:
- Truyền thụ tri thức
- Hình thành kỹ năng
- Phát triển hứng thú học tập

tiêu chính: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ, tính khoa học
kỹ thuật và tính kinh tế.
* Tính khoa học sư phạm
Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lương phương tiện dạy học.
Chỉ tiêu này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung
phương pháp dạy học với cấu tạo và nội dung của phương tiện. Tính khoa học sư
phạm thể hiện ở chỗ:
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức, kỹ năng
kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp cho giáo
viên truyền đạt một cách thuận lợi các kiến thức phức tạp, kỹ xảo tay nghề làm
cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic.
- Nội dung cà cấu tạo của phương tiện dạy học phải bảo đảm các đặc trưng của việc
dạy lý thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ bản.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng
dạy, thúc đẩy khả năng tiếp thu năng động của học sinh.
- Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội
dung, bố cục và hình thức, trong đó mỗi cái phải có vai trò và chỗ đứng riêng.
Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại
và các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến.
* Tính thẩm mỹ
Các phương tiện dạy học phải phù hợp với các tiêu chuẩn về tổ chức môi trường sư
phạm:
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm tỉ lệ cân xứng, hài hòa về đường nét và hình
khối giống như các công trình nghệ thuật.
- Phương tiện dạy học phải làm cho thầy trò thích thú khi sử dụng, kích thích tình
yêu nghề, làm cho học sinh nâng cao cảm thụ chân, thiện, mỹ.
* Tính khoa học kỹ thuật
Các phương tiện dạy học phải có cấu tạo đơn giản, dễ điều khiển, chắc chắn, có
khối lượng và kích thước phù hợp, công nghệ chế tạo hợp lý và phải áp dụng những
thành tựu của khoa học kỹ thuật mới.

Nâng cao năng lực khai thác và sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật
hiện đại cho đội ngũ giảng viên góp phần đổi mới PPGDĐH
1. Ứng dụng của các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại trong đổi mới PPGDĐH.
- Khi đã trải qua một số năm giảng dạy theo PP truyền thống, người dạy đã hình
thành thói quen (cả về hành động và tư duy như thuộc nội dung kiến thức và khi
dạy thì đọc luôn cho SV) và để từ bỏ một thói quen cần có sự quyết tâm của mỗi
GV và phải có môi trường mới (phòng học trực tuyến, công cụ mới máy vi tính,
máy chiếu, hỗ trợ cho việc giảng dạy.
- Giáo dục trong thời đại tin học hoá và tự động hoá ngày càng sâu rộng, với sự
bùng nổ thông tin, HS ngày càng phải học tập nhiều môn khoa học mới, với khối
lượng lớn thông tin.
- Nhiều ngành học yêu cầu sử dụng ngày càng nhiều các thiết bị hiện đại. Có môn
học mang tính thời sự hàng ngày đòi hỏi cập nhập thường xuyên mà điều này
không thể trông chờ vào SGK mà dựa vào mạng internet hoặc hướng dẫn của giảng
viên… Nếu không có các thiết bị hiện đại mà chỉ bằng bằng các công cụ truyền
thống (sách giáo khoa, bảng đen phấn trắng ) và phương pháp thuyết trình để
truyền đạt kiến thức thì rất khó để đạt hiệu quả trong việc giảng dạy và việc tiếp thu
kiến thức một cách sáng tạo tích cực của HS.
- Vai trò của người thầy cần phải thay đổi, thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn, người
học tự đi tìm và lĩnh hội thông tin, tri thức. Như vậy người dạy và người học phải
biết sử dụng một số phương tiện hiện đại để hỗ trợ. Trong đó sử dụng công nghệ
thông tin để hỗ trợcác nội dung, các thao tác của quá trình dạy và học, sẽ giúp
người thầy nâng cao khả năng sử dụng phương pháp mới, học trò chủ động tìm tòi,
phát huy sáng kiến trong học tập.
2. Hướng khai thác và sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại.
- Khai thác máy tính, máy chiếu cho công tác soạn, giảng. Theo tôi soạn bài trên
máy tính có ưu điểm là ghi nhớ được, dễ dàng thay đổi bổ sung khi thảo luận cùng
đồng nghiệp và phát hiện những điểm hay cần thêm, điểm dở cần bỏ, có thể đưa lên
mạng. Sử dụng máy chiếu hiệu quả là tăng cường học tập cho HS bằng thị giác,
tức là chỉ lên chiếu trên màn chiếu những vấn đề khó diễn giải bằng lời( như các

đích đổi mới PPGD. Vì thế mỗi trường, mỗi bộ môn, mỗi giảng viên phải hiểu biết
sâu về trang thiết bị dành cho bộ môn của mình và cách ứng dụng, tình huống ứng
dụng. Không thể để các nhà trường, GV tự nghiên cứu ứng dụng mà cần có sự hộ
trợ của các đồng nghiệp và KTTT.
- Giảng viên được tập huấn về CNTT, mỗi GV phải có trình độ nhất định về CNTT
và sự hiểu biết về ứng dụng CNTT cho giáo dục.
- Mỗi GV hiểu biết về thiết bị sử dụng cho bộ môn của mình, không lên dùng một
thiết bị mà không biết gì về thiết bị đó, làm sao giảng viên phải làm chủ được thiết
bị thì mới có thể vận dụng tốt vào bài giảng của mình.
- Giảng viên phải được trang bị lý thuyết về ứng dụng thiết bị công nghệ cho công
tác giảng dạy . Từ lý luận đó phát triển ý tưởng của mình, không để mỗi GV thử
nghiệm, mày mò.
- Mỗi bộ môn xây dựng cơ sở dữ liệu về ứng dụng thiết bị( hình ảnh, giáo án,
video…) để GV sau nghiên cứu tiếp thu phát triển.
- Thực hiện công tác NCKH trong nhà trường để giáo viên cùng tham gia, đặc biệt
trên các trang thiết bị kỹ thuật ở phòng thực hành giúp người giảng viên nâng cao
năng lực sử dụng phương tiện máy móc, sinh viên hình thành kỹ năng, tác phong
nghiên cứu khoa học đồng thời có thể mang lại lợi ích kinh tế từ thông qua đề tài
NCKH các cấp.
- Phải có đội ngũ kĩ thuật viên chuẩn bị, bảo dưỡng, bảo quản các trang thiết bị
công nghệ hiện đại theo đúng quy tắc, quy định.
- Có nhật ký sử dụng các trạng thiết bị hiện đại để tiện theo dõi và bảo dưỡng
bảo trì máy móc.
Do vậy: Đổi mới PPGDĐH là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng của nguồn
nhân lực. Người giảng viên có vai trò chính, những người trực tiếp làm việc với
các HS tuy nhiên để thực hiện tốt quá trình đổi mới, phải có ứng dụng của các
trang thiết bị công nghệ hiện đại và người sử dụng các trang thiết bị đó phải biết
khai thác và sử dụng các trang thiết bị đó một cách khoa học vào công tác giảng
dạy của mình. Để làm được điều đó mỗi GV phải có ý thức học tập nghiên cứu,
làm chủ được trang thiết bị hiện đại trong mỗi bài giảng của mình./.

Có các loại đánh giá là đánh giá chẩn đoán, đánh giá từng phần, đánh giá tổng kết
và ra quyết định.
Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy một chương hay một vấn đề quan
trọng nào đó giúp cho giáo viên nắm được tình hình những kiến thức kiên quan có
trong học sinh, những điểm học sinh nắm vững, những lỗ hổng cần bổ khuyết để
quyết định cách dạy cho thích hợp.
Đánh giá từng phần được tiến hành nhiều lần trong giảng dạy nhằm cung cấp
nhưng thông tin ngược để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy và
cách học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một
cách vững chắc.
Đánh giá tổng kết tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng những kì thi
nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với những mục tiêu đề ra.
Dựa và những định hướng trong khâu đánh giá. Giáo viên quyết định những biện
pháp cụ thể để giúp đỡ họ sinh hay cả lớp về những sai sót đặc biệt hay những
thiếu sót phổ biến.
3. Những yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi đánh giá kết quả học tập của học
sinh
Khi đánh giá cần phải tuân thủ những yêu cầu sau:
- Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
- Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
- Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
4. Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá kết quả học tập cần dựa vào những nguyên tắc mang tính tổng quát và
cụ thể.
Những nguyên tắc mang tính tổng quát:
- Đánh giá là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các
mục tiêu đề ra. Vậy, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì.
- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu
hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được.

5. Cơ sở đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích
học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá
kết quả học tập.
Mục tiêu của môn học là những gì học sinh cần phải đạt được sau khi học xong
môn học, nó bao gồm các thành tố:
- Hệ thống các kiến thức khoa học gồm cả các phương pháp nhận thức;
- Hệ thông kỹ năng kỹ xảo;
- Khả năng vận dụng kiên thức vào thực tế;
- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội.
Mục đích học tập là những gì học sinh cần có được sau khi đã học xong một đơn vị
kiến thức, một quy tắc nào đó. Mục đích học tập có thể bao gồm các phần sau đây:
- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã
hội;
- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc
sống;
- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động
sau này.
Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được
xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu
đề ra của công việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mục tiêu của môn học
và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình, phương
pháp và quy trình dạy học và học tập. Đồng thời nó cung là cơ sở để chọn phương
pháp và quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh. Đánh giá kết quả học tập
dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác
nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục.
6. Quy trình của việc đánh giá kết quả học tập
Quy trình đánh giá kết quả học tập gồm các bước:
- Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu đánh giá;

đo và đánh giá, có thể lượng giá theo chuẩn lượng giá theo tiêu chí.
Đánh giá: Bước này đòi hỏi giáo viên phải đưa ra những nhận định phán đoán về
thực chất trình độ của một học sinh trước vấn đề được kiểm tra, đồng thời đề xuất
những định hướng bổ khuyết, sai sót hoặc phát huy hiệu quả.
Quyết định: Đây là bước cuối cùng của quá trình đánh giá, giáo viên sẽ đưa ra
những biện pháp cụ thể để giúp học sinh tiến bộ
7. Mục đích, ý nghĩa và vai trò của kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học
sinh
7.1. Mục đích của việc kiểm tra- đánh giá
- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và tập
thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận
ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập.
- Giúp chho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu
của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học.
Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng,
điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực
trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
7.2. Ý nghĩa của việc kiểm tra- đánh giá
Kiểm tra- đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và
đặc biệt là đối với cán bộ quản lí.
Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp
thời những thông tin "liên hệ ngược" giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
- Về giáo dục chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào,
còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các
hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa
kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng
kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế.
- Về mặt giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status