CHỨC NĂNG VĂN HỌC
I. Chức năng văn học là gì ?
Chức năng văn học: là vai trò vị trí của văn học trong đời sống xã hội, là tác dụng, giá
trị xã hội của văn học đối với đời sống tinh thần của con người. Văn học là hiện tượng
đa chức năng, các chức năng gắn bó hữu cơ không tách rời nhau. Sự gắn bó giữa các
chức năng làm cho văn học có sức tác động sâu xa, bền bỉ, có sức sống mãnh liệt, lâu
dài trong đời sống tinh thần của chúng ta.
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích sáng tác tác phẩm văn học, đến vấn
đề viết để làm gì.
II. Các chức năng của văn học
1. Chức năng nhận thức
1.1. Văn học cung cấp những kiến thức bách khoa về hiện thực đời sống:
Văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết, giúp con người khám phá thế giới
hiện thực. Khác với khoa học, văn học nhận thức hiện thực không theo kiểu phân môn
biệt loại mà phản ánh cuộc sống trong toàn bộ tính tổng hợp toàn vẹn của nó. Cho nên
văn học có khả năng cung cấp những kiến thức bách khoa về con người.
Có thể tìm thấy trong tác phẩm văn học những tri thức về thiên nhiên, vũ trụ. Có
một mức độ nào đấy thần thoại là nhận thức về vũ trụ, con người, thế giới. Những tác
phẩm hiện đại như Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov, Đất rừng phương Nam của
Đoàn Giỏi, Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài đã mang đến cho người đọc nhiều tri thức
bổ ích về phân loại thực vật và tập tính của rất nhiều giống loài động vật.
Văn học là cái kho chứa khổng lồ những tri thức về đời sống xã hội ( vì đời sống
xã hội là đối tượng nhận thức trung tâm ). Văn học cho ta biết được phong tục tập quán
của nhiều địa phương, nhiều dân tộc. Những tiểu thuyết lịch sử như Tam quốc diễn
nghĩa của La Quán Trung, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đưa ta về quá
khứ xa xăm của các dân tộc. Thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu
làm sống lại cuộc sống đau thương và hào hùng của dân tộc ta. Những tác phẩm thuộc
trào lưu hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 hướng trọng tâm vào vấn đề con người trước
hoàn cảnh sống đặc biệt là quá trình bần cùng hóa của một bộ phận nông dân. Văn học
chứa đựng những sự kiện lịch sử, lưu giữ lời ăn tiếng nói của người xưa, cung cấp tri
thức có giá trị về lịch sử kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa. Ăng ghen từng nói về bộ
hay số phận để ngộ ra, giác ngộ ra điều mà ta đã biết, đã quen nhưng giờ mới thấy thấm
thía. Những ai từng trải sẽ có dịp nghiền ngẫm bình tĩnh và khách quan hơn, còn ai chưa
từng sống qua thì nếm trải nó như chính cuộc đời. Cho nên tác phẩm nghệ thuật mỗi lần,
mỗi thế hệ khác nhau khi xem lại, đọc lại nhiều lần đều thấy thêm nhiều điều mới lạ. Tri
thức đó mang lại cho ta sự nhạy bén, giúp ta biết phân biệt đâu là thật là giả, thiện ác,
đẹp xấu. Đó là tri thức dạy khôn cho con người.
Văn học giúp ta nhận thức các giá trị tinh thần kết tinh trong thế giới đối tượng,
khơi gợi khả năng biến quá trình tự nhận thức thế giới khách quan thành quá trình tự
nhận thức về bản thân. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của chức năng nhận thức của
văn học. Văn học nhận thức đối tượng mà chủ yếu là nhận thức các quan hệ xã hội của
con người, phát hiện ra giá trị của thế giới đối tượng mà chủ yếu là các giá trị tinh thần
của con người được kết tinh trong đó. Qua đó giúp ta nhận ra giá trị ý nghĩa của cuộc
sống. Với hàng loạt câu hỏi từ ngàn đời đặt ra với con người ( Mình là ai? Mình là gì ?
Mình là cái gì? Mình sống để làm gì ? Tại sao mình phải sống trong đau khổ? Làm thế
nào để có cuộc sống sung sướng? Thế nào là đúng. Là sai ?
* Tóm lại: Chức năng nhận thức: là khả năng của văn học trong việc cung cấp tri thức
bách khoa về đời sống, mang lại sự hiểu biết, nhất là hiểu biết về các tính cách xã hội,
những bí ẩn trong tâm hồn, giúp dạy khôn cho con người, giúp con người mài sắc cảm
giác,biết phân biệt thật giả, biết cảm nhận tinh tế sự phong phú của thế giới cảm tính,
phát hiện cái chung, cái bản chất, cái mới lạ, sâu xa qua cái ngẫu nhiên cá biệt, cái quen
thuộc, cái bình thường. Nội dung quan trọng nhất trong chức năng nhận thức là giúp con
người tự nhận thức bản thân, sống cuộc sống có ý thức mãnh liệt, sâu sắc về giá trị và
năng lực vô tận của mình để phấn đấu, sáng tạo.
2. Chức năng thẩm mĩ
Chức năng thẩm mĩ của văn học là nó có nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát hiện
nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ cho con người.
2.1. Thỏa mãn nhu cầu thẫm mĩ, giải trí, khơi dậy những khoái cảm nghệ thuật:
Chức năng thẩm mĩ của văn học có nhiều cấp độ, nhiều bình diện. Ở cấp độ thứ
nhất, nội dung cơ bản của nó là thỏa mãn tối đa nhu cầu thẫm mĩ để gợi dậy khoái cảm
nghệ thuật.
tác phẩm đem lại cho ta khoái cảm về sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức
nghệ thuật. Và ở đây khoái cảm trước vẻ đẹp của nghệ thuật hoàn toàn không đồng nhất
với khoái cảm trước vẻ đẹp của đời sống. Ví dụ đọc T. Kiều ta không chỉ yêu mến Thúy
Kiều mà còn thích Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh vì những từ dùng đắt, những chi
tiết sống động mà tác giả đã điểm huyệt chúng lôi chúng ra ánh sáng.
Văn học thực hiện chức năng thẩm mĩ qua hình tượng nghệ thuật. Hình tượng
nghệ thuật đem lại cho tâm hồn sự hưởng thụ thẩm mĩ cao đẹp, gợi dậy những khoái
cảm mãnh liệt mà vô tư trong sáng, không gắn với những mục đích vụ lợi trực tiếp.
( Vì hình tượng văn học là hiện tượng tinh thần chứ không phải vật chất. Nên trước vẻ
đẹp đó ta chỉ có thể chiêm ngưỡng chứ không thể theo đuổi biến thành của riêng. Vì thế
hưởng thụ thẩm mĩ mà văn học đem lại cho ta không gắn với những mục đích vụ lợi,
trực tiếp, nhỏ nhen tầm thường. Mà đó là sự hưởng thụ cao đẹp của tâm hồn. Những
giây phút sống với tác phẩm văn học làm cho tâm hồn ta trong sáng: ta biết vui sướng,
biết đau khổ, biết yêu, biết ghét, biết quên mình vì vận mệnh tổ quốc )
Cái đẹp ở trong hiện thực đi vào nghệ thuật được nhân đôi, nhờ có nghệ thuật mà
một phong cảnh, một sự việc, một con người trở thành đẹp hai lần: một lần trong đời
sống và một lần trong tác phẩm.
2. Hình thành thị hiếu, lí tưởng thẩm mĩ, đánh thức bản chất nghệ sĩ và cảm hứng sáng
tạo của con người.
Thị hiếu là năng lực định giá thẩm mĩ ( năng lực nhận biết, đánh giá cái đẹp ). Nó
giúp con người có năng tiếp nhận và đánh giá những khách thể khác nhau: biết phân
biệt cái đẹp, cái xấu; cái thẩm mĩ với cái phi thẩm mĩ, nhận ra nét bi và hài trong các
đối tượng và hiện tượng. Có nhiều nhân tố góp phần hình thành thị hiếu thẩm mĩ như
giáo dục, thói quen, tính nết, kinh nghiệm sống trong đó văn học giữ một vai trò đặc biệt
quan trọng. Đọc tác phẩm văn học ta tiếp xúc với muôn vàn vẻ đẹp phong phú, đa dạng
của đời sống hiện thực và cảm nhận được cả vẻ đẹp của các phương thức, phương tiện
nghệ thuật. Văn học giúp ta làm giàu kho kinh nghiệm thẩm mĩ, mài sắc các giác quan
thẩm mĩ thường xuyên tiếp xúc với văn học nghệ thuật ta sẽ thành người sành sỏi, tinh
tế, nhạy bén có chuẩn mực đánh giá riêng của mình để phân biệt cái đẹp và không đẹp
trong văn học và trong cuộc sống quanh ta. Như vậy văn học có khả năng hình thành thị
Với văn học giáo dục được tác động ở sự lay động tình cảm con người, tác động
vào tình cảm là tác động vào khâu then chốt. Người đọc bị xúc động say mê, lôi cuốn
bởi những điều viết ra trong tác phẩm người đọc sẽ dễ nhận ra những lầm lạc hoặc làm
theo tiếng gọi của những điều tốt đẹp mà tác giả gợi ra. Vậy nghệ thuật cải tạo và giáo
dục con người bằng tình cảm và thông qua con đường tình cảm.
Trong quá trình tác động và cải biến con người văn học hiện ra không phải như
người thầy, người thuyết giáo mà như người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc.
Đối thoại giữa mình với mình, giữa phần thiện và phần ác, lương tri và tội lỗi, giữa lí trí
cao cả và dục vọng thấp hèn. Nó là tấm gương để con người tự soi mình tự đối chiếu để
phán xét người khác và bản thân. Như vậy nghẹ thuật đã chuyển quá trình giáo dục
thành tự giáo dục. Giáo dục bằng nghệ thuật không có tính chất cưỡng bức mà là một
hoạt động tự giác ( Không ai bắt đọc truyện, đọcn sách và cũng không ai băt làm theo
những điều trong sách, người đọc tự nhận ra những điều hay dở nó thấm dần vào người
đọc và đến lúc làm theo lúc nào không hay ). Nghệ thuật để thực hiện tốt chức năng này
luôn có khuynh hướng khuếch đại cái tốt, phóng đại cái xấu để cái tốt trở nên đẹp đẽ,
lộng lẫy, hấp dẫn lôi cuốn và cái xấu thật đáng ghê tởm và tránh xa. Nghệ thuật dễ tác
động, cải biến được con người vì nó hấp dẫn và vui tươi; giáo dục – giải trí –vui chơi đi
liền với nhau từ đóchức năng giáo dục thấm dần mỗi ngày một ít. Tác động con người
dần dần, nó gieo vào con người ý thức về tội ác và lỗ lầm. Ý thức ấy sẽ ngăn ngừa hành
động xấu, hoặc giúp họ đấu tranh chống cái ác, cái xấu.
Do những vấn đề trên mà nghệ thuật được sử dụng như một thứ vũ khí đấu tranh
giai cấp và tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Cả lực lượng tiến bộ và phản động đều
dùng văn học làm công cụ tuyên truyền, tập hợp quần chúng. Tác phẩm hay làm con
người trở nên cao thượng, vị tha; tác phẩm đồi bại, phản động làm người ta trở nên độc
ác và tha hóa. Vậy để văn học tác động tích cực vào quần chúng nhà văn cần ết sức
nâng cao chất lượng tư tưởng, của nghệ thuật. Mọi tác phẩm đơn thuần chỉ là thuyết lí
khô khan và vụng về, minh họa cho một chủ trương chính trị, một nguyên lí đạo đức nào
đó không những làm tăng khả năng giáo dục mà ngược lại làm giảm hiệu quả giáo dục,
hạn chế ý nghĩa xã hội của nó.
4. Chức năng giao tiếp
năng giao tiếp như trên nghệ thuật trở thành một phương tiện liên kết xã hội. Đặc biệt
nhờ nghệ thuật con người có thể giao lưu cả quá khứ - hiện tại – tương lai, mang tiếng
nói của dân tộc này đến dân tộc khác, thế hệ trước đến thế hệ sau; nó khắc phục khoảng
cách về không gian và thời gian đem lại sự giao tiếp nhiều chiều, đem con người trở nên
gần nhau hơn.