BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN QUANG THUẦN QUAN HỆ CAMPUCHIA – VIỆT NAM
1985 - 2006
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPP : Đảng Nhân dân Campuchia
FULRO
: Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị áp bức.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Là quốc gia láng giềng có lịch sử quan hệ lâu đời, Campu
chia - Việt Nam có
chung đường biên giới trên đất liền, trên biển. Bắt nguồn từ quan hệ láng giềng
truyền thống nên hai dân tộc đã luôn kề vai sát cánh chiến đấu, đồng cam cộng khổ,
một lòng ủng hộ giúp đở lẫn nhau trong cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ chống kẻ thù
chung xâm lược, xây đắp nên tình đoàn kết chiến đấu sắt son tôi luyện qua thử thách.
Tình đoàn kết đó đã là sức mạnh vô địch lần lượt đánh t
hắng mọi kẻ thù đế quốc,
bành trướng xâm lược hung hãn nguy hiểm nhất của thời đại. Sức mạnh của tình đoàn
kết đó đã đạp đỗ ách thống trị của bọn đế quốc và bành trướng, bá quyền đưa lại độc
lập tự do cho mỗi nước .
Quan hệ Cam
puchia - Việt Nam là quan hệ láng giềng có những đặc thù riêng
biệt, trải qua bao thăng trầm của nhiều biến cố lịch sử, không phải lúc nào cũng thuận
buồm xuôi gió. Hơn nữa các thế lực đế quốc và phản động quốc tế có lúc đã lợi dụng
tình trạng bất thường các quan hệ này để tập hợp lực lượng trong và ngoài khu vực
bao vây cô lập, hòng kiềm chế và làm suy yếu Việt Nam
. Bằng quan hệ chính trị
ngoại giao, Campuchia - Việt Nam hai nước đã đấu tranh bề bỉ làm thất các âm mưu
và thủ đoạn đó .
Trong t
hời đại toàn cầu hoá nền kinh tế, liên kết khu vực và hội nhập quốc tế,
muốn duy trì và phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị ổn định, thì cần phải đẩy
mạnh hợp tác nhiều mặt trên nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng có lợi để tạo nên sự
bền vững, gắn kết với nước láng giềng.
Hơn nữa, biên giới lãnh thổ là thiêng liêng đối với mỗi quốc gia, ổn định biên
Năm 1984, Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản công trình “Sự thật về quan hệ
Thái Lan - Cam
puchia, Thái Lan - Lào”, Công trình này bao gồm hai văn kiện quan
trọng của bộ ngoại giao nước cộng hòa nhân dân Campuchia công bố tháng 9 năm
1983 và của bộ ngoại giao nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào công bố tháng 9 năm
1984 nhằm vạch trần chính sách thù địch, xâm lược, bành trướng của Thái Lan đối
với Cam
puchia và Lào trong lịch sử và trong giai đoạn hiện tại. Trong công trình này
nói đến mối quan hệ Campuchia - Việt Nam cũng như mối quan hệ ba nước Đông
Dương luôn kề vai sát cánh chiến đấu, đồng cam cộng khổ, một lòng ủng hộ giúp đỡ
lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược.
Những học giả người úc cũng quan tâm
nghiên cứu mối quan hệ giữa các nước
Đông Dương và được Nhà xuất bản Quân đội Nhân Dân đã xuất bản năm 1986. Với
nhan đề “Chân lý thuộc về ai” của tác giả Grantơ Ivanxơ - Kenvin Râulây. Công
trình nghiên cứu về các cuộc xung đột ở khu vực bán đảo Đông Dương từ sau ngày
miền Nam được giải phóng. Dưới cách nhìn và nhận thức của các học giả phương
Tây, các tác giả chứng minh Việt Nam không phải là người gây ra cuộc khủng hoảng
ở Đông Dương; phê phán mạnh mẽ chính sách của Trung Quốc và Mỹ trong khu vực;
chứng minh mối quan hệ giữa ba nước Đông Dương là mối quan hệ bình đẳng, tin
cậy lẫn nhau, giúp đỡ và hợp t
ác với nhau.
Năm 1998, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân đã xuất bản công t
rình “Năm
mươi năm ngoại giao Việt Nam” gồm 2 tập của tác giả Lưu Văn Lợi. Trong công
trình này, tác giả cũng đã nêu lên quan hệ Campuchia - Việt Nam, thông qua các cuộc
đàm phán, phân tích tiến trình đàm phán “vấn đề Campuchia” để tiến tới ký Hiệp
định Paris 1991.
Năm
2001, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc đã xuất bản công trình “Mấy vấn đề
nh bày một cách
khách quan, có hệ thống , đơn giản và cô động những tư liệu chứng cứ cơ bản về lịch
sử phát triển của vùng đất Nam Bộ. Công trình còn phản ánh sự tranh chấp biên giới
vùng đất Nam Bộ giữa Campuchia - Việt Nam trong qua khứ. Hiện nay được hai
nước đàm phán bằng con đường hòa bình để phân định cắm mốc biên giới.
Những nghiên cứu riêng biệt nêu trên dẫu sao cũng không thể khái quát một
cách đầy đủ về qua
n hệ Campuchia - Việt Nam. Quan hệ Campuchia - Việt Nam là
vấn đề hết sức nhạy cảm, đặc biệt là trong những năm gần đây quan hệ hai nước có
nhiều diễn biến mới vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mặt khác, từ lịch sử nghiên
cứu vấn đề cho thấy, việc nghiên cứu mối quan hệ Cam
puchia - Việt Nam từ năm
1986 đến 2006 như một chỉnh thể vận động là một hướng đi mới cần được tiếp tục
khai phá, bởi vì có những thông tin gần đây mới được công khai và phổ biến.
3. Mục đích nghiên cứu.
Tì
m hiểu quan hệ Campuchia - Việt Nam trong giai đoạn 1985 - 2006.
- Làm rõ mối quan hệ chính trị, ngoại giao giải quyết các vấn đề tranh chấp
biên giới giữa hai
nước, quá trình đàm phán để ký Hiệp ước biên giới năm 1985.
- ảnh hưởng của các nước lớn đến mối quan hệ Campuchia - Việt Nam trong
quá trình đàm phán để ký Hiệp định Paris về vấn đề Campuchia.
- Mối quan hệ hợp tác giữa hai nước tác động trên các lĩnh vực: An ninh, kinh
tế, du lịch và các vấn đề khác mà hai nước cùng quan tâm.
Từ những đặc điểm của mối quan hệ hai nước để rút ra những nhận xét đánh
giá nhằm t
hấy được những thời cơ và thách thức cũng như triển vọng quan hệ
Campuchia - Việt Nam trong tương lai.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là Campuchia quan hệ với Việt Nam.
Việt Nam ở giai đoạn trước.Không gia
n nghiên cứu của vấn đề chỉ dừng lại ở phạm vi quan hệ giữa hai
nhà nước Campuchia và Việt Nam.
7. Phương pháp nghiê
n cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời trong quá
trình nghiên cứu, là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương
pháp lịch sử. Ngoài việc phân tích, so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, tác
giả cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử, chân thực
lịch sử, để tái hiện lại bức tranh sinh động của mối quan hệ Campuchia - Việt Nam
trong hơn 20 năm qua (1985 - 2006). Đồng thời với quá trình đó, tác giả kết hợp kết
hợp sử dụng phương pháp lôgic để lí giải một số vấn đề mang tính chất phức tạp
trong quan hệ giữa h
ai nước, phát hiện ra bản chất và những đặc điểm manh tính quy
luật đang ẩn mình vô vàn sự kiện phức tạp của quan hệ Campuchia - Việt Nam giai
đoạn này.
Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp liên ngành: Phương pháp nghiên cứu quan
hệ quốc tế, quan hệ kinh tế, chính t
rị, thống kê để sử lí số liệu, phương pháp trao đổi,
thảo luận để tranh thủ ý kiến mang tính phản biện cho những nhận định, đánh giá...
của m
ình, nhằm làm giảm bớt chủ quan trong quá trình nghiên cứu.
8. Bố cục luận văn
Luận văn gồm
có 178 trang. Phần nội dung chính là 153 trang, trong đó phần
mở đầu 07 trang, kết luận 11 trang, tài liệu tham khảo 09 trang. Luận văn sử dụng 92
hai nước. Đất nước Cam
puchia và vùng đất Nam bộ và Tây Nguyên của Việt Nam
trên cơ bản thuộc địa vực hạ lưu và châu thổ sông Mêkông. Đây là một vùng có nền
văn hóa lâu đời và tập trung những quan hệ văn hóa truyền thống. Từ những kết quả
nghiên cứu khảo cổ học, người ta có thể nhận ra rằng mấy ngàn năm lịch sử
Campuchia và Việt Nam cùng nằm trong một khu vực văn hóa chun g với những đặc
trưng thống nhất trong lối làm ăn, lối sống, văn hóa nghệ thuật ... Tất cả đã gắn bó
với nhau, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử. Trong quá trình hàng ngàn năm t
hời
tiền sử và sơ sử, tổ tiên những cộng đồng tộc người sống trên đất Campuchia và
những cư dân vùng đất Nam bộ Việt Nam đã có quan hệ gắn bó với nhau, cùng sáng
tạo nên nền văn minh sông Mêkông với
hai trung tâm chính là Tônlê Sap và Đồng
Nai.
1.1. Quan hệ Campuchia - Việt Nam trong lịch sử
Thực tế lịch sử hàng ngàn năm qua, nhân dân Cam
puchia và nhân dân Việt
Nam đã có mối quan hệ láng giềng hữu nghị, chia ngọt sẻ bùi, tương thân tương ái,
chung lưng đấu cật cải tạo thiên nhiên và chống ngoại xâm. Lịch sử đã chứng minh
rằng trong suốt tiến trình lịch sử, nhân dân hai nước đã nhiều lần cùng nhau chống
giặc ngoại xâm và làm nên những trang sử vẻ vang của cả hai dân tộc.
Trong lịch sử Camp
uchia, chiến tranh và nội chiến xảy ra liên miên. Đến đầu
thế kỷ VI, nước Chân Lạp và chế độ phong kiến tập quyền được xác lập. Thời kỳ
phồn thịnh của Vương quốc Campuchia bắt đầu kể từ khi vua Giayavacman II giành
độc lập thống nhất đất nước từ tay người Gia va (802-854) đóng đô ở Angkor, mở
đầu cho thời kỳ Angkor. Trong thời kỳ này, các vua Cam
puchia đã không ngừng tiến
hành rất nhiều cuộc xâm lược các nước láng giềng, xây dựng rất nhiều đền đài nguy
nga, tráng lệ: “sự say sưa chiến công, xa hoa, lãng phí của các ông vua Angkor làm
(thuộc tỉnh Hà Tiên) thành lập 7 xã thôn” [7, tr.122], biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên
thành khu vực cát cứ của dòng họ m
ình, hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào chính
quyền Chân Lạp nữa.
Năm 1693, khi chúa Nguyễn thu phục được vùng đất Chiêm Thành thì Chân
Lạp mới là nước láng giềng trực tiếp của Việt Nam. Mặc dù vùng đất châu thổ sông
Cửu Long lúc đó danh nghĩa thuộc Chân Lạp, nhưng trong thực tế còn hoanh vu, dân
cư thưa thớt, triều đình Chân Lạp chưa quản lý được. Yêu cầu về nhân lực để khai
phá vùng đất này rất lớn. Đúng lúc đó làn sóng di cư ngày càng đông đảo của nông
dân người Việt, Hoa, Chăm đã kéo đến cùng người Khmer sống từ trước tại đây ra
sức khai phá, cải tạo thiên nhiê
n, chinh phục vùng đất bồi ven biển. Trong việc khai
phá, cải tạo này, vai trò của người Việt rất lớn, sự có mặt của họ lúc đó rõ ràng là rất
cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Với đà phát triển về mọi mặt của
vùng đất này, nơi đây đã trở thành địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt đến lập
nghiệp và vùng đất này đã được sát nhập vào bản đồ Việt Nam không bằng bạo lực,
mà bằng con đường hòa hợp chung sống hòa bình, rõ ràng: “Người Việt đến Châ
n
Lạp không chỉ có những đội quân được đưa sang Chân Lạp chống lại quân Xiêm
hoặc lực lượng thân Xiêm theo yêu cầu của các vua Chân Lạp, không phải dùng
gươm để chiếm lấy đất đai m
à là do sự trả công một cách tự nguyện của người Chân
Lạp” [30, tr.7].
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng
đất Đông Phố: “Bắt đầu đặt phủ Gia Định, Sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh
lượt đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy sứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay
thăng làm phủ) dựng dinh phiên Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn
làm
huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên trấn (tức Gia Định ngày
nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ
gia ở biên giới Tây Nam.
Để giảm áp lực và sự o ép của Xiêm, vua Ang Chan quyết định dựa vào triều
Nguyễn. Tháng 9 năm
1807 Ang Chan cử sứ giả sang Huế xin triều Nguyễn phong
Vương. Đề nghị của Ang Chan được triều Nguyễn chấp nhận ngay. Với việc Ang
Chan xin thần thuộc, triều Nguyễn đã có một cơ hội thuận lợi để tăng cường đáng kể
ảnh hưởng của mình ở Campuchia.
Đến cuối thế kỷ XIX, giai cấp phong kiến đầu hàng thực dân Pháp, nhân dân
Campuchia liên kết với các nghĩa sĩ Việt Nam
trong phong trào Trương Công Quyền
- Pôkumpao để chống xâm lược phương Tây. Sự hỗ trợ lẫn nhau trong những ngày
đầu chống thực dân Pháp xâm lược là những minh chứng thể hiện sự hợp tác chặt chẽ
của hai dân tộc cùng chống kẻ thù chung trong tiến trình lịch sử: “Chính sự thống trị
của thực dân Pháp đã đưa Campuchia - Việt Nam lại với nhau thành một đơn vị chính
trị” [15, tr15].
Từ năm 1930 trở đi với sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, truyền
thống đoàn kết chiến đấu của hai dân tộc được nâng lên một bước, biến đổi về chất,
thấm đượm tinh thần cách mạng. Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc trường kỳ
kháng chiến từng bước thắng lợi. Chiến thắng Điện Biên P
hủ và Hội nghị Giơnevơ
(1954) đã mang lại thắng lợi to lớn cho cả ba nước trên bán đảo Đông Dương. Đó là
điều kiện lịch sử vô cùng thuận lợi để nhân dân Campuchia tiếp tục đấu tranh đưa đất
nước Campuchia thoát khỏi sự ràng buộc của đế quốc Pháp (25.9.1955) chấm dứt 100
năm đô hộ của chế độ thực dân
.
Tuy nhiên, nhân dân Campuchia và nhân dân Việt Nam lại phải tiếp tục đoàn
kết chiến đấu trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai kéo dài từ năm 1954
đến năm 1975 với sự thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Đông Dương. Trong thập niên
1960, Campuchia tuyên bố trung lập, mặc dù chưa chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao với Hà Nội nhưng Campuchia đã cho: “Quân đội Bắc Việt vào đóng trong lãnh
Campuchia Pônpôt đã phát biểu: "Thắng lợi của chúng tôi mặc dù là do những nhân
tố chủ quan tạo nên; nhưng nếu không có sự giúp đỡ của Đảng Lao động Việt Nam;
của bộ đội và nhân dân Việt Nam
, và của nhân dân thế giới, trong đó đặc biệt là nhân
dân Việt Nam, thì chúng tôi không thể có thắng lợi như vừa qua được”[3, tr.5].
Đối với nước Campuchia Dân chủ, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
kiên trì chủ trương dùng phương pháp hiệp thương nhất trí với hai bên để giải quyết
đúng đắn những vụ va chạm về biên giới. Ngày 07 tháng 6 năm 1977, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
và Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã có thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Campuchia và
Chính phủ nước Campuchia Dân chủ bày tỏ "lòng chân thành mong muốn nhanh
chóng giải quyết vấn đề biên giới, chấm dứt những va chạm đổ máu làm tổn thương
tình đoàn kết chiến đấu và hữu nghị anh em Campuchia - Việt Nam , cùng nhau xây
dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước", và đề nghị "có cuộc gặp càng
sớm càng tốt giữa lãnh đạo cấp cao của Đảng và hai Chính phủ..."[3, tr.5]. Rất tiếc là
phía Campuchia đã khước từ đề nghị gặp gỡ này, công khai gây cuộc chiến tranh biên
giới giữa hai nước đồng thời tăng cường vu khống Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Điều đặc biệt hơn là trong nội bộ, Pônpôt hay nói bóng gió: “Đối với Việt
Nam, chúng ta đã tiến hành tương đối nhiều cuộc t
hương lượng nhưng đều vô ích, và
người ta chẳng biết đến thế kỷ nào mới giải quyết được các vấn đề ấy...”[62, tr.207].
Đối với Việt Nam, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn yêu cầu
hai nước ký hiệp ước hữu nghị và nói rõ rằng: “Hai bên đều phải tôn trọng nền độc
lập của nhau, tôn trọng đất đai của nhau, có như vậy mới đoàn kết được chặt chẽ, mới
giữ được tình nghĩa anh em giữa nhân dân hai nước và cần phải tiến hành đàm phán
để ký kết hiệp ước về biên giới giữa hai
nước” [6, tr.302].
Tiếp theo đó, tháng 8 năm 1975, Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Lao động Việt
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia và Chính phủ Campuchia Dân
chủ đề nghị có cuộc hội đàm càng sớm càng tốt giữa lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai
chính phủ ở Phnôm Pênh, Hà Nội, hay bất cứ nơi nào khác do hai bên thỏa thuận.
Ngày 18 tháng Sáu 1977, phía Campuchia Dân chủ trả lời : "Chờ một thời gian cho
tình hình bình thường trở lại và những xung đột ở biên giới được chấm dứt sẽ gặp gỡ
cấp cao"[6, tr.303].
Với ý đồ xâm lấn biên giới Việt Na
m, một mặt từ chối thương lượng, mặt khác
Pônpôt tiếp tục cho quân tấn công biên giới Việt Nam. Ngày 18 tháng 7 năm 1977,
lực lượng vũ trang của Campuchia Dân chủ đồng loạt tấn công trên chiều dài 40 km
vào tỉnh Kiên Giang, pháo kích nhiều lần vào thị xã Châu Đốc. Trên quốc tế, họ vu
cáo Việt Nam. Phát
biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Iêng Xary ám chỉ Việt
Nam xâm lược Campuchia. Ngày 26 tháng 9 năm 1977, Pônpôt tuyên bố Đảng Cộng
sản Campuchia đi thăm chính thức Trung Quốc. Cùng thời điểm đó, Pônpôt cho một
lực lượng lớn quân đội tấn công toàn tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh, sát hại thường
dân Việt Nam.
Để giải quyết bất đồng giữa hai nước, chính phủ Việt Nam đã đưa r
a những đề
nghị đầy thiện chí với mong muốn giải quyết sự bất đồng bằng phương pháp thương
lượng hoà bình nhưng chế độ Pônpôt đã bác bỏ mọi đề nghị thiện chí của Việt Nam.
Đến cuối năm 1977, chính quyền Pônpôt chính thức ra tuyên bố vu cáo Việt Nam
xâm lược Campuchia, chúng đã cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Việt Nam, rút sứ
quán Campuchia ở Hà Nội và yêu cầu tất cả cán bộ ngoại giao của sứ quán Việt Nam
ở Phnôm
Pênh về nước. Chúng tập trung lực lượng, tấn công trên quy mô lớn vào
lãnh thổ miền Nam Việt Nam, triệt phá nhiều làng mạc, giết hại nhiều dân thường vô
tội.
Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố vạch rõ thái độ và hành động của phía
Campuchia khiêu khích và tấn công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam. Việc Việt Nam
và đề nghị hai bên tuyên bố chấm dứt hoạt động thù địch ở vùng biên giới vào một
ngày gần nhất mà hai bên thoả thuận, tách quân khỏi biên giới 5km; đại diện ngoại
giao hai bên tại Viêng Chăn hoặc bất cứ thủ đô nào gặp nhau để thỏa thuận ngày, giờ,
địa điểm,
cấp bậc cuộc họp giữa đại diện hai Chính phủ.
Mọi cố gắng đề nghị thương lượng của Việt Nam đều bị bác bỏ, kể cả các
đề nghị thông qua trung gian của Liên Hiệp Quốc và Phong trào Không liên kết.
Trong khi đó những cuộc tiến công của quân Pônpôt giết hại người Việt N
am ở biên
giới ngày càng nghiêm trọng, điển hình là vụ thảm sát ở xã Ba Chúc (An Giang) và
cuộc pháo kích kéo dài bằng đại bác 130 ly vào thị xã Châu Đốc.
Trung tuần tháng 12 năm 1978, chính quyền Pônpôt tập trung 19 trong
tổng số 25 sư đoàn chủ lực ở biên giới Campuchia - Việt Nam ngày 23 tháng
12 năm 1978, quân Pônpôt tiến công thị trấn Bến Sỏi (Tây Ninh) với mục tiêu là đánh
chiếm thị xã Tây Ninh. Pônpôt còn vạch ra kế hoạch tấn công quy mô rộng lớn hơn
nhằm tiến công thành phố Hồ Chí Minh và chúng còn đưa r
a khẩu hiệu: “Tất cả cho
tiền tuyến để đánh Việt Nam” [63, tr.70].
ở Campuchia, do chính sách thống trị vô cùng tàn bạo của chế độ Pônpôt nên
mâu thuẫn giữa nhân dân với tập đoàn thống trị ngày càng sâu sắc. Chúng xây dựng
một xã hội chưa từng có trong lịch sử: “Không có thành phố, không có quyền sở hữu,
không có chợ búa và tiền tệ, không có gia đình” [14, tr.3]. Nhân dân đã nổi dậy đấu
tranh chống lại chế độ diệt chủng. Trên cơ sở Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước
Campu
chia ra đời do ông Hiêngxomrin làm Chủ tịch. Với sự giúp đỡ của bộ đội Việt
Nam, từ cuối tháng 12 năm 1978, sau khi đập tan hệ thống phòng thủ vòng ngoài, lực
lượng cách mạng đã tiến hành giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh vào ngày 07 tháng 01
năm 1979, lật đổ chế độ “Campuchia dân chủ” của Pônpôt. Trong hồi ký của mình,
Xihanuc thừa nhận: “Nếu không có sự can thiệp quân sự thắng lợi của Việt Nam
vào
Phản ứng quốc tế đối với việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia nói chung
không thuận. Chỉ có Liên Xô, Lào và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ra tuyên bố
ủng hộ. Đi đôi với việc lên án Việt Nam đưa quân vào Cam
puchia và đòi Việt Nam
rút quân, các thế lực thù địch đã tiến hành tập hợp lực lượng, thực hiện chính sách
bao vây cấm vận nhằm làm suy yếu và tạo sức ép với Việt Nam.
Trước tình hình đó, Việt Nam đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù
địch bao vây, cấm vận Việt Nam và tăng cường phối hợp giữa ba nước Việt Nam,
Lào và Campuchia trong các hoạt động quốc tế. Đồng thời, cùng với các bạn bè quốc
tế, Việt Nam ra sức giúp nhân dân Campuchia khắc phục hậu quả do chế độ diệt
chủng để lại, xây dựng đời sống kinh tế, xã hội mới, góp sức giúp đất nước
Campuchia hồi sinh.
Sau khi Campuchia được giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pônpôt, theo yêu
cầu của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Campuchia, Việt Nam để lại một lực lượng
quân đội và cử chuyên gia các ngành dân sự sang giúp nhân dân Cam
puchia ổn định
tình hình và xây dựng lại đất nước. Các lực lượng của Cộng hoà Nhân dân
Campuchia phối hợp với quân đội Việt Nam tiếp tục truy quét tàn quân Pônpôt, duy
trì ổn định, bảo đảm an ninh xã hội và khắc phục nạn đói cho 4 triệu dân Campuchia.
Với nỗ lực to lớn của chính quyền mới và của nhân dân Campuchia, được sự giúp đỡ
của Việt Nam, Liên Xô và các nước bè bạn, đời sống của người dân Campuchia dần
dần trở lại bình thường. Chợ búa, trường học, bệnh xá bị Pônpôt xoá bỏ được phục
hồi. Nhân dân Campuchia tiến hành tổng tuyển cử bầu ra quốc hội. Về đối ngoại,
ngay sau khi thành lập nhà nước mới, Cam
puchia đã thiết lập quan hệ chính thức với
Việt Nam. Ngày 12 tháng 01 năm 1979, hai nước trao đổi đại sứ. Ngày 17 tháng 02
năm 1979, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn
đầu tới Phnôm Pênh thăm chính thức Campuchia. Nhân dịp này, hai nước đã ký hiệp
ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác
thành xung đột quân sự ngay từ tháng 5 năm
1975 và phát triển lên thành cuộc chiến
tranh biên giới Tây - Nam Việt Nam. Thực chất của cái gọi là “vấn đề Campuchia” là
việc Trung Quốc sử dụng một trong những công cụ đắc lực nhất của họ để can thiệp
và đe doạ an ninh của các nước Đông Dương, trước hết là Campuchia. Nếu cho rằng
đây là xung đột giữa Liên Xô - Việt Nam với Trung Quốc - Khmer Đỏ là một điều sai
lầm. Vì
như thế sẽ không thấy được mối đe doạ lớn đối với an ninh của tất cả các
nước khu vực này là chủ nghĩa bành trướng và bá quyền Trung Quốc, Liên Xô từ
trước đến nay chỉ giúp nhân dân ba nước Đông Dương bảo vệ độc lập và xây dựng
đất nước hoà bình.
Thực chất của “vấn đề Campuchia” là cuộc xung đột giữa một bên là tàn quân
Pônpôt với sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài nhằm thủ tiêu những thành quả cách
mạng mà nhân dân Cam
puchia đã giành được, nhằm lật đổ Chính phủ nước Cộng hòa
Nhân dân Campuchia, phục hồi chế độ diệt chủng và một bên là cuộc chiến đấu chính
nghĩa của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia và nhân dân Campuchia
có sự giúp đỡ thiện chí, vô tư của Việt Nam và lực lượng yêu chuộng hòa bình, công
lý trên toàn thế giới để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng cuộc sống mới.
Nguyên nhân gây nên sự căng thẳng ở Cam
puchia trong những năm 80 không phải từ
phía Việt Nam như quan điểm một số nước mà là từ phía Pônpôt. Hành động của
quân tình nguyện Việt Nam là hoàn toàn chính nghĩa, phù hợp với Hiến chương Liên
Hiệp Quốc về quyền tự vệ chính đáng của các quốc gia và quyền giúp đỡ nhau chống
thảm họa diệt chủng, phù hợp với truyền thống đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc,
là hành động sáng ngời chính nghĩa, là b
iểu hiện cao đẹp của tinh thần quốc tế trong
sáng của Việt Nam. Tuyệt nhiên, hành động đó không phải là "xâm lược" như một số
nước lớn tiếng chỉ trích. Hành động đó được nhân dân Campuchia hết lòng ghi nhận,
được dư luận yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới đồng tình, ủng hộ và
được tăng cường, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia và làm gia tăng các hoạt
động kinh tế thương mại quốc tế. Cải cách và mở cửa đã xuất hiện như một trào lưu
tại nhiều nước trên thế giới. Để đẩy mạnh cải cách kinh tế và hiện đại hoá, một số
nước tiến hành ở mức độ khác nhau quá trình dân chủ hoá và cải cách chính trị.
Trước tình hình quốc tế và khu vực ngày càng diễn biến phức tạp, để bắt tay
với Trung Quốc chống Liên Xô ở châu á - Thái Bình Dương. Ngày 15 tháng 12 năm
1978, Mỹ và Trung Quốc đã ra thông cáo chung chính thức công nhận nhau và thiết
lập quan hệ ngoại giao từ ngày 01 tháng 01 năm 1979. Việc bình thường quan hệ Mỹ
- Trung Quốc đã gây bất lợi cho quan hệ Việt Nam mà mãi
tới 20 năm sau (1995)
quan hệ Việt Nam - Mỹ mới được bình thường hóa và gia nhập khối ASEAN (1995)
một cách khá chật vật.
Ngày 16 tháng 12 năm 1979, Chính quyền Mỹ Jimmy Carter có nêu 6 nguyên
tắc xử sự khi Trung Quốc xâm chiếm biên giới Việt Nam: Mỹ không can thiệp trực
tiếp; khuyến khích các bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung
Quốc rút quân khỏi Việt Nam; cuộc xung đột không đe doạ lợi ích trước mắt của Mỹ;
không đặt lại vấn đề bình thường hoá với Trung Quốc; quyền lợi đồng m
inh của Mỹ
không bị đe dọa. Cũng từ đó, cuộc xung đột Campuchia và quan hệ với Việt Nam đã
được đặt trong khuôn khổ của mối quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ - Xô - Trung và cũng
từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ - Việt Nam với quá trình giải quyết vấn đề
Campu
chia.
Cùng thời gian này, do những khó khăn kinh tế - xã hội chồng chất của thời kỳ
chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận bên ngoài nên trong nước đã
nảy sinh ra tình trạng “vượt biên” trốn ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả
hai miền Nam Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho Việt Nam, bôi đen thê
m
hình ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền nhân” lúc đó
Hội nghị ngoại trưởng ba nước này lần đầu tiên kể từ khi Việt Nam đưa quân vào
Campuchia năm 1979, Campuchia và Việt Nam đã tuyên bố về việc Việt Nam
rút
một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước.
Tháng 02 năm 1983, Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia
họp ở Viêng Chăn bàn về tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá giữa ba nước. Hội nghị
này Việt Nam đã ra tuyên bố: “Sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia là
theo yêu cầu của Campuchia, Việt Nam sẽ rút hết quân về nước khi an ninh
Campuchia được bảo đảm” [6, tr.309]
. Thực hiện theo lời tuyên bố, căn cứ vào mức
độ ổn định của tình hình Campuchia, hàng năm một bộ phận quân tình nguyện Việt
Nam sẽ được rút về nước. Tháng 7 năm 1983, Hội nghị ngoại trưởng ba nước tuyên