TIỂU LUẬN MÔN KINH DOANH CHỨNG KHOÁN - Pdf 25

I. BỐI CẢNH KINH TẾ
1.1. KINH TẾ VĨ MÔ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được cải thiện.
Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng
năm 2014 ước tính tăng 5,62% so
với cùng kỳ năm 2013, trong đó
quý I tăng 5,09%; quý II tăng
5,42%; quý III tăng 6,19%. Đây là
mức tăng cao so với mức tăng cùng
kỳ năm 2012 và 2013, cho thấy dấu
hiệu tích cực của nền kinh tế.
Trong mức tăng 5,62% của toàn
nền kinh tế, khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản tăng 3,00%, cao hơn mức 2,39% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp
0,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
6,42%, cao hơn mức 5,20% của 9 tháng năm 2013, đóng góp 2,46 điểm phần trăm;
khu vực dịch vụ tăng 5,99%, mức tăng của cùng kỳ năm 2013 là 6,25%, đóng góp 2,62
điểm phần trăm.
Như vậy, cả 3 quý đầu năm đều có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, trong đó
khu vực dịch vụ và công nghiệp và xây dựng là đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế. Những
dấu hiệu này cho thấy sự phục hồi tích cực. Theo chu kỳ kinh tế, thường quý IV GDP
sẽ tiếp tục tăng. Chúng tôi kỳ vọng vào sự phục hồi của năm nay, mặc dù còn chậm
nhưng sẽ tiếp tục là tiền đề cho những năm tiếp theo.
Lạm phát duy trì ở mức thấp, đảm bảo được mục tiêu cả năm:
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2014 tăng 0.4% so với tháng trước, mức tăng cao nhất
trong các tháng kể từ tháng 6/2014.
CPI tháng 9 tăng chủ yếu do nhóm giáo dục tăng cao ở mức 6.38%, tác động làm chỉ
số giá chung tăng 0.39%. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng chủ yếu do trong tháng có 43
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh học phí các loại theo lộ trình tăng
học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Thủ tướng
1

2
ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,0%, đóng góp 0,1 điểm phần
trăm; ngành khai thác tăng 0,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm mức tăng chung.
Tuy nhiên chúng tôi vẫn lo ngại về tình trạng tồn kho. Chỉ số này có xu hướng tăng
trong 3 tháng liên tiếp và chỉ giảm xuống vào tháng 9. Thực trạng của hàng tồn kho đã
làm cho các DN hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh và số lượng thành lập DN mới
cũng giảm sút. Riêng trong quý III/2014, số DN đăng ký thành lập mới là 15.877 DN
với số vốn đăng ký là 89,4 nghìn tỷ đồng, so với quý II/2014 giảm 16,3% về số DN và
giảm 32,7% về số vốn đăng ký; so với quý I/2014 tương ứng giảm 13,5% và giảm
8,7%; so với quý IV/2013 giảm 15,2% và giảm 23,8% và so với cùng kỳ năm trước
giảm 17,8% và tăng 1,9%.
Thêm vào đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cũng có xu hướng giảm
sút trong 3 tháng gần đây. Điều này cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế vẫn ở mức
độ hạn chế do cầu còn khá yếu.
Xuất khẩu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế thời gian gần đây.
3
Trong 9 tháng năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 109,6 tỷ
USD; tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực FDI đạt gần 73 tỷ
USD; tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước và đóng góp hơn 66,6% vào tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước. Kim ngạch nhập khẩu đạt 107,1 tỷ USD; tăng 11,1% so
với cùng kỳ 2013.
Trong khi đó, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 9 tháng năm 2014 đạt 11,18
tỷ USD; vốn giải ngân đạt 8,9 tỷ USD; tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy
có thể nhận thấy sự đóng góp của khối FDI trong tăng trưởng chung của toàn nền kinh
tế vẫn duy trì ở mức độ cao. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi mà khối DN trong
nước đang gặp khó khăn thì đóng góp của khối ngoại ngày càng rõ nét. Tốc độ tăng
trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp mà theo Thống đốc là do “DN và ngân hàng thiếu
niềm tin lẫn nhau”.
Trong hoạt động nhập khẩu, đáng chú ý là cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu trong 9 tháng,

góp phần đẩy nhanh xử lý nợ xấu.
Tỷ giá.
Sau khi NHNN chủ động điều chỉnh tăng 1% tỷ giá BQLNH vào ngày 19/6/2014, thị
trường ngoại tệ diễn biến ổn định. Mặt bằng tỷ giá mới được thiết lập nhưng thấp xa so
với mức trần tỷ giá theo quy định của NHNN. Đến cuối tháng 9 vừa qua, tỷ giá liên
ngân hàng thực tế chỉ tăng 0.5% so với cuối năm 2013, cho thấy tỷ giá trên thị trường
được điều tiết bởi cung cầu ngoại tệ thực tế.
Thanh khoản trên thị trường tốt, trung bình khối lượng giao dịch khoảng từ 900 triệu
USD đến 1 tỷ USD/ngày, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức và cá nhân đều
được các ngân hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Đặc biệt, NHNN vẫn tiếp tục mua được
ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước sau khi điều chỉnh tăng tỷ giá. Dự trữ
ngoại hối hiện nay cũng ở mức cao với 35 tỷ USD.
1.2. Thị trường chứng khoán (TTCK)
1.2.1 Các giai đoạn phát triển của TTCK
Có thể nói rằng, trong vòng một năm qua, TTCK Việt Nam đã có những bước phát
triển nhảy vọt và trở thành một hiện tượng của nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian
hơn 15 năm kể từ ngày thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh năm
1998, ngoại trừ thời gian mấy tháng giao dịch đầu tiên chứng kiến sự tăng trưởng khá
5
nhanh, nhưng ngay sau đó TTCK Việt Nam lại nhanh chóng quay trở về vạch xuất
phát ban đầu.
Một thời kỳ ảm đạm kéo dài suốt mấy năm cho đến tận 2005, chỉ số VN-Index chỉ
xoay quanh mức 200 điểm. TTCK đối với đa số người dân dường như không tồn tại
trong thời gian này.
TTCK Việt Nam chỉ thực sự khởi sắc bắt đầu từ năm 2006 khi thị trường có sự gia
nhập của nhiều công ty lớn hơn niêm yết trên sàn chứng khoán, trong đó có những
công ty có vốn lớn và làm ăn hiệu quả như Vinamilk. Với nhiều nỗ lực của Chính phủ
nhằm thúc đẩy sự phát triển của TTCK bắt đầu có hiệu lực, TTCK đã thu hút sự chú ý
của các công ty cổ phần và các nhà đầu tư trong nước. Số công ty niêm yết trong năm
2006 tăng vọt về số lượng, từ 41 công ty năm 2005 lên 193 công ty.

Năm 2014, triển vọng của TTCK Việt Nam được đánh giá là khả quan cùng với sự
phục hồi và ổn định của Kinh tế Vĩ mô. Dù rủi ro vẫn còn, nhưng các yếu tố hỗ trợ
TTCK đang mạnh hơn. So với các kênh đầu tư truyền thống tiền gửi, vàng, ngoại tệ và
bất động sản thì Chứng khoán đang rất hấp dẫn.
Trong quý 3, thị trường hồi phục tích cực sau nhịp điều chỉnh trong quý 2 do tác động
từ sự kiện biển Đông. Chỉ số VNINDEX tăng điểm mạnh mẽ trong 2 tháng đầu quý và
có thời điểm vượt đỉnh 633 của năm 2009 dưới sự dẫn dắt của nhóm ngành dầu khí.
Tuy nhiên sang tháng 9, dưới áp lực bán chốt lời của nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn nói
chung và cổ phiếu ngành dầu khí nói riêng, chỉ số này đã quay đầu giảm điểm. Tính
chung trong cả quý, VNINDEX tăng 3,6% kết thúc ở mức điểm 598 với thanh khoản
đạt 7,62 triệu cổ phiếu, tăng 37% so với quý trước. Trong khi đó, chỉ số HNXINDEX
có sự tăng trưởng tích cực hơn với cả 3 tháng tăng điểm do ít chịu ảnh hưởng từ áp lực
bán chốt lời trong tháng 9 từ các mã vốn hóa lớn trên sàn HOSE. Tính chung trong cả
quý, chỉ số này tăng 13,7% và kết thúc ở mức điểm 88,6 với thanh khoản đạt 3,96 triệu
cổ phiếu, tăng 12% so với quý 2.
Dòng tiền có sự chuyển dịch nhẹ sang nhóm cổ phiếu midcap, penny trong quý 3 thể
hiện qua tỷ trọng giao dịch ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn so với toàn thị trường có sự
sụt giảm so với quý 2. Mặc dù vậy, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn vẫn đóng vai trò chi
phối chính trong diễn biến của 2 chỉ số trong giai đoạn này với biên độ giao động
mạnh. Khi nhóm này tăng nóng tháng 7, tháng 8 hỗ trợ thị trường tăng điểm mạnh.
7
Ngược lại, khi nhóm này điều chỉnh trong tháng 9 đã khiến VNINDEX quay đầu giảm
điểm với mức giảm đáng kể.
Giá dầu thế giới giảm tiếp tục có những ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường trong tuần
qua (8 – 12/12/2014); trong đó, nhóm cổ phiếu Dầu khí chịu tác động mạnh nhất. Bên
cạnh xu hướng giá dầu giảm thì hoạt động Call margin ở nhóm cổ phiếu Dầu khí cũng
góp phần khiến các cổ phiếu trong nhóm lùi sâu và ảnh hưởng đến tâm lý giới đầu tư.
Điểm tích cực là dòng tiền đầu cơ đã hoạt động trở lại trong phiên cuối tuần và giúp
“sắc xanh” trở lại thị trường và lan tỏa.
Tuần giao dịch tới, nhiều khả năng việc giá dầu thế giới sụt giảm sẽ tiếp tục tác động,

VN nói chung và TTCK nói riêng. Việc VN phát hành thành công 1 tỉ USD trái phiếu
quốc tế với lãi suất thấp nhất từ trước đến nay, với hơn 430 nhà đầu tư quốc tế đăng ký
mua số lượng lớn hơn gấp 10 lần, càng khẳng định thêm điều này.
Tuy nhiên, với cái nhìn thận trọng hơn, chuyên gia Phan Dũng Khánh nhận định sẽ có
2 kịch bản xảy ra trên TTCK từ nay đến cuối năm. Đó là thị trường vẫn theo xu hướng
tăng với xác suất khoảng 60 - 65%, tương tự như diễn biến xảy ra vào cuối năm 2013.
Nhưng trong đó mức tăng cũng theo từng nhóm cổ phiếu (CP) chứ không có chuyện
tăng đồng loạt cả thị trường. Kịch bản thứ hai với xác suất thấp hơn, từ 35 - 40%, là thị
trường sẽ tăng đến hết tháng 11 và sau đó giảm dần đến Tết Nguyên đán 2015 và chỉ
phục hồi lại sau đó. Nguyên nhân là giá xăng dầu thế giới đang giảm mạnh và trên thế
giới các NĐT đang bán ra nhóm CP ngành dầu khí vì dự báo lợi nhuận sẽ giảm.
Tại thị trường VN, nhóm CP dầu khí được xem là dẫn đầu thị trường vì chiếm tỷ trọng
lớn và có tác động mạnh đến việc tăng giảm của chỉ số VN-Index như GAS, PVX,
PVS Với tác động từ thế giới thì nhóm CP dầu khí trên sàn khó tăng mạnh, dẫn đến
chỉ số VN-Index cũng không được hỗ trợ để tăng như kỳ vọng. Ngoài ra, động thái
bán ròng trong tháng 10 của các NĐT nước ngoài và hoạt động giao dịch yếu ớt trong
tháng 11 này khiến thị trường chưa có thêm dòng tiền hỗ trợ. Những năm trước khối
ngoại đều mua vào mạnh trong tháng 10 nên động thái bán ra trong năm nay khiến
nhiều NĐT trong nước ngạc nhiên. Vì vậy, xu hướng rót thêm tiền hay rút bớt ra của
khối ngoại cũng sẽ có tác động lớn đến dòng tiền tham gia chứng khoán và cả tâm lý
của các NĐT trong nước. Đây chính là yếu tố khó dự báo nhất trong thời gian tới.
Chọn nhóm ngành ưu tiên
9
Chứng khoán có cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là khi NĐT không lựa
chọn đúng CP sinh lời. Theo chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển, để giảm thiểu rủi ro
thì NĐT vẫn nên dành nhiều quan tâm cho những công ty có quy mô lớn, đang dẫn
đầu hoặc có triển vọng dẫn đầu của một ngành. Bởi những DN này vẫn luôn hoạt động
ổn định và CP có giá trị cao, đặc biệt đã xây dựng được thương hiệu trên thị trường
nên sẽ ít bị gặp phải những yếu tố bất thường.
Còn chuyên gia Phan Dũng Khánh dự báo, nhóm ngành bất động sản có thể thay thế

bánh kẹo và Công ty Ki Do chuyên về ngành kem, sữa chua
Lĩnh vực kinh doanh chính:
- Chế biến nông sản thực phẩm
- Sản xuất bánh kẹo
Ngoài ra còn sản xuất nước uống tinh khiết, sữa chua, kem và nước ép trái cây.
Sản phẩm chính của công ty:
Bánh trung thu; Bánh bông lan; Cracker; Cookies; Kẹo; Snack; Kẹo, kem và sữa chua.
Đặc điểm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm :
Các sản phẩm bánh kẹo có sản lượng tiêu thụ thay đổi lớn phụ thuộc theo thời gian
trong năm, theo các dịp lễ hội. Cụ thể như sau:
- Nhu cầu tiêu thụ bánh Cracker, bánh bông lan, Sanack tăng mạnh vào các dịp lễ Tết,
như Tết thiếu Nhi, Tết Nguyên Đáng, Tết Trung thu, các ngày lễ,… Ngoài thời gian
trên, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm này tuy không mạnh nhưng vẫn đóng góp đáng kể
vào cơ cấu doanh thu của KDC.
- Sản phẩm bánh Trung thu có nhu cầu tiêu thụ tăng đột biến trong dịp Tết Trung Thu,
kéo dài từ khoảng đầu tháng 7 đến đầu tháng 8 dương lịch. Ngoài thời gian này, nhu
cầu tiêu thụ của sản phẩm này hầu như rất thấp.
Thành quả và vị thế của KDC
11
Từ quy mô chỉ có 70 cán bộ công nhân viên khi mới thành lập, đến nay Kinh Đô đã có
tổng số nhân viên gần 8.000 người. Tổng vốn điều lệ là 1.599 tỷ đồng. Năm 2013 là
năm mang ý nghĩa rất đặc biệt - đánh dấu 20 năm ngày thành lập Tập đoàn. “Tăng
trưởng có lợi nhuận” với doanh thu đạt 4.561 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 619
tỷ đồng. Tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, 6 tháng đầu năm 2014, lợi nhuận sau thuế của
Kinh Đô tăng 22,1% so với cùng kỳ. Luỹ kế 6 tháng đầu năm, Kinh Đô đạt gần 1.800
tỷ đồng doanh thu thuần. Trong quý 3/2014, công ty đã hoàn thành sớm kế hoạch
trung thu cả năm 2014, kỳ vọng kết quả kinh doanh quý 4 sẽ có nhiều bứt phá.
Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông
qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm 300 nhà phân phối và 200.000
điểm bán lẻ với tốc độ tăng trưởng 20%-30%/năm. Thị phần bánh trung thu của riêng

lược của KDC là: (1) giảm bớt các hoạt động đầu tư tài chính để tập trung vào ngành
hàng kinh doanh chính; (2) chú trọng vào các nhóm sản phẩm đem lại doanh thu và lợi
nhuận tốt cho Công ty; (3) phát triển sản phẩm mới nhằm tận dụng tối đa ưu thế về
thương hiệu và hệ thống phân phối.
BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG DOANH THU VÀ CHI PHÍ
Kinh Đô có doanh thu tăng trưởng liên tục từ năm 2009 đến 2013, đặc biệt trong năm
2011 đến nay, doanh thu Kinh Đô tăng trưởng rất mạnh.
Doanh thu Công ty liên tục tăng trong các năm qua do sản lượng tiêu thụ tăng, trong
đó chủ yếu là dịp Tết Trung Thu và Tết Nguyên Đán. Dòng sản phẩm bánh trung thu,
bánh bông lan, kem và sữa chua, cracker là những dòng sản phẩm mang lại doanh thu
cao cho KDC.
Nhận xét: Trong 5 năm, từ 2009 đến 2013, doanh thu và chi phí đều tăng trưởng liên
tục, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của doanh thu luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của
chi phí.
2.2.3. Phân tích các thông số thị trường
2.2.3.1. Phân tích ROA
14
Dựa vào bảng số liệu ta thấy, ROA của KDC có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do
tổng tài sản của KDC tăng mạnh. Trong những năm gần đây, Kinh Đô thường xuyên
đầu tư mở rông tài sản cố định.
2.2.3.2. Phân tích ROE
Lợi nhuận sau thuế của Kinh Đô ở mức thấp và ngày càng giảm. Điều này cho
thấy việc liên tục tăng vốn chủ sở hữu qua các năm của KDC chưa đem lại hiệu quả.
2.2.3.3. Phân tích EPS
Xu hướng chung đối với chỉ số EPS của KDC tăng lên trong giai đoạn 2010 - Q3
2014.
Trừ năm 2011, còn lại EPS đều có mức tăng trường khá ổn đinh. Điều này phản ánh sự
cải tiến trong hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Giai đoạn 2011, EPS của KDC có sự sụt giảm khá lớn, nhưng công ty đã kịp thời điều
chỉnh lại xu hướng. Năm 2012, công ty có sự phục hồi trở lại với mức tăng đến 2.538

đi lên. Đường Fast Stochastic (%K) cắt đường Low Stochastic (%D) hướng từ dưới
lên cho tín hiệu mua nhưng chưa rõ ràng. Nhà đầu tư nên chờ đợi cho đường
Stochastic chạm đến mức 20 để chắc chắn.
16
RSI - RELATIVE STRENGTH INDEX (CHỈ SỐ SỨC MẠNH TƯƠNG ĐỐI )
Biểu đồ đường RSI của mã KSD từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2014, hầu như đường
RSI của KDC đều trên mức 50. Bước sang tháng 11, đường RSI đã xuống dưới mức
50. Tuy trong vài phiên gần đây, RSI đang có dấu hiệu hướng lên nhưng vẫn nằm dưới
mức 50 khá xa. Nhà đầu tư chưa nên mua KDC vào thời điểm này.
Các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự đáng chú ý xác định theo Fibonacci (dùng cho trung
và dài hạn):
- Ngưỡng kháng cự 0.00% : 64,65
17
- Ngưỡng hỗ trợ/kháng cự 61.8% : 56,31
- Ngưỡng hỗ trợ/kháng cự 100.0% : 51,15
- Ngưỡng hỗ trợ 127.2% : 47,48
- Ngưỡng hỗ trợ 161.8% : 42.81
2.3.3. Phân tích các chỉ báo chậm
Đường trung bình (Moving Averages)
Ta phân tích 3 đường trung bình MC 15 (màu đỏ), MC 45 (xanh dương) và đường
trung bình dài hạn MC 100 (xanh lá). Xét về lâu dài, đường trung bình dài hạn cho
thấy xu hướng về giá của KDC đang trên đà tăng từ đầu năm 2014 đến nay.
MACD - CHỈ SỐ BIẾN ĐỘNG CHÊNH LỆCH HỘI TỤ TRUNG BÌNH TRƯỢT
18
Đầu tháng 11/2014, đã có một tín hiệu bán rất rõ khi đường MACD cắt và nằm dưới
đường tín hiệu của MACD, KDC đã giảm điểm liên tiếp. Cho đến tận cuối tháng 11,
tuy chu kỳ giảm điểm đã kết thúc, nhưng vẫn chưa xuất hiện dấu hiện “Buy signal” trở
lại.
2.3.4. Chỉ báo biến động Bollinger Bands
Ngoài việc xác định quan hệ giữa các mức giá và độ bất ổn định, đường Bollinger

Những hoạt động chính tạo ra doanh thu và lợi nhuận của Công ty trong năm 2013 như
sau:
+ Chế biến, sản xuất và kinh doanh bánh, sữa đậu nành, sữa tươi, nước giải khát, sữa
hộp, sữa bột, bột dinh dưỡng và các sản phẩm từ sữa khác;
20
+ Chăn nuôi: chăn nuôi bò sữa, cung cấp giống vật nuôi và kỹ thuật nuôi; các hoạt
động trồng trọt;
+ Cho thuê bất động sản;
+ Cung cấp các dịch vụ phòng khám đa khoa; Trong đó, hoạt động chăn nuôi nhằm
mục đích chính là cung cấp sữa tươi nguyên liệu đầu vào cho sản xuất các sản phẩm từ
sữa của Công ty.
3.1.3. Vị thế của Vinamilk
Theo kết quả bình chọn, Vinamilk là 1 trong 100 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam
liên tục trong hơn 37 năm qua kể từ khi thành lập vào năm 1976. Trong năm 2014,
Vinamilk cũng đã vinh dự khi được tạp chí Forbes Việt Nam vinh danh là một trong
50 công ty niêm yết tốt nhất Việt Nam.
Thị phần hiện tại của công ty là hơn 50% trong ngành sữa Việt Nam. Tốc độ tăng
trưởng tổng doanh số, lợi nhuận trước thuế và vốn chủ sở hữu bình quân trong 3 năm
gần nhất lần lượt là 31%, 31% và 28%. Vinamilk là thương hiệu thực phẩm số 1 của
Việt Nam chiếm thị phần hàng đầu, đạt tốc độ tăng trưởng trên 30%/năm, được người
tiêu dùng tín nhiệm và liên tiếp được bình chọn là sản phẩm đứng đầu tốp 10 hàng
Việt Nam chất lượng cao 8 năm liền 1997 - 2004. Cho đến nay, Vinamilk đứng ở vị trí
thứ 53 trong số các nhà sản xuất sữa lớn nhất thế giới, các sản phẩm của công ty hiện
có mặt ở 23 quốc gia. Tại Việt Nam, Vinamilk được biết đến như công ty sữa hàng
đầu. Công ty hiện đang nắm giữ phần lớn thị phần ở các dòng sản phẩm như sữa chua
(90%), sữa đặc (80%), sữa nước (50%). Trong năm 2013, Vinamilk đã phá vỡ kỷ lục
với 4 tỷ sản phẩm sữa được tiêu thụ, tương đương với 27,300 tỷ đồng. Giám đốc điều
hành của Vinamilk đưa ra kế hoạch đạt doanh thu tương đương 3 tỷ đô la Mỹ, đồng
thời hướng tới vị trí top 50 nhà sản xuất sữa lớn nhất thế giới vào năm 2017.
Công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh vào năm

Biểu đồ thể hiện cơ cấu chi phí VNM và HNM theo yếu tố sản xuất kinh doanh
năm 2013 (Nguồn: hsx.vn)
Vinamilk là DN sản xuất nên giá vốn hàng bán (chủ yếu là nguyên vật liệu)
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của Vinamilk. Do đó, biến động giá cả nguyên
vật liệu bên ngoài sẽ tác động rất lớn đến chi phí của DN. Tiếp theo sau là chi phí bán
hàng và cuối cùng là chi phí quản lý DN. Cơ cấu chi phí của Vinamilk và Hanoimilk
phù hợp với cơ cấu chi phí của ngành sản suất kinh doanh.
3.2.2. Phân tích các chỉ số sinh lời (ROS, ROA, ROE)
Dùng phương pháp Dupont và so sánh với DN cùng ngành là Công ty Cổ phần
Sữa Hà Nội (HNM)
Bảng các chỉ số sinh lời của VNM qua các năm
(Nguồn http://finance.vietstock.vn/VNM/tai-chinh.htm)
23
Chỉ số sinh lời
(VNM)
2009 2010 2011 2012 2013
ROS (%) 22.39% 22.95% 19.50% 21.91% 20.8%
Vòng quay tài
sản (lần)
1.47 1.64 1.64 1.51 1.46%
ROA (%) 32.89% 37.55% 32.01% 32.99% 30.4%
ROE (%) 36.8% 50.15% 41.27% 41.61% 36.89%
Biểu đồ thể hiện các chỉ số sinh lời của VNM qua các năm
Bảng các chỉ số sinh lời của HNM qua các năm
Chỉ số sinh
lời (HNM)
2009 2010 2011 2012 2013
ROS (%) -10.78% -7.04% 0.58% 0.54% 1.27%
Vòng quay
tài sản (lần)

âm, đến năm 2011 trở về sau thì các chỉ số này mới thoát được mức âm nhưng độ lớn
vẫn còn rất thấp. Trong khoảng thời gian gần đây thì đa số các DN cùng ngành đều có
các chỉ tiêu này giảm qua các năm. Nguyên nhân là do nền kinh tế thị trường đang gặp
khó khăn, trì trệ, lượng cung cầu giảm sút.
3.2.3. Phân tích chỉ số định giá (EPS, P/E)
Chỉ tiêu tỉ suất sinh lời của vốn cổ phần (EPS)
Năm 2009 2010 2011 2012
2013
EPS (đồng)
10,423 10,254 11,518 10,471
8,411
Đây là chỉ tiêu quan trọng và các nhà đầu tư thường quan tâm đến, là phần lợi nhuận
mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status