TỰ HỌC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NĂM HỌC 2015 – 2016
MODULE 37:
GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TRƯỜNG THCS
Nội dung 1: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Hoạt động 1: Tìm hiểu những thách thức đối với địa phương, quốc gia và toàn
cầu.
1/ Nhiệm vụ: Trả lời câu hỏi sau:
? Thuật ngữ phát triển bền vững bất đầu xuất hiện từ bao giờ? Phát triển bền vững
có nghĩa là gì?
Trả lời:
Thế kỉ XXI được đánh giá như một thời đại hậu công nghiệp hoá, hậu tri thức, nơi cơ
cấu xã hội dần dần được xây dựng trên những khả năng mang tính luận lí, tuyến tính,
chuyên biệt và đầy những kí tự nhị nguyên của thông tin sổ.
Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển đã đặt ra ý tưởng về sự bền vững nằm
trong khái niệm sau: “Xã hội bền vững chính là một cộng đồng đáp ứng được nhu cầu
của hiện tại mà không đánh mất khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương
lai".
Phát triển bền vững là một khái niệm không giới hạn và vẫn còn thảo luận. Tuy
nhiên, khái niệm này cũng có một số nguyên tắc căn bản, bao gồm:
Tích hợp các chính sách và hoạt động của kinh tế với môi trường;
Nguyên tắc phòng ngừa;
Nhận thức những chiêu kích toàn cầu;
Định giá trị môi trường;
Bảo đảm công bằng giữa các thế hệ và ngay trong từng thế hệ;
Bảo tồn sự toàn vẹn của sinh thái và đa dạng sinh học;
Sự tham gia của toàn thể cộng đồng.
Khái niệm phát triển bền vững được hình thành và trải qua các mốc sự kiện trên thế
giới như sau:
Năm 1963: cuốn sách Mùa xuân câm lặng của nữ văn sĩ Rachel Carson, với những
tiết lộ về những hiểm hoạ của thuốc trừ sâu DDT, đã hoài nghi một cách biện chứng
đồng Liên hợp quốc lấy ngày 5/6 làm Ngày Môi trường Thế giới và quyết định vào
ngày này hằng năm, Liên hợp quốc và tất cả chính phủ trên phạm vi toàn thế giới tiến
hành các hoạt động nhằm tái khẳng định mối quan tâm của cả thế giới đổi với việc
gìn giữ và cải thiện môi trường sống cho nhân loại. Hội nghị đã có một tuyên bố về
môi trường con người, thỏa thuận về một chương trình hành động quốc tế rộng lớn,
thành lập chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Ban Thư kí thường
trực về môi trường đặt tại Kenya và thành lập Quỹ Môi trường.
Näm 1980, tiếp theo Hội nghị Stockholm, tổ chức Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế
giới (IUCN), chương trình Môi trường Liên họp quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên
nhiên Thế giới (WWF) đã đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới. Chiến lược này thúc
giục các nước soạn thảo các chiến luợc bảo tồn quốc gia của mình. Ba mục tiêu chính
về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn manh trong chiến lược như sau:
+ Duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái
sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo vệ an toàn nguồn nước);
- Bảo tồn tính đa dạng sinh học;
- Bảo đảm sử dựng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái.
Từ khi Chiến lược bảo tồn thế giới được công bố tới nay, đã có trên 60 chiến lược
bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ Phát triển bền
vững lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền vững
sinh thái. Tiếp theo chiến lược này, năm 1991 một công trình khoa học có tiêu đề cứu
lấy Trải Đất - Chiến lược cho cuộc sống bền vững đã được IUCN, UNEP và WWF
soạn thảo và công bố (cuốn sách này đã được Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và
Môi trường dịch ra tiếng Việt vào năm 1993). Trong đó, nhiều khuyến nghị về cải
2
cách luật pháp, thể chế và quản trị đã được đề xuất.
Năm 1904, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã uỷ nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland,
khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch uỷ ban Quốc tế về Môi
trường và Phát triển (WCED), nay còn được biết đến với tên uỷ ban Brundtland. Tới
môi trường; thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu) đã được tập trung thực hiện.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại
lohannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10
năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã
vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên. Những mục tiêu này bao
gồm Xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi
trường, nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lí các nguồn tài
nguyên Thiên nhiên. Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hoá gắn với các vấn đề
liên quan tới sức khỏe và phát triển. Các đại diện của các quốc gia tham gia Hội nghị
cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm
2005.
3
Như vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1900 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản:
"Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chủ trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải
tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến mới trường sinh thái
học".
Khái niệm này' được khẳng định trong Báo cáo BrundtLand (năm 1937). Báo cáo này
ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thểẩảp ứng được nhữngnhu cầu hiện
tại mà khởng ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
tương lai..”. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đẳm có sự phát triển kinh tế
hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Đề đạt được điều
này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải
bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế - xã hộimôi trường.
2/ Nhiệm vụ: Trả lời câu hỏi sau:
Sự tham gia của các nước và Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững nói chung ở
cấp toàn cầu và cấp độ quốc gia như thế nào?
kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp
chặt chẽ, hợp lí và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài
nguyên, môi trường; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các
bộ, ngành, địa phương các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng
dân cư và mỗi người dân.
Tạo lập điều kiện để mọi người, mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để
phát triển; được tiếp cận những nguồn lực chung; được tham gia, đóng góp và hường
lợi; tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai
sau, sử dựng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên không thể tái
tạo; gìn giữ và cải thiện mới trường sống; dựng xã hội học tập; xây dựng lối sống
thân thiện môi trường, sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước.
5
Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với mới trường cần được ưu tiên sử dựng rộng
rãi trong các ngành sản xuất.
- Mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát: tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng
xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Các mục tiêu cụ thể:
+ Bảo đẳm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương
thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính, chuyển đổi mô hình tăng trường sang
phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng
nhanh, phát triển kinh tế các bon thấp; sử dựng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực.
+ Xây dựng xã hội dân chủ, kỉ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát
doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lí cơ bản. Yếu tố được
6
chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập
trung mang lại lợi nhuận cho một số ít; không được làm ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.
Nội dung 2: GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Trả lời các câu hỏi sau:
1/ Giáo dục có vai trò như thế nào trong phát triển bền vững?
Phản hồi:
Giáo dục và phát triển bền vững: Giáo dục là một nguồn sức mạnh cho tương lai.
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia, đáp ứng
những nhu cầu và nguyện vọng trong xã hội. Trong khi mối quan hệ giữa giáo dục và
sự phát triển bền vững còn trừu tượng, thì giáo dục chính là chìa khóa khai thông
tiềm năng của một quốc gia để phát triển và đạt được sự bền vững. Đặc biệt khi giáo
dục trực tiếp giúp cải thiện năng suất nông nghiệp, cung cấp kĩ năng làm việc cho
những ngành công nghiệp mới, cải thiện vị thế của phụ nữ trong xã hội, nó sẽ thúc
đẩy nhiệm vụ bảo vệ môi trường, xây dựng năng lực cho việc ra quyết định đúng đắn
và phù hợp với đạo đức và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người.
Giáo dục có thể đảm bảo rằng mọi công dân, từ trẻ em đến người già, có kiến thức về
những thay đổi cần thiết, có khả năng xây dựng tầm nhìn về tương lai, có cam kết
thực hiện dân chủ, có các kĩ năng cần thiết và có động lực để hành động tích cực
nhằm tạo ra thay đổi. Đó chính là giáo dục vì sự phát triển bền vững.
Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc giúp người học hình thành hành vĩ và thái
độ cần thiết cho phát triển bền vững, đồng thời có được năng lực và hành động cụ thể
vì một xã hội bền vững cả về kinh tế, môi trường hoá; một lối sống hài hoà với việc
sử dụng bền vững và công bằng các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên cũng như chuẩn
bị cho cá nhân đổi phó với những khỏ khăn và thách thức, tăng cường khả năng thích
nghi. Giáo dục còn dạy cho người học biết tôn trọng và bảo vệ môi trường, chấp nhận
dục là:
Học để biết: có kiến thức, giá trị và những kĩ năng để hiểu biết và tìm kiếm tri thúc
và kinh nghiệm.
Học để làm: có kiến thức, giá trị và những kĩ năng để chủ động tham gia vào công
việc sản xuất và giải tri.
Học để chung sống: có kiến thức, giá trị và những kĩ năng cho hoà bình cho hợp tác
cộng đồng giữa các nền văn hoá trên thế giới.
Học để tồn tại: có kiến thức, giá trị và những kĩ năng để có đuợc hạnh phúc cá nhân
và gia đình.
Học để thay đổi bản thân, thay đổi xã hội: có kiến thức, giá trị và những kĩ năng để
tự đánh giá bản thân trở thành công dân tích cực
Những ý tưởng giáo dục vì sự phát triển bền vững ban đầu được thể hiện trong
chương 36 của chương trình Nghị sự 21 với tên gọi “Tăng cường giáo dục, đào tạo và
nhận thức của cộng đồng', chương này chỉ ra vai trò của giáo dục trong quá trình tìm
kiếm một cách thức phát triển theo hướng tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên,
chú trọng tầm quan trọng của công tác định hướng và định hướng lai giáo dục nhằm
tôn vinh các giá trị và hành vi tôn trọng môi trường; đồng thời vạch ra đường lối thực
hiện công tác đó.
Thập kỉ Giáo dục vì phát triển bền vững 2005 - 2014 đuợc Liên hợp quốc chính thức
phát động tháng 3/2005 theo Nghị quyết 57/254 của Đại Hội đồng thông qua ngày
20/12/2002. Cam kết quốc tế lần này đặt giáo dục vào trung tâm, coi đó vừa là nền
tảng, vừa là phương thức hữu hiệu để triển khai các cam kết phát triển bền vững. Liên
hợp quốc cũng đã chỉ định UNESCO là cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các hoạt
động của Thập kỉ và xây dựng một kế hoạch triển khai toàn cầu.
Mục đích chung của Thập kỉ là thúc đẩy giáo dục với vai trò là nền tảng cho một xã
hội bền vững hơn và lồng ghép nội dung của phát triển bền vững vào hệ thống giáo
dục ở tất cả các cấp nhằm khuyến khích sự thay đổi trong cách ứng xử để có đuợc
một tương lai bền vững cho tất cả mọi người. Mục đích của Thập kỉ này không chỉ là
quá trình hình thành và tăng cường nhận thức về phát triển bền vững cho mọi người
mà còn là cả quá trình biến đổi những nhận thức đó thành hành động cụ thể vì một
công dân có trách nhiệm và là một nhân tố tham gia toàn diện vào quá trình sống và
phát triển của cộng đồng toàn cầu.
3/ Giáo dục vì sự phát triển bền vững khác gì với giáo dục thông thường?
Liên Hiệp Quốc đã công bố 2005 – 2015 là thập kỷ của nền giáo dục vì sự Phát triển
bền vững (Education for Sustainable Development), gọi tắt là Giáo dục bền vững
(GDBV) (Sustainability Education). GDBV được định nghĩa là quá trình học dẫn đến
kết quả là hình thành nơi người học khả năng giải quyết vấn đề, trình độ hiểu biết về
khoa học và xã hội và những hành động hợp tác cần thiết để đảm bảo cho một xã hội
công bằng, thịnh vượng và môi trường trong lành (PCSD,1999). Năm 2003,
UNESCO được đề cử điều hành thập kỉ Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (Decade
of Education for Sustainable Development-DESD). ESD muốn phá bỏ lối giáo dục
truyền thống như: học theo môn học và ủng hộ lối học kết hợp liên ngành trong
GDBV ; học theo giá trị; học có tư duy chứ không học thuộc lòng; tiếp cận đa
phương pháp, đa hình thức: thơ, kịch, vẽ, tranh luận…; tham gia vào việc ra quyết
định; tiếp cận thông tin địa phương phù hợp vẫn hơn thông tin cấp quốc gia (Unesco,
2003).
Chúng ta cũng đã biết Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại
nhưng không phá hủy khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai.
Trong nhiều năm qua, giáo dục Môi trường (GDMT) đã được ngành giáo dục nước ta
quan tâm và mong muốn lồng ghép vào các môn học ở bậc phổ thông. Tuy nhiên việc
thực hiện lồng ghép GDMT qua các môn học ở bậc phổ thông nói trên chưa trở thành
phổ biến; ngoài ra, GDMT ở nước ta hiện nay cũng còn nặng về “GD về MT”, trong
khi nguyên tắc “GD vì MT và trong MT” chưa được quan tâm đầy đủ. Hơn nữa, bên
cạnh GDMT, thì Giáo dục bền vững (GDBV) cũng đang trở thành một yêu cầu cấp
thiết, đặc biệt trong tình hình nước ta đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hóa; Cũng như quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ và sự phân hoá
giàu nghèo ngày càng trở nên sâu sắc. Tuy nhiên, cho đến nay thì những hoạt động
này ở nước ta cũng như tại TP HCM cũng còn rất hiếm hoi.
Như vậy GDMT và GDBV cùng có những tính chất giống nhau như bảo vệ Môi
kinh tế với bảo đảm bình ổn xã hội và bảo vệ môi trường đang trở thành yêu cầu bức
thiết đối với toàn thế giới.
Phát triển bền vững
Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội
và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả quá trình sản
xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và
tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Chính vì thế,
năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc
được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ
XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn
những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những
nhu cầu của thế hệ tương lai”. Theo đó, ba trụ cột phát triển bền vững được xác định
là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển
nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và
phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát
triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức
khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái
môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự
thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu
thiên niên kỷ.
Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều trong giới nghiên
cứu cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách. Quan niệm về phát triển
bền vững thường được tiếp cận theo hai khía cạnh:
Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị môi
trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành
những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển.
Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát
triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau.
đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu hướng gần lại;
chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.
Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,... đều tác động
đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền
vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường
sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí,
nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần
được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc
gia hoặc quốc tế.
Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam và những kết quả ban đầu
Bắt nhịp bước đi của thời đại, Đảng và Chính phủ đã sớm nhận thức tầm quan trọng
của phát triển bền vững. Ngày 25-6-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 36-CT/TW về
tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Trong các văn kiện Đại hội IX, X, và đặc biệt là văn kiện Đại hội XI của
Đảng, quan điểm phát triển bền vững càng được chú trọng hơn và nhấn mạnh nhiều
lần trên nhiều góc độ tiếp cận. Để chỉ đạo thực hiện thành công Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng ta đã đưa ra 5 quan điểm phát triển, trong đó, quan
12
điểm đầu tiên là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền
vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”.
Thực hiện quan điểm của Đảng, căn cứ vào Chương trình hành động thế kỷ XXI của
quốc tế, ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
154/2004/QĐ-TTg “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn
gọi là Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam nêu bật những vấn đề đang đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, xã hội
và môi trường, những thách thức mà nước ta đang phải đối phó. Chiến lược đã tạo lập
mối quan hệ tương hỗ giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; đã xác định
đã được tất cả các địa phương, các ngành và các tầng lớp nhân dân đồng thuận và
cùng tham gia. Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên tình trạng
cháy và chặt phá rừng đã giảm đi.
Những vấn đề đặt ra và ba khâu đột phá:
Có thể thấy rõ rằng, trong những năm qua, chúng ta đã triển khai và thực hiện khá
13
thành công một số nhiệm vụ để hướng tới phát triển bền vững. Tuy nhiên, những
thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Trình
độ phát triển kinh tế còn thấp so với các nước trên thế giới và ngay cả một số nước
trong khu vực. Xem xét ở ba khía cạnh để tăng trưởng bền vững là: kinh tế, xã hội và
môi trường để thấy rõ còn nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết.
Thứ nhất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung vẫn còn yếu. Tích lũy
nội bộ còn thấp; tăng trưởng kinh tế có bước chững lại, thấp hơn mức tăng của những
năm trước do di chứng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu.
Đầu tư của Nhà nước hiệu quả thấp, còn thất thoát và lãng phí. Tỷ lệ nợ công so với
GDP của các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt là: 56,8%, 54,9% và 55,6%. Đây là mức
nợ tương đối cao. Cho dù tổng khối lượng nợ vẫn được coi là trong ngưỡng an toàn,
nhưng tiềm ẩn đằng sau đó là nhiều rủi ro.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng hiện tại chưa có chuyển biến đáng kể trong việc
đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định,
còn những yếu tố thiếu vững chắc, các thành phần kinh tế chưa phát huy hết năng lực,
chưa thực sự được bình đẳng và yên tâm đầu tư kinh doanh. Cơ chế quản lý, chính
sách phân phối có mặt chưa hợp lý, chưa thúc đẩy tiết kiệm, tăng năng suất, kích
thích đầu tư phát triển. Hệ thống tài chính, ngân hàng đổi mới chậm, chất lượng hoạt
động hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh còn một số vướng mắc, chưa tạo điều
kiện hỗ trợ tốt cho kinh tế phát triển...
Thứ hai, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất
là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế, chưa chuyển mạnh sang đào
tranh lành mạnh sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực của đất nước cân bằng, tạo điều
kiện để tăng trưởng và phát triển kinh tế có hiệu quả cao. Hệ thống thể chế muốn có
chất lượng cao và hoạt động thực tiễn theo thể chế có hiệu quả, cần cải cách mạnh mẽ
nền hành chính quốc gia trên tất cả các nội dung về thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục
hành chính và tài chính công gắn với một hệ thống phân cấp hợp lý, hiệu quả, nâng
cao chất lượng quản trị công. Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường cần được giải
quyết tốt theo hướng chuyển mạnh từ chỗ Nhà nước điều hành nền kinh tế sang Nhà
nước kiến tạo và phát triển. Chức năng của Nhà nước là xây dựng, quy hoạch phát
triển theo một chiến lược đúng đắn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và hội nhập
quốc tế, tăng cường giám sát và phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn
định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống; tập trung hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội
và phúc lợi xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả tăng
trưởng. Thứ hai, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất
lượng cao; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ. Đây là đột phá cội nguồn, quan trọng nhất để làm tăng sức
mạnh của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, có ảnh hưởng quyết định đến việc phát
triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường, phục vụ đắc lực cho chiến lược
phát triển bền vững. Điểm nhấn mới trong khâu đột phá này là đặt việc phát triển
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự gắn kết với việc phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Chính điều này bảo đảm chuyển tiềm tăng trí
tuệ của nguồn nhân lực thành những thành quả ứng dụng và sáng tạo khoa học, công
nghệ - động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh, bền vững. Thứ ba, kết cấu
hạ tầng là đường dẫn của sự phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện để phân bổ lực
lượng sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển
đồng bộ sẽ mở rộng không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, làm tăng quy mô
sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế. Để thực hiện tốt đột phá này, phải thay đổi cách
tiếp cận từ khâu quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên đến phương thức huy động nguồn
lực và thủ tục triển khai các dự án.
Với những phân tích trên, có thể thấy, phát triển bền vững đã trở thành một phương
thức phát triển tổng hợp đa ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với
dạng sinh học TG,...Đặc điểm của hình thức này là huy động mọi người cùng tham
gia. Các hình thức tổ chức sự kiện như:
- Tổ chức một hội chợ với nhiều gian hàng của các khoa, lớp, trưng bày các thông tin,
các chỉ dẫn để sống bền vững hoặc bán các sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuỳ
quy mô của hội chợ, có thể liên kết với các đơn vị kinh doanh sản xuất theo mô hình
bền vững (ví dụ đối với đơn vị sản xuất túi nylon tự hủy có thể phát miễn phí tại chỗ
cho người tham dự ).
- Tổ chức cuộc đi bộ (ví dụ đi bộ vì màu xanh của Trái đất); tổ chức cuộc chạy xe đạp
(kêu gọi tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính)
3. Dự án, chiến dịch, cuộc thi:
Các dự án, cuộc thi cần vạch ra các mục tiêu cụ thể và kế hoạch để đạt được mục tiêu
một cách chi tiết, tỉ mỉ. Một Dự án thường tiến hành trong suốt học kì.
- Dự án có thể nhận được sự tài trợ (từ doanh nghiệp hay một tổ chức Môi trường)
thông qua một hợp đồng trong đó xác định rõ khi kết thúc dự án, người tham gia phải
hoàn thành những chỉ tiêu hợp đồng đề ra, ví dụ % số lượng điện đã tiết kiệm (giảm
tiêu thụ) được.
- Chiến dịch hành động cá nhân. Ví dụ “Chiến dịch 3-2-1” nhắm vào mục tiêu tiết
kiệm năng lượng và hạn chế rác thải. Cụ thể, mỗi cá nhân tham gia cam kết: Thực
hiện 3 hành động mỗi ngày như rút phích cắm điện ra khỏi ổ điện khi không sử dụng;
Tắt đèn khi không sử dụng; Nhặt phế liệu để tái chế (để bán ve chai); Thay thế 1
bóng đèn thông thường bằng một bóng đèn compact. Hoặc ví dụ khác: mang theo 2
túi đựng đồ khi đi mua sắm (không đi tay không, không dùng bao xốp). Bên cạnh các
hành động cá nhân, một số hoạt động khác huy động sự thi đua tập thể, sẽ góp phần
nâng cao nhận thức hữu hiệu hơn, như các chiến dịch giảm rác trong khuôn viên
trường (phòng làm việc, lớp học, kí túc xá, nhà ăn…). Quy mô chiến dịch có thể khác
nhau, nhưng cần có đánh giá, dựa trên các tiêu chí. Ví dụ: % lượng rác có thể tái chế
được; Số lượng phế liệu thu gom được; Lượng chất thải rắn/người ít nhất; Lượng rác
16
tái chế được lớn nhất
- Các nhóm sinh hoạt định kì, ví dụ câu lạc bộ sinh thái. Các thành viên của nhóm
nhập cho cộng đồng này.
6. Tham quan, thực địa:
Nghe và nhìn chiếm 25% khả năng lưu giữ thông tin trong quá trình dạy và học. Do
đó, người học cần được “mắt thấy, tai nghe” trực tiếp ngoài thiên nhiên hoặc cơ sở
sản xuất, dịch vụ.
Ở mỗi khoá học và mỗi ngành học, phân phối chương trình đều có thiết kế một học
phần tham quan thực tế cho SV. Để thúc đẩy GDBV, các khoa, bộ môn cần đưa vào
chuyến đi này những địa điểm điển hình về PTBV. Ví dụ tham quan nhà máy sản
xuất phân hữu cơ từ rác thải; nhà máy sản xuất thực phẩm từ nguồn thịt gia súc không
chứa các chất
độc hại (chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng,….) hay nhà máy sản xuất các
tấm pa nô để tạo ra năng lượng từ Mặt Trời….;hoặc tìm hiểu các hộ nông dân với qui
trình sản xuất rau sạch; qui trình sản xuất và sử dụng biogas….
7. Thực hiện các mẫu hình Bền vững tại trường:
GDBV cho sinh viên cần thể hiện sự bền vững đó qua cơ sở vật chất của trường học
17
(trường học xanh, trường học thân thiện), ngoài ra nhân viên các phòng, ban… cần
được hướng dẫn cách tiết kiệm năng lượng và giảm rác thải khi sử dụng chúng (sử
dụng máy vi tính, máy in, máy chiếu, đèn, quạt, máy lạnh, giấy,…).
Để tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng hiệu quả, cần trang bị:
- Các máy móc, thiết bị có dán nhãn ngôi sao năng lượng, như: máy vi tính, máy
lạnh, máy chiếu, điện thoại…hoặc các máy móc đựơc cài đặt thiết bị kiểm soát điện
năng, bấm giờ ngắt điện (giúp sử dụng năng lượng ít hơn).
- Các thiết bị sử dụng nước trong nhà ăn, kí túc xá,…theo hướng tiết kiệm (ví dụ có
hệ thống hứng nước mưa, tưới nước nhỏ giọt, sử dụng vòi hoa sen, vòi nước với hệ
thống lỗ đục nhỏ hơn, ) hay các bóng đèn nên thiết kê` với điện năng vừa đủ (ví dụ 18
watt thay vì 26 watt).
- Hệ thống cửa sổ của các phòng bố trí sao cho đón được ánh sáng tự nhiên. Có khu
Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển Bền vững của Việt Nam đã được thành lập theo quyết
18
định số 295/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11 tháng 11 năm 2005. Việt
Nam đã xây dựng một Kế hoạch hành động quốc gia cho Thập kỷ GDPTBV (20052014) tập trung vào bảy chiến lược chính để thực hiện GDPTBV bao gồm: Định
hướng và xây dựng tầm nhìn; Đóng góp và làm chủ; Liên kết và hợp tác; Xây dựng
năng lực và đào tạo; Nghiên cứu và đổi mới; Công nghệ truyền thông và thông tin;
Theo dõi và đánh giá. Trong 5 năm đầu Thập kỷ, các hoạt động của Uỷ ban chủ yếu
tập trung vào việc nâng cao nhận thức về GDPTBV, thí điểm các sáng kiến và dự án
và tạo ra các quan hệ hợp tác mới. Việt Nam đã tham gia một số hoạt động quốc tế và
khu vực nhằm xây dựng năng lực cho các bên liên quan để triển khai thực hiện Kế
hoạch hành động. Các hoạt động của Uỷ ban đã có những kết quả đáng khích lệ:
Mạng lưới các trường liên kết UNESCO tại Việt Nam phát triển mạnh; Trung tâm
học tập cộng đồng đã phát triển mạnh và rộng khắp đất nước, đưa giáo dục không
chính quy trở thành một bộ phận trong hệ thống giáo dục của Việt Nam và bổ trợ cho
“Giáo dục cho mọi người”; Phát triển mạng lưới các khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới
tại Việt Nam và gắn kết với GDPTBV.
Nhiều nội dung PTBV đã được đưa vào chương trình giảng dạy chính khoá hoặc
ngoại khóa ở tất cả các cấp học của Việt Nam. Các chính sách và chương trình hành
động quốc gia về kinh tế, xã hội, môi trường đã góp phần đưa các chủ đề như bình
đẳng giới, quyền trẻ em, HIV/AID, giáo dục môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học,
quản lý và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống tham nhũng, … vào các chương trình
giáo dục chính qui và phi chính qui cho tất cả các cấp và các đối tượng. Tại cấp quốc
gia, nhiều hoạt động tập trung vào việc xây dựng mạng lưới hợp tác nghiên cứu và
nâng cao năng lực triển khai các hoạt động GDPTBV. Tại cấp địa phương, nhiều
trường học và cộng đồng đã thực hiện những chương trình giáo dục đa dạng đem lại
kiến thức và kỹ năng thiết thực để giải quyết các vấn đề xã hội – môi trường tại cấp
cơ sở. Trong nửa đầu của Thập kỷ, giáo dục đã nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đáp