Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
NỘI DUNG TỰ HỌC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
==================================
Hạ Sơn, tháng 12/ 2014
MODULE 19: DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
* Nội dung 1: TÌM HIỂU CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC
1/ Trình bày những nguyên tắc khi ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học.
Trả lời: Các nguyên tắc khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Để việc úng dụng CNTT trong dạy học đạt hiệu quả mong muốn, người GV cần đảm bảo
thực hiện các nguyên tắc cơ bản sau:
Việc lụa chọn khả năng và mức độ úng dụng CNTT trong mọi bài học phải căn cứ vào mục
tiêu, nội dung và hình thức của bài học đó.
Việc úng dụng CNTT trong mãi bài học cần xác địch rõ: sử dụng CNTT nhằm mục đích gì,
giải quyết vấn đề gì, nội dung gì trong bài học.
Đảm bảo cho tất cả HS trong lớp cùng có cơ hội đuợc tiếp cận với CNTT trong quá trình
học.
Đảm bảo kết hợp giữa úng dụng CNTT với các PPDH, đặc biệt chú ý kết hợp với các PPDH
tích cực.
2/ Hãy cho biết vai trò của CNTT trong dạy học.
Trả lời: Công nghệ thông tin từ khi được đưa vào dạy học đã thể hiện được những vai trò
nhất định của mình như:
- Làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong dạy học: Nhờ các công cụ đa
phương tiện của máy tính như văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm thanh, hoạt cảnh, giáo viên sẽ
xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung của người học, dễ dàng thể hiện
được các phương pháp sư phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy
học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong
quá trình học…tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học.
- Góp phần thay đổi hình thức dạy và học: hình thức dạy dựa vào máy tính, hình thức học
dựa vào máy tính.
+ Đối với dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, công nghệ thông tin góp phần nâng cao tiềm
1. Mở một trình duyệt Internet vào một website (ví dụ như website của trường, của sở giáo
dục và đào tạo, ).
( Thực hành trong giảng dạy)
2. Tải các dữ liệu tìm kiếm được về nội dung một bài giảng mà học viên đang chuẩn bị soạn
giáo án trên mạng về máy tính cá nhân và lưu trữ, sử dụng.
( Thực hành trong giảng dạy)
BÀI THU HOẠCH MODULE 19:
DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học đã được chứng
minh bằng thực tiễn giáo dục trong và ngoài nước những năm qua, nó cho thấy việc ứng
dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy và học tập là xu thế tất yếu của giáo dục.
Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành
chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản
vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT. Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin
có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ thông
tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Trong những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy
học và quản lý giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ. Chúng ta đều thấy rõ và khẳng định
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
2
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ công tác giảng dạy, quản lý
học sinh. Nhiều đơn vị trường học cũng đã triển khai ứng dụng thành công các chương trình
phần mềm phục vụ giáo viên và học sinh như quản lý điểm, đồ dùng dạy học, thư viện, các
phần mềm ứng dụng cho dạy học các bộ môn, Tuy nhiên làm thế nào để việc ứng dụng
công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao đang là vấn đề được ngành giáo dục quan tâm.
Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số 4987/BGDĐT-
CNTT về hướng dẫn việc triển khai nhiệm vụ công nghệ thông tin (CNTT) cho năm học
Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau:
+ Tính cần thiết
+ Tính chính xác
+ Độ tin cậy
+ Tính thời sự
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
3
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin
mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin
mới là các quyết định quản lý.
Với quan niệm của công nghệ thông tin, thông tin là những tín hiệu, ký hiệu mang lại hiểu
biết, nhận thức của con người. Các tín hiệu thể hiện thông tin vô cùng đa dạng: âm thanh,
hình ảnh, cử chỉ hành động, chữ viết, các tín hiệu điện từ…. Thông tin được ghi lại trên
nhiều phương tiện khác nhau như giấy, da, đá, bảng tin, băng hình, băng ghi âm, đĩa từ, đĩa
quang… Trong công nghệ thông tin, thông tin thường được ghi lên đĩa từ, đĩa quang, chíp
điện tử (là tổ hợp các linh kiện điện tử)… Thông tin muốn được xử lý trên máy tính phải
được mã hoá theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được. Sau khi
xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được.
1.2. Công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT (Information Technology - viết tắt là IT) là một
ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin. Có thể hiểu CNTT là ngành
sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu tập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử
lý, truyền thông tin. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT. Ở Việt Nam, khái niệm CNTT
được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT
của Chính phủ Việt Nam như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa
học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn
thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất
phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”.
Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác bằng
đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng
đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
2.2. Vai trò đối với phát triển kinh tế, xã hội
Công nghệ thông tin và truyền thông đã phát triển một cách nhanh chóng, đã có những tác
động hết sức to lớn đối với sự phát triển của xã hội.
Khía cạnh kinh tế: Toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại
nói chung và tự do thương mại nói riêng. Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực. Quyền
lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các tổ chức này sẽ mở rộng việc
tự do đối với các giao dịch thương mại và thông qua các hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc
nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương mại quốc tế.
Khía cạnh văn hóa: Toàn cầu hóa sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá nhân
hay dân tộc. Một sự đa dạng cho cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hóa và văn
minh khác nhau. Toàn cầu hóa giúp con người hiểu hơn về thế giới và thách thức ở quy mô
toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hóa hoạt động du lịch, việc tiếp
cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hóa. Một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh
hưởng của các dòng chảy thương mai và văn hóa mạnh.
Công nghệ thông tin và truyền thông làm tăng cường các mối quan hệ giao tiếp và trao đổi
văn hóa trong các cộng đồng dân tộc và trên toàn cầu. Chính điều đó đã làm cho tính “toàn
cầu hóa” về văn hóa diễn ra hết sức nhanh chóng. Mọi người trên thế giới có thể nhanh
chóng nhận được những thông tin về những thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa học, thể
thao, có thể làm quen với những trình diễn nghệ thuật, văn hóa thể thao tinh hoa từ mọi
miền, của mọi cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới. Do đó các dân tộc có nhiều cơ hội hiểu
biết nhau hơn, thông cảm với nhau hơn để cùng chung sống với nhau.
Công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy quá trình dân chủ hóa xã hội. Mọi người
dân đều có thể dễ dàng truy cập thông tin, thông tin đến với mọi người, không thể bưng bít
thông tin. Công nghệ thông tin và truyền thông cũng giúp Nhà nước, các cơ quan quản lý có
khả năng nhanh chóng tiếp cận và xử lý thông tin để đưa ra các quyết định hợp lý. Tất cả
những yếu tố đó tạo điều kiện để tăng cường tính dân chủ của hệ thống chính trị xã hội.
hiểu, cập nhật tri thức và tự kiểm tra bản thân, làm cho chất lượng nâng cao thêm.
- CNTT ứng dụng trong định đánh giá chất lượng giúp cho công tác kiểm định được toàn
diện, kết quả kiểm định được khách quan và công khai.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua các sở giáo dục
đã chỉ đạo các trường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và đã góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo
2.4.3. Thay đổi hình thức đào tạo
Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển đã tạo nên những thay đổi lớn về giáo dục
và đào tạo. Nhiều hình thức đào tạo mới đã xuất hiện
* Đào tạo từ xa
* Đào tạo trực tuyến: Học tập trực tuyến (Online Learning) là một loại hình học tập sử dụng
mạng máy tính và internet.
Đào tạo trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là phương thức học ảo thông qua một máy
vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn giáo trình và phần mềm cần
thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh trực tuyến từ xa. Hiện nay có nhiều quan điểm,
định nghĩa khác nhau về E-learning, cách hiểu đơn giản là: E-learning là một thuật ngữ dùng
để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare
Infobase Inc).
Tuy có nhiều cách hiểu về e-learning khác nhau, nhưng nói chung có những điểm chung
sau:
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
6
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kỹ thuật đồ
họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-learning có tính tương
tác cao dựa trên công nghệ multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ
dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng
người.
- E-learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện nay, ngoài e-learning,
dụng CNTT trong các môn học;
d) Không dùng thuật ngữ “giáo án điện tử” cho các bài trình chiếu powerpoint. Tham khảo
mẫu giáo án đã được đưa lên mạng giáo dục.
3.2.Ứng dụng CNTT trong dạy và học là việc ứng dụng những thành tựu của CNTT một
cách phù hợp và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Như vậy, Ứng dụng CNTT
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
7
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn giản là dùng máy tính vào
các công việc như biên soạn rồi trình chiếu bài giảng điện tử ở trên lớp. Ứng dụng CNTT
phải được hiểu là một giải pháp trong mọi hoạt động liên quan đến đào tạo; liên quan đến
công việc của người làm công tác giáo dục; liên quan đến hoạt động nghiên cứu, soạn giảng;
lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tâp… Và cao hơn, với E-
Learning, hoạt động dạy và học ngày nay được diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Trên lớp, ở nhà,
ngay tại góc học tập của mình học sinh vẫn có thể nghe thầy cô giảng, vẫn được giao bài và
được hướng dẫn làm bài tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày ý kiến của mình…
Nhận thức được điều đó, việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học
theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục, được
triển khai một cách đầy đủ và thiết thực nhất. Một số hoạt động điển hình về ứng dụng
CNTT trong dạy – học được giáo viên thực hiện thành công và mang lại hiệu quả cao như:
-Tra cứu thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, nâng cao kiến thức chuyên môn và lấy tư
liệu hỗ trợ soạn giảng;
-Sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng để tạo bài giảng điện tử như MS Powerpoint,
Violet, iSpring Presenter và các phần mềm dựng phim, nhạc…
-Sử dụng các phần mềm hỗ trợ làm đề thi/kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
như McMix, Quest, MS Excel…
-Sử dụng diễn đàn, email như một phương tiện để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với giáo
viên các trường bạn trong cả nước.
-Triển khai các tiết học có ứng dụng CNTT, có sử dụng bài giảng điện tử. Nhà trường cũng
tổ chức ghi hình để dự giờ tập thể (ghi hình tiết dạy sau đó tổ chức chiếu lại để GV dự giờ,
thường dùng là MS PowerPoint,OpenOffice Impress , Mindjet MindManager, FreeMind hay
một số phần mềm sau:
- Adobe Photoshop
- Macromedia Flash
- Violet
- Adobe Pressenter, Lecture Maker để soạn bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learning
Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả nhờ ứng dụng CNTT mang lại, một số trường,
sở giáo dục và đào tạo đã yêu cầu, động viên, khuyến khích giáo viên soạn giáo án bằng máy
vi tính, sử dụng bản trình chiếu điện tử trong dạy học, điều mà cách đây chưa lâu được xem
là không cho phép.
3.5.2. Ứng dụng trong thực hiện bài giảng
Một trong các yếu tố để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học là
phương tiện dạy học qua việc sử dụng những phương tiện dạy học hiện đại: Máy chiếu
projector, smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang
web…
3.5.3. Ứng dụng trong khai thác dữ liệu
Trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay, thông tin trên internet đã trở
thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối với mọi người nếu biết cách
khai thác nó.
Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công cụ tìm kiếm:
google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Đối với giáo viên, ngoài việc tìm kiếm các
thông tin trên internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện bài
giảng…
Từ điển mở:
- Bách khoa toàn thư mở (www.wikipedia.org)
- Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt: />- Từ điển tiếng việt mở : />
- Từ điển Anh-Pháp-Việt-Hán: /> Thư viện bài giảng: Thư viện bài giảng được phát triển dựa trên ý tưởng của việc xây dựng
học liệu mở (OpenCourseWare). Chẳng hạn như thư viện bài giảng điện tử Violet:
/> Như chúng ta đã biết, để tạo được một bài giảng điện tử tốt, giáo viên cần rất nhiều kỹ
năng: Soạn thảo văn bản, đồ họa, quay phim, chụp ảnh, biên tập video, lồng tiếng…nhưng
+ Quản lý cán bộ:
+ Quản lý tài chính:
+ Quản lý học tập:
+ Xếp thời khóa biểu:
+ Quản lý thi trắc nghiệm:
-Sử dụng Internet và thư điện tử (email), sử dụng Website nhà trường
- Tìm kiếm thông tin trên Internet
-Sử dụng phần mềm xếp thời khóa biểu
-Sử dụng phần mềm quản lý học tập
Đơn cử như giáo viên và nhà trường có thể sử dụng bộ phần mềm Vemis của Bộ Giáo dục
hay SMAS 2.0 của Viettel …
3.7 MỘT SỐ CHÚ Ý KHI ĐƯA ỨNG DỤNG CNTT VÀO BÀI GiẢNG
- Giáo viên cần cân nhắc và lựa chọn kĩ các tiết dạy có hoặc không sử dụng công nghệ
thông tin sao cho phát huy được một cách tối đa hiệu quả và đảm bảo mục tiêt bài học
-Không lạm dụng các hiệu ứng trình chiếu phức tạp, nhiều hiệu ứng trình chiếu khác nhau
trong một slide
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
10
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
-Cùng với các hiệu ứng, giáo viên cũng nên chọn những hình nền đơn giản, sáng và phù
hợp với bài dạy để thể hiện nội dung một cách rõ ràng
-Lựa chọn các câu chữ ngắn gọn, súc tích và tường minh, thể hiện rõ nội dung để chiếu lên
màn hình
- Tránh lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem tranh ảnh,phim tư
liệu
-Nên kết hợp công cụ trình chiếu với ghi bảng
-Tránh lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem tranh ảnh, phim tư
liệu
-Nên kết hợp công cụ trình chiếu với ghi bảng
4. Những vấn đề cụ thể do Sở Giáo dục-đào tạo chỉ đạo
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
11
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
- Cung cấp và cập nhật kịp thời các văn bản hành chính trong trang “Thủ tục hành chính”
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Thực hiện đầy đủ quy định “3 công khai” đối với các đơn vị, cơ
sở giáo dục.
d.Ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới phương pháp dạy và học:
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích hợp
CNTT trong từng bộ môn theo định hướng tăng cướng các ứng dụng e_learning.
e. Thiết lập và sử dụng hệ thống e_mail:
Tiếp tục hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống e_mail có tên miền của ngành giáo dục và
đào tạo thành phố (…@hcm.edu.vn) hoặc của Bộ Giáo dục và Đào tạo (… )
trong quan hệ công tác. Đảm bảo trên nguyên tắc:
+ Mỗi một đơn vị, cơ sở giáo dục có địa chỉ mai theo tên miền giáo dục trong quan hệ công
tác.
+ Mỗi cán bộ, giáo viên đều có địa chỉ e-mail của ngành để quan hệ, giao tiếp trong công
việc.
f. Nâng cấp kết nối mạng internet và tích cực triển khai cáp quang:
Các đơn vị, cơ sở giáo dục kiểm tra, nâng cấp kết nối internet băng thông rộng. Tích cực
triển khai kết nối cáp quang. Sở Giáo dục và Đào tạo khuyến khích các đơn vị có điều kiện
nên có 02 đường truyền cáp quang nhằm đảm bảo tính ổn định của hệ thống và đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của công tác.
Các trường THCS cần tập trung thực hiện :
1. Nghiên cứu và thực hiện đúng nội dung các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào
tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo về CNTT.
2. Xây dựng kế hoạch thực hiện các phương hướng, nhiệm vụ ICT trong đơn vị (trường)
và đơn vị trực thuộc (Phòng GD&ĐT).
Triển khai thực hiện website của đơn vị. Khai thác website đúng chức năng, phục vụ tốt
quản lý, dạy - học.
4. Tổ chức kiểm tra thực hiện, đánh giá tình hình, điều chỉnh các nội dung công tác ICT.
MODULE 20: SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC
Trong mô đun nghiên cứu những vấn đề sau:
*TBDH gồm 2 nhóm: TBDH truyền thống (bảng, tranh vẽ, mô hình, vật thật, bản đồ ) và
TBDH hiện đại (overhead, projector, đầu đĩa CD, VCD, máy tính )
*Các hoạt động nghiên cứu:
-Tìm hiểu vai trò của thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học môn học.
-Nghiên cứu sử dụng các thiết bị dạy học theo môn học.
-Phối hợp sử dụng các thiết bị dạy học truyền thống và hiện đại làm tăng hiệu quả dạy
học môn học.
-Tự làm một số đồ dùng dạy học theo môn học.
*Cơ sở vật chất sư phạm/ cơ sở vật chất trường học
- Cơ sở vật chất (CSVC) sư phạm là tất cả các phuơng tiện vật chất được huy động vào việc
giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo
dục.
- Hệ thổng csvc trường học được mô tả bởi sơ đồ sau;
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
13
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
*Thi
ết bị
dạy học (Teaching Equipment)
Có nhiều tên goi nhưng đều phản ánh các dấu hiệu bản chất chung nhất của TBDH.
*Tống quan vê hệ thống thiết bị dạy học ở trường THCS gồm các vấn đề:
Hệ thống thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở, Phân loại, đặc điềm, hình thức sừ dụng
các loại hình thiết bị dạy học.
TBDH gồm 2 nhóm: TBDH truyền thống (bảng, tranh vẽ, mô hình, vật thật, bản đồ ) và
TBDH hiện đại (overhead, projector, đầu đĩa CD, VCD, máy tính )
*Bản chất của thiết bị dạy học là:
- TBDH phản ánh các đối tượng nghiên cứu, phản ánh quá trình dạy và học.
- TBDH chứa đựng trong nó di sản vật chất và phi vật chất của thế hệ truớc.
giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục-đào tạo với nhiều mô hình, biện
pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một
cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại
thói quen học tập thụ động. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên
quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan trọng.
Nói chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ công việc của giáo
viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các phương tiện
thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng
dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho
học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ
tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe-thấy-làm
được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không
bằng những gì tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giáo viên
có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của
quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các em.
Tính chất của phương tiện dạy học biểu thị nội dung thông tin học, hình thức thông tin và
phương pháp cho thông tin chứa đựng trong phương tiện và phải dưới sự tác động của giáo
viên hoặc học sinh tính chất đó mới đựơc bộc lộ ra. Như vậy đã có mối liên hệ chặt chẽ giữa
tính chất và chức năng của phương tiện dạy học.
II.Yêu cầu:
Trong quá trình dạy học, chức năng của các phương tiện dạy học thể hiện sự tác động đạt
được mục đích dạy-học.
Phương tiện dạy học bao gồm các chức năng sau:
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
15
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
- Truyền thụ tri thức
- Hình thành kỹ năng
- Phát triển hứng thú học tập
- Tổ chức điều khiển quá trình dạy học.
* Tính khoa học sư phạm
Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lương phương tiện dạy học. Chỉ tiêu
này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung phương pháp dạy
học với cấu tạo và nội dung của phương tiện. Tính khoa học sư phạm thể hiện ở chỗ:
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức, kỹ năng kỹ xảo
nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp cho giáo viên truyền đạt một
cách thuận lợi các kiến thức phức tạp, kỹ xảo tay nghề làm cho họ phát triển khả năng
nhận thức và tư duy logic.
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
16
Vở tự học Bồi dưỡng thường xuyên Module 19,20,25,32
- Nội dung cà cấu tạo của phương tiện dạy học phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạy lý
thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ bản.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, thúc
đẩy khả năng tiếp thu năng động của học sinh.
- Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung, bố
cục và hình thức, trong đó mỗi cái phải có vai trò và chỗ đứng riêng.
Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các
hình thái tổ chức dạy học tiên tiến.
* Tính nhân trắc học
Thể hiện ở sự phù hợp của các phương tiện dạy học với tiêu chuẩn tâm sinh lý của giáo
viên và học sinh, gây được sự hứng thú cho học sinh và thích ứng với công việc sư phạm của
thầy và trò. Cụ thể là:
- Phương tiện dạy học dùng để biểu diễn trước học sinh phải được nhìn rõ ở khoảng cách
8m. Các phương tiện dạy học dùng cho cá nhân học sinh không được chiếm nhiều chỗ
trên bàn học.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
- Màu sắc phải sáng sủa, hài hòa và giống với màu sắc của vật thật (nếu là mô hình, tranh
vẽ).
- Bảo đảm các yêu cầu về độ an toàn và không gây độc hại cho thầy và trò.
trường bao gồm: không gian, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, độ ẩm, sự lưu thông của không
khí, hình thức và nội dung bố trí các đồ vật, nơi làm việc của học sinh và giáo việc (lớp học,
phòng thực hành, xưởng )
+ Bảo đảm các nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học. Phương tiện dạy học có tác dụng
làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh thu nhận được
kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan. Tuy vậy, nếu không sử dụng phương tiện dạy
học một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của phương tiện dạy học không những không tăng
lên mà còn làm cho học sinh khó hiểu, rối loạn, căng thẳng Do đó các nhà sư phạm đã nêu
lên các nguyên tắc đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ. Như vậy, không phải bao giờ và bất
cứ đâu phương tiện dạy học cũng có tác dụng tích cực đến hoạt động nhận thức của học
sinh. Nhiều khi, nếu được sử dụng không đúng với những yêu cầu sư phạm cụ thể, phương
tiện dạy học lại có tác dụng theo chiều tiêu cực, làm cho học sinh hoang mang, hiệu quả tiếp
thu kém để phát huy hết hiệu quả và nâng cao vai trò của phương tiện dạy học khi sử dụng
phương tiện, người giáo viên phải nắm vững ưu nhược điểm và các khả năng cũng như yêu
cầu của phương tiện để việc sử dụng phương tiện dạy học phải đạt đựơc mụch đích dạy học
và phải góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
Giáo viên: Cao Minh Anh Tổ Khoa học Xã hội-Trường THCS Hạ Sơn
18