NGHIÊN CỨTIỂU LUẬN MÔN NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ THỐNG KÊ TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG SỮA CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG - Pdf 25

Lời mở đầu
Thống kê là một ngành khoa học có vai trò quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực
kinh tế xã hội. Sau quá trình học tập bộ môn Nguyên lý thống kê dưới sự hướng dẫn của
Tiến sỹ Nguyễn Thị Tuyết Nhung, chúng tôi đã có những hiểu biết căn bản về thống kê
học, biết được mục đích, vai trò và ý nghĩa cũng như ứng dụng của thống kê trong đời
sống thực tiễn. Nhằm mục đích vận dụng các phương pháp thống kê đã học để nghiên
cứu một vấn đề cụ thể trong thực tế, nhóm chúng tôi đã tiến hành làm bài tập nhóm môn
Nguyên lý thống kê. Bài tập này mang ý nghĩa thực hành cao, đã giúp chúng tôi hiểu sâu
hơn về những nội dung mà mình đã được học khi áp dụng vào thực tế, đồng thời đây
cũng là cơ hội để chúng tôi rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm và thực hành các kĩ năng sử
dụng các phần mềm máy tính cũng như kĩ năng viết báo cáo, phân tích số liệu,… Với tinh
thần trên, nhóm chúng tôi đã thảo luận và cân nhắc các đề tài nghiên cứu và đi đến thống
nhất lựa chọn một đề tài khá gần gũi với bản thân, khá khả quan, và hữu ích đó là :
“NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ TÌNH HÌNH TIÊU DÙNG SỮA CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG”.
Thị trường sữa tại Việt Nam vô cùng sôi động với sự phát triển không ngừng của
các ông lớn về mặt hàng này như Vinamilk, Nutifood, Hanoimilk, cùng với đó là sự xuất
hiện của những thương hiệu sữa mới nhưng đã khá thành công như THtrue Milk. Bên
cạnh các hãng sữa trong nước thì Việt Nam cũng là một thị trường vô cùng triển vọng cho
các hãng sữa nước ngoài như Dutch Lady, Abort Hoa Kỳ, Nestle,… Các hãng sữa đang
không ngừng đổi mới cải tiến và cho ra mắt ngày càng nhiều sản phẩm từ sữa vừa đa
dạng về mục đích tiêu dùng, phong phú về hương vị với hình thức bắt mắt phù hợp với
nhiều đối tượng người tiêu dùng. Nhu cầu tiêu thụ sữa đang lớn lên trong mọi bộ phận
người tiêu dùng trong đó có sinh viên. Để có được những kết luận tổng quát xác đáng về
tình hình tiêu thụ sữa đối với đối tượng tiêu dùng là sinh viên, chúng tôi đã quyết định
lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Tuy nhóm chúng tôi đã nỗ lực với mong muốn hoàn thành bài tập với kết quả tốt
nhất, nhưng do đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn, cùng với mẫu điều tra
chưa lớn, và đây cũng là lần đầu chúng tôi thực hiện một bài nghiên cứu về thống kê, nên
chắc chắn còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý từ cô giáo và các
bạn để bài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn. Nhận xét của cô giáo và các bạn sẽ là

có thể thu thập được thông tin với độ tin cậy cao.
2.Phạm vi điều tra.
- Đại học Ngoại Thương.
Để cho kết quả nghiên cứu được chính xác, không quá rộng và vượt quá tầm kiểm
soát nên chúng tôi đã chọn không gian nghiên cứu là trong phạm vi trường đại học Ngoại
thương. Mặc dù phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tuy hơi hẹp nhưng với sự ủng hộ của
các bạn sinh viên khi tham gia bản điều tra với thái độ nhiệt tình nên chúng tôi hi vọng
bài nghiên cứu của mình sẽ phản ánh một cách khách quan và trung thực nhất về tình
hình sử dụng sữa của sinh viên trường đại học Ngoại Thương.
3. Thời gian điều tra:
Vì điều kiện thời gian không thể kéo dài, chúng tôi phải thu nhập số liệu và tổng hợp
lại các số liệu để đưa ra nhận xét nên chúng tôi đã tiến hành điều tra từ ngày: 25/04/2012
đến ngày 04/05/2012.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Dựa theo mục đích nghiên cứu , đối tượng cũng như không gian và thời gian nghiên
cứu, nhóm chúng tôi đã lập một bảng hỏi gồm 14 câu hỏi khác nhau về phương diện,
cách thức, mục đích với các tiêu chí nhất định.
Nội dung nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào 3 lĩnh vực sau :
• Thứ nhất, đó là thực trang chung về tình hình sử dụng sữa của sinh viên : mức độ
thường xuyên sử dụng sữa, các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn sữa.
• Thứ 2, đó là nhu cầu sử dụng của sinh viên: loại sữa thường được lựa chọn, giá, số
tiền dành cho tiêu dùng sữa, đánh giá của sinh viên về chất lượng, giá cả
• Thứ 3, Mục đích sử dụng sữa của sinh viên.
Cuối cùng thông qua bài điều tra và tổng hợp thông tin chúng tôi đưa ra những thông
tin khách quan về tình hình thực tế đồng thời dự doán xu hướng phát triển của vấn đề.
Sau đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao, phát triển thị trường sữa, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của sinh viên Đại học Ngoại Thương.
IV. HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ SỬ DỤNG.
Hình thức : Thống kê chọn mẫu.
Phương pháp điều tra là : Phỏng vấn gián tiếp thông qua bảng câu hỏi.

Sở thích
Chất lượng
Giá cả
Quảng cáo
Ý kiến bạn bè
6. Sản phẩm sữa bạn hay sử dụng:
A. Vinamilk
B. TH true milk
C. Dutch Lady
D. Nestle
E. Khác
Nếu chọn “ Khác”, vui lòng cho biết cụ thể: ………………………
7. Mục đích uống sữa của bạn là gì?
A. Giải khát
B. Nâng cao sức khỏe
C. Tăng chiều cao
D. Giảm béo
E. Tăng cân
F. Khác
Nếu chọn “ Khác” , vui lòng cho biết cụ thể: ………………….
8. Loại sữa bạn hay dùng:
A. Sữa bột
B. Sữa tươi
C. Sữa đặc
9. Theo bạn giá sữa bạn mua là:
A. Quá đắt
B. Hơi đắt
C. Bình thường
D. Rẻ
10. Tiền sinh hoạt hàng tháng của bạn là:

• 7 bảng câu hỏi không hợp lệ. Do người được hỏi quên điền các thông tin được yêu
cầu như họ tên, khoá học, hoặc trả lời không đúng hoặc thiếu nội dung câu hỏi yêu
cầu.
• 8 bảng câu hỏi sau khi phát đi không thu được trở lại.
Nên kết quả đánh giá của chúng tôi sẽ đánh giá trên 60 kết quả hợp lệ.
PHẦN B. TỔNG KẾT VỀ NGHIÊN CỨU.
1. Mức độ thường xuyên của việc tiêu thụ sữa của sinh viên đại học Ngoại Thương.
Lựa chọn Số lượng sv Tỉ lệ
Thường xuyên 20 33.5%
Bình thường 31 51.6%
Ít khi 8 13.3%
Không 1 1.6%
Mức độ thường xuyên của việc tiêu thụ sữa.
Nhận xét:
Như vậy, hầu hết mọi sinh viên ngoại thương đều dùng sữa ở các mức độ khác nhau
(chiếm 98.4% số sinh viên điều tra) và khoảng 1 nửa trong số đó tiêu dùng ở mức bình
thường (51.6%). Số sinh viên tiêu dùng sữa thường xuyên chiếm tới 1/3 số sinh viên điều
tra và chỉ có khoảng 1/7 số sinh viên dùng sữa ở mức độ ít. Từ đó cho thấy mức độ tiêu
thụ sữa của sinh viên ngoại thương khá thường xuyên và là một thói quen phổ biến ở hầu
hết các sinh viên
2. Lượng sữa tiêu thụ mỗi ngày.
Dung tích Số lượng sv Tỉ lệ
<200ml 20 33.33%
200-300ml 25 41.67%
300-500ml 10 16.67%
>500ml 5 8.33%
Lượng sữa tiêu thụ mỗi ngày.
Bình quân lượng tiêu dùng sữa của sinh viên ngoại thương là:
X
=

bột hay sữa đặc không phải là lựa chọn thường xuyên trong thói quen uống sữa của sinh
viên trường ta.
5. Tỷ lệ sinh viên tiêu thụ cố định một loại sữa:
Số lượng Tỷ lệ
Cố định 26 44,07%
Không cố định 33 55,93%
MỨC ĐỘ SỬ DỤNG CỐ ĐỊNH MỘT LOẠI SỮA
Nhận xét:
Phần lớn các bạn sinh viên không sử dụng cố định một loại sữa. Tuy nhiên chênh lệch
giữa tỷ lệ sinh viên dùng cố định và không cố định một loại sữa là không quá lớn. Cụ thể
là: gần 56% các bạn được hỏi không cố định sản phẩm sữa mình sử dụng, trong khi số
còn lại (gần 44%) chỉ dùng một loại sữa nhất định.
6. Các tiêu chí được quan tâm nhất:
Tiêu chí Số lượng Tỷ lệ
Chất lượng 57 31.84%
Giá cả 40 22,35%
Dung tích 8 4,47%
Hãng sản xuất 35 19,55%
Hình thức, mẫu mã 5 2,79%
Hương vị 34 18,99%
Tổng 179 100%
Nhận xét :
Đa số sinh viên quan tâm nhiều nhất đến chất lượng sản phẩm (gần 32%), trong
khi dung tích chỉ chiếm gần 3%, là yếu tố ít được quan tâm nhất. Giá cả cũng đóng vai
trò khá quan trọng trong việc thu hút sự chú ý của các bạn (22,35%). Tiếp theo đó là yếu
tố nhà sản xuất và hương vị của sản phẩm sữa.
7. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới việc tiêu dùng sữa của sinh viên:
Thu
nhập
Sở thích Chất lượng Giá cả Quảng cáo

- Cuối cùng, mục đích giảm béo hay một số mục đích khác như sữa giúp làm đẹp da hay
vì hương vị sữa thơm ngon,… không được quan tâm lắm đối với sinh viên, chỉ có 5% số
sinh viên lựa chọn sữa vì những mục đích này.
9. Tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên.
Tiền sinh hoạt hàng tháng (xi)
( Triệu đồng)
Số sinh viên (fi) Tỉ lệ
(%)
Mật độ phân
phối Di(=fi/hi)
<0.5 1 2 2
0,5-1 11 18 22
1-2 26 43 26
>2 22 37 22
Biểu đồ thể hiện tiền sinh hoạt hàng tháng
Nhận xét:
- Đại đa số sinh viên được hỏi có mức tiền sinh hoạt hàng tháng vào khoảng 1 – 2 triệu
đồng (chiếm tới 43% tổng số sinh viên được điều tra).
- Số sinh viên có mức tiền sinh hoạt vào khoảng >2 triệu/ tháng đứng vị trí thứ hai, chiếm
tỉ trọng 37% và có 18% số sinh viên có mức tiền sinh hoạt hàng tháng từ 1 - 2 triệu.
- Còn lại số sinh viên có mức tiền sinh hoạt <0.5 triệu đồng/tháng là rất ít, chỉ có 1 người
(chiếm gần 2%) trong tổng số 60 sinh viên được điều tra.
Để phân tích chính xác hơn tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên Ngoại
Thương, nhóm chúng tôi đã tính toán được một số tham số đại biểu dưới đây:
Tiền sinh hoạt hàng tháng trung bình:
7083.1=x
Mức độ phổ biến: Mode:
Vì khoảng cách tổ không bằng nhau nên tổ nào có mật độ phân phối lớn nhất là tổ chứa
Mode: Tổ 3 (1-2)
M

e
M
M
i
f
S
f
1
2



=1.6923 (Triệu đồng)
Vì Mode<Trung vị<Trung bình nên tiền sinh hoạt của sinh viên hàng tháng phân bố lệch
phải.
Độ lệch tiêu chuẩn:
σ
x
=
2
1
1
2
)(x
f
fx
n
i
i
n

mức tiền sinh hoạt hàng tháng nhiều hơn 1.6923 triệu đồng.
Số sinh viên còn lại có mức tiền sinh hoạt hàng tháng ít hơn
1,6923 triệu đồng.
M
0
= 1.5 Mức tiền sinh hoạt hàng tháng của nhiều sinh viên nhất
trong 60 sinh viên Ngoại Thương đã điều tra là 1,5 triệu
đồng.
Nhận xét::
Như vậy, mức tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên Ngoại Thương nói chung là
không cao, trung bình là 1,7083 triệu đồng/tháng và tập trung nhiều nhất ở mức 1,5 triệu
đồng/tháng. Bên cạnh đó, độ lệch chuẩn trong mức tiền sinh hoạt lại khá lớn (0,6727),
tức là tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên Ngoại Thương có sự chênh lệch lớn.
10. Chi tiêu dành cho việc uống sữa trung bình 1 tháng của sinh viên Ngoại Thương:
Chi tiêu dành cho việc uống sữa
(nghìn đồng)
(yi)
Số sinh viên
(fi)
Tỉ lệ
(%)
Mật độ phân phối
(Di=fi/hi)
<50 7 12 0.14
50-100 9 15 0.18
100-200 29 48 0.29
>200 15 25 0.15
Nhận xét:
- Phần đa số sinh viên được điều tra dành khoản chi tiêu cho việc uống sữa trong một
tháng từ 100-200 nghìn đồng (chiếm 48%).

DD
h

= 144 (Nghìn đồng)
Trung vị : Vì tổ thứ 3 chứa phần tử thứ 30 và 31 nên nó là tổ chứa trung vị
M
e
= Y
Memin
+ h
Me
×
e
e
M
M
i
f
S
f
1
2



=148.276 (Nghìn đồng)
Vì Mode<Trung vị<Trung bình nên khoản tiền dành cho việc uống sữa của sinh viên
hàng tháng phân bố lệch Phải.
Độ lệch tiêu chuẩn:
σ

bình hàng tháng của sinh viên Ngoại Thương là 71.874
nghìn đồng/tháng.
Có thể thấy rằng, hầu hết sinh viên Ngoại Thương có mức chi tiêu cho việc uống
sữa trung bình là 149,167 nghìn đồng/tháng, số sinh viên có mức chi tiêu cho việc uống
sữa là 144 nghìn đồng/tháng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Độ lệch chuẩn khá cao (71.874
nghìn đồng/tháng) chứng tỏ khoản chi tiêu cho việc uống sữa của các sinh viên Ngoại
Thương khá chênh lệch nhau.
4.Mối quan hệ giữa tổng tiền sinh hoạt và chi tiêu cho việc uống sữa trong một
tháng của sinh viên Ngoại Thương:
Vấn đề chi tiêu là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên. Làm thế
nào để cân bằng mức chi tiêu hàng tháng sao cho phù hợp chỉ với một khoản tiền sinh
hoạt nhất định cũng khá khó khăn đối với mỗi người. Chi tiêu cho việc uống sữa cũng là
một phần nằm trong khoản tiền sinh hoạt hàng tháng của hầu hết sinh viên.
Chính vì thế, sau đây, nhóm chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp hồi quy và tương
quan để xem xét mối quan hệ này:
Tiền sinh hoạt hàng tháng (Triệu đồng) <0.5 0.5-1 1-2 >2
Chi tiêu cho việc uống sữa hàng tháng
(Triệu đồng)
<0.05 0.05-0.1 0.1-0.2 >0.2
 Từ đó, ta có bảng sau ( sử dụng trị số giữa)
Tiền sinh hoạt hàng tháng (Triệu đồng)
(xi)
0.25 0.75 1.5 2.5
Chi tiêu cho việc uống sữa hàng tháng
(Triệu đồng)
(y
x
)
0.025 0.075 0.15 0.25
Xây dựng phương trình hồi quy: y

này có thể khác rất nhiều do còn có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho việc sử
dụng sữa, như giá cả sữa trên thị trường, tình hình sức khỏe không được tốt cần sử dụng
nhiều sữa hơn,….
Hệ số tương quan:
r= b. σ
x/
σ
y
=0.1 x 0.8478/0.08478=1
Có hệ số tương quan r = 1  Giữa x và y,hay giữa tiền sinh hoạt hàng và chi tiêu
cho việc uống sữa hàng tháng có mối liên hệ hàm số với nhau.
11. Đánh giá về giá sữa:
Số lựa chọn Tỷ lệ
Quá đắt 6 10,17 %
Hơi đắt 20 33,9 %
Bình thường 31 52,54 %
Rẻ 2 3,39 %

Nhận xét:
Qua biểu đồ ta thấy một lượng lớn sinh viên cho rằng mức giá sữa hiện tại là bình
thường, tức là có thể chấp nhận được. Tuy nhiên cũng có một lượng đáng kể sinh viên
Ngoại thương cho rằng giá sữa đắt, chiếm tới 44,07% (trong đó 33,9% cho rằng hơi đắt
và 10,17% cho rằng quá đắt). Trong khi đó, chỉ có 3,39% cho rằng giá sữa rẻ.
12. Mức độ hài lòng về loại sữa bạn đang sử dụng: (x là mức độ hài lòng)
Mức điểm Số lượng Tỷ lệ
<5 0 0%
5-7 10 16,95%
7-9 34 57,63%
9-10 15 25,42%
59 100%

thấy nhu cầu về sữa của các bạn sinh viên khá cao. Có đến 98,4% số sinh viên được hỏi
có tiêu dùng các sản phẩm sữa. Trong đó, có tới hơn một nửa số sinh viên tiêu thụ sữa ở
mức độ bình thường và hơn gần 35% sinh viên tiêu dùng mặt hàng này thường xuyên.
Không chỉ tiêu dùng sữa như một thói quen mà lượng sữa tiêu dùng một ngày của sinh
viên cũng kha khá, ở mức gần 1,5 hộp sữa (180ml/hộp) mỗi ngày. Như vậy, kết quả về
nhu cầu sữa của sinh viên đã phần nào bác bỏ ý kiến rằng sinh viên không phải là lứa tuổi
có nhu cầu cao về các sản phẩm sữa như các đối tượng khách hàng đặc thù khác như trẻ
nhỏ, trẻ trong độ tuổi phát triển, bà bầu, người già… Sinh viên đã tỏ ra là một mảng
khách hàng khá tiềm năng mà các công ty sữa có thể khai thác.
Dù chỉ điều tra trên phạm vi một trường đại học nhưng cũng cho thấy hãng sữa nào đang
chiếm phần lớn. Đó là ông lớn trong ngành sữa Vinamilk. Vinamilk ngày càng khẳng
định được vị trí của mình trên thị trường sữa tại Việt Nam, với thị phần áp đảo hơn 54,5%
phần trăm. Một điều khá bất ngờ là hãng sữa đứng sau Vinamilk lại là THtrue Milk, một
hãng sữa mới ra mắt năm 2010 nhưng đã thu được những tín hiệu tích cực từ người tiêu
dùng với thị phần 21,2% bỏ khá xa các đối thủ lâu đời khác như Dutch Lady (13,6%),
Nestle (6,1%).
Vậy loại sản phẩm từ sữa nào thường là sự ưu tiên lựa chọn của các bạn sinh viên?
Câu trả lời là sữa tươi với 83,34% lựa chọn. Kết quả này phần nào chúng ta có thể dự
đoán được, do tính chất của loại sữa này là tiện lợi dễ sử dụng ở mọi nơi trong nhiều
hoàn cảnh nên khá phù hợp với lứa tuổi sinh viên rất năng động và hay di chuyển. Thêm
nữa, sinh viên Ngoại Thương có mục đích uống sữa khá đa dạng, nhưng phần lớn là vì
mục tiêu nâng cao sức khoẻ, và tiếp đến là tăng chiều cao. Có vẻ như các bạn sinh viên là
tầng lớp tri thức rất nhanh nhạy trong việc update các thông tin khoa học rằng chiều cao
của chúng ta sẽ còn phát triển cho tới 25 tuổi, và ngoài lợi ích tăng chiều cao thì Canxi và
các vi chất khác có trong sữa cũng là những vi chất cần thiết cho cơ thể, giúp xương chắc
khoẻ và nâng cao sức đề kháng. Như vậy sữa tươi sẽ là dòng sản phẩm mà các công ty
sữa nên phát triển khi hướng tới chinh phục bộ phận khách hàng này, hơn là sữa đặc, hay
sữa bột,… và các công ty cũng nên vạch ra sản phẩm chiến lược cho nhóm khách hàng
này là dòng sản phẩm tăng chiều cao và nâng cao sức khoẻ hơn là sữa giảm cân, hay giải
khát như các sản phẩm sữa chú trọng vào hương vị.

hàng tháng và thu nhập hàng tháng của sinh viên. Kết quả cho thấy khi số tiền sinh hoạt
hàng tháng tăng thêm 1 triệu đồng thì chi tiêu trung bình cho việc uống sữa có xu hướng
tăng lên 100 nghìn đồng. Đây là con số trên lý thuyết dựa trên cơ sở số liệu mà nhóm thu
thập được. Trên thực tế, chi tiêu cho việc uống sữa còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
khác ngoài thu nhập như lạm phát, giá cả, tình trạng sức khoẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status