tiểu luận môn tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính mỹ giai đoạn 2007-2009 - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
“KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ GIAI ĐOẠN 2007-2009”
Giảng viên hướng dẫn: TS. Mai Thu Hiền
Nhóm: 6
Học viên: Phạm Thị Mai Anh
Đỗ Mạnh Cường
Phạm Thị Thu Hoài
Lương Thị Xuân Hồng
Lương Thị Hồng Loan
Nguyễn Hồng Anh
Lớp: 19A TCNH
1
LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính- kinh tế Mỹ dù đã đi qua tuy nhiên hậu quả mà nó để lại
cho nền kinh tế nhiều nước là hết sức nặng nề, thậm chí đến lúc này nhiều nước vẫn đang gồng
mình vật lộn với những khó khăn mà nó để lại. Đây là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực,
bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp dẫn
đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2010.
Khủng hoảng Mỹ xảy ra với sự bất ngờ lớn của thế giới. Không ai có thể ngờ rằng một
tượng đài, một đầu tàu Thế giới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy và kéo theo nó là bao
nhiêu khó khăn mà cả Thế giới phải gánh chịu.
Vậy nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là gì? Diễn biến của nó ra sao? Hậu quả gây
ra như thế nào? Chính phủ Mỹ đã có biện pháp gì và Việt Nam có tránh được cơn bão khủng
hoảng đó hay không? Vâng, đó cũng chính là nội dung mà nhóm chúng tôi đã tổ chức thảo
luận để tìm ra lời giải. Từ đó có một cách nhìn tổng quát về cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ
2007-2009.
Tiểu luận gồm 5 phần:
Chương I: NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG
Chương II: DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

3
Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo
bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một
phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan
đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín
dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo
hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự
ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết
cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm cả rủi ro
đạo đức và lựa chọn trái ý. Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng
hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này.
Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường
tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm
vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra
toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và
mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm
trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.
Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và
chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo. Rủi ro mang tính hệ thống đã
làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức
phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của
mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ. Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8
năm 2007 khi đến lượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài
chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers
sụp đổ.
4
3, Bong bong thị trường nhà ở
Diễn biến thay đổi của lãi suất chính sách ở Hoa Kỳ (đường màu xanh).
Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng thị trường nhà ở.
Khi bong bóng dot.com bị bể, chính phủ và các kinh tế gia Hoa Kỳ bày ra chiến dịch “mỗi

khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra.
Tóm lại, sự cho vay dễ dãi của các ngân hàng tín dụng tại Hoa Kỳ đã đưa tới sự sụp đổ
thị trường bất động sản, kéo theo sự lỗ lã của các ngân hàng, làm cho các ngành nghề khác bị
đóng cửa, thợ thuyền thất nghiệp. Tiền đầu tư, hưu trí của dân chúng bị bốc thành hơi.
6
CHƯƠNG II: DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
1, Toàn cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ (2007-2009):
Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007 và năm 2008 đột nhiên lâm vào một trong
những cuộc khủng hoảng chưa từng có. Hàng trăm tỷ USD đã tiêu tan. Sự lây lan vẫn chưa
chấm dứt, hậu quả vẫn chưa lường hết.
Những người phản đối kế hoạch giải cứu tại Phố Wall. (Ảnh: Foxbusiness)
* Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không
bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi
đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới
chuẩn ở Mỹ
* Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu Âu
chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ. Trong
khi đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ.
* Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation
phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá
mạnh như Countrywide Financial Corporation. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này
đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng
7
thêm khó khăn. Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ
chính thức nổ ra
* Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây để đòi
rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấp Northern Rock - ngân hàng
lớn thứ 5 tại Anh.
* Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi nhuận
Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám

* Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng không
nổi. 16-17/3/2008, công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ
phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi
khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và
buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp
của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế
sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán
được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp.
Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người
gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
9
* 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số
tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn
nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
* Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu
đời nhất của Mỹ, bị phá sản. Tiếp sau Lehman là một số công ty khác
* 7/9: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn
chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình.
Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
Các nhân viên của Lehman Brothers. (Ảnh: foxbusiness)
* 14/9: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cổ phần sau khi từ
chối đề nghị mua lại của Lehman Brother
* 15/9: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ
khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ
phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American
International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những
khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.

thế chấp. (Ảnh: Foxbusiness)
* 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng
ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức
giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
* 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một số
điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và
cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ
quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD
12
*Tháng 10/2008, khủng hoảng tín dụng đã lan rộng ra toàn nước Mỹ. Khi Iceland lâm vào phá
sản, chính phủ các nước trên thế giới cũng tới tấp thông báo kế hoạch cứu nguy nền kinh tế.
Trong quý 4 năm 2008 GDP của Mỹ đã giảm 3.8% theo báo cáo đầu tiên ngày 30 tháng
giêng năm 2009 rồi điều chỉnh lại là 5.4% chứng tỏ suy thoái đang gia tăng.
Cũng trong năm này, nhập siêu 813 tỷ 800 triệu đô-la nghĩa là xuất cảng được 1377 tỷ nhưng
nhập cảng 2190 tỷ đô-la.
Chỉ số kỹ nghệ trung bình của Mỹ khoảng 14164 vào 9/10/2007 đến 27/2/2009 chỉ còn
7067, mất gần 50% chứng tỏ nước Mỹ đã rơi vào đại khủng hoảng kinh tế.
Tính cả năm 2009, kinh tế Mỹ tăng trưởng âm 2,4%, mức tăng trưởng tính theo năm thấp
nhất từ năm 1946
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH MỸ
1. Đối với Hoa Kì
Cuộc khủng hoảng đã đưa nước Mỹ bước vào thời kì tồi tệ nhất trong lịch sử từ sau cuộc đại
suy thoái thập niên 1930.
13
Hàng loạt các ngân hàng hàng đầu thế giới như Lehman, Merrill Lynch,… tuyên bố phá
sản hoặc bị bán rẻ cho nước ngoài.
Năm 2008, Mỹ nợ 10000 tỷ đô-la, một món nợ lứn nhất mà chưa quốc gia nào có.
Năm 2009, kinh tế mỹ tăng trưởng âm 2,4%, thấp nhất từ 1946.
Tỉ lệ thất nghiệp tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tiêu dùng của các hộ gia đình

năm 2005 và 18% so với tháng 12 năm 2000 (tính theo tỷ giá USD/SDR).
Bảng 2: TỶ GIÁ NGOẠI TỆ TÍNH TRÊN SDR THÁNG 9 NĂM 2009
Tiền tệ

% thay đổi so với
12/2005
% thay đổi so với
12/2000
USD -9,3 -17,8
EURO 11,4 32,7
Yên 17,6 9,9
Nhân dân tệ 7,2 - 0,5
2. Đối với thế giới
Hoa kì là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế Mỹ suy
thoái, xuất khẩu nhiều nước bị thiệt hại. Nhất là các nước xuất khẩu theo hướng đông á. Một số
nền kinh tế như Nhật bản, Đài Loan, Singapo rơi vào suy thoái, Các nền kinh tế khac tăng
trưởng chậm lại.
15
Châu Âu vốn có mối quan hệ mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài
chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây lâm vàophá sản đến mức khủng hoảng ở một
số nước như Iceland, Nga…Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc khủng hoảng kể từ
ngày đầu thành lập.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn bị rút
khỏi khu vực và giá dầu giảm mạnh.
Khủng hoảng ở Mỹ là nguyên nhân cuộc khủng hoản kinh tế toàn cầu 2008-2009
Chi phí để thế giới khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng này là khoảng 11.900 tỉ USD,
theo ước tính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Điều đó có nghĩa là nếu chia bình quân, mỗi
người trong thế giới 6,7 tỉ dân vào thời điểm đó đã có thể có thêm 1.779 USD nếu cuộc khủng
hoảng không xảy ra.
Tính ra thiệt hại tương đương 1/5 sản lượng kinh tế toàn cầu đã biến mất. Khoản tiền chi ra để

11 năm 2008.
2, Chính phủ
Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình quốc
hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dân chủ Hoa Kỳ
chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quá nhiều tổ chức tài
chính gặp khó khăn. Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng
chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ
giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp, phát
triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó đã được Thượng viện thông qua. Ngày 3
tháng 10 năm 2008, Tổng thống Bush đã ký Emergency Economic Stabilization Act of 2008
cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ dollar này.
18
Dù theo đảng Cộng Hòa hay đảng Dân Chủ, nhà cầm quyền Hoa Kỳ chỉ có thể can thiệp
vào sinh hoạt kinh tế một cách gián tiếp qua hai hệ thống tiền tệ và tài chính. Theo hệ thống
tiền tệ, chính phủ có thể giảm lãi suất để những người vay nợ có thể trả tiền nhà hay các hãng
có thể mượn nợ để khuếch trương xí nghiệp; tức là tạo công ăn việc làm. Hành động này nhằm
mục đích chận đứng giá nhà đổ, đồng thời làm giảm con số thất nghiệp.
Tổng thống Obama phải đối phó nhiều vấn đề cấp thiết và cần thiết cho sự khủng hoảng
kinh tế 2008 tại Hoa Kỳ. Thứ nhất là tạo niềm tin của người dân vào hệ thống tiền tệ; thứ hai là
chận đứng thất nghiệp đang gia tăng; thứ ba là kích thích nhu cầu thị trường; tức là làm tăng
mức cung để tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Do đó, trước tình trạng khẩn trương khủng
hoảng kinh tế, quốc hội Hoa Kỳ đã phê chuẩn cho tổng thống Obama xử dụng số tiền 800 tỷ
đô-la để cứu nguy kinh tế Hoa Kỳ.
Nhằm mục đích tạo niềm tin hệ thống ngân hàng, chính phủ giúp một vài ngân hàng, tín dụng
hay hãng bảo hiểm (thí dụ AIG) để bảo vệ số tiền hưu trí của người dân
Nhằm mục đích chận đứng nạn thất nghiệp, chính phủ phải giúp các đại công ty; thí dụ ba
hãng xe hơi GM, Chrysler và Ford
Nhằm mục đích tăng mức cầu, chính phủ giảm lãi suất, giảm thuế, xây cất các công tác hạ tầng
cơ sở để tạo công ăn việc làm và kích thích thị trường tiêu thụ
Nhằm mục đích làm giảm nạn thất nghiệp trong nước, khuynh hướng bế quan tỏa cảng gia

giờ làm việc phụ trội và nếu số giờ làm việc này giảm tức là nền kinh tế không khá. Thường
thường tại các hãng tư khi nào kinh tế phát triển thì công nhân mới phải làm giờ phụ trội. Như
vậy số giờ làm việc này ổn định hay là tăng lên trong 3, 4 tháng liền thì chỉ số này chứng tỏ
20
nền kinh tế đang trên đà hồi phục. Cụ thể là tháng giêng năm 2009 số giờ làm việc của công
nhân có chỉ số 102.9, tháng 2 là 102.2, tháng 3 là 101.2, tháng 4 là 100.4, tháng 5 là 9.99, tháng
6 là 9.94, tháng 7 là 99.2, tháng 8 là 99.1…
6- Đơn đặt mua hàng hóa phi quốc phòng: (non defense capital goods orders)
Đơn đặt hàng phi quốc phòng là chỉ số kinh tế khi các nhà đầu tư chủ các hãng tin tưởng
vào nền kinh tế thì các công ty mới đầu tư vào máy móc mới, các máy điện toán và các hàng
hóa
Trong năm 2009, số đơn đặt hàng giá trị hàng tháng đều dưới 35 tỷ và chứng tỏ nền kinh tế của
Hoa Kỳ chưa được hồi phục.
7- Tiền tệ lưu hành (Money Supply):
Tiền tệ lưu hành còn có tên là tiền tệ cung cấp, là số tiền ký thác ở ngân hàng và trong
Quỹ Thị trường Tiền tệ (Money Market Fund) sau khi đã điều chỉnh vì lạm phát là trị số tín
dụng của số tiền có thể sử dụng được.
8- Giá chứng khoán
9- Chỉ số ISM.
ISM viết tắt của chữ Institute for Supply Management Index, viện quản lý chỉ số
hàng cung cấp.
10- Giá dầu thô
11- Số xe bán được
7 trong 11 chỉ thị kinh tế đã kể trong những loạt bài trước có chỉ số dương trong tháng 9 bao
gồm số giờ làm việc, giấy phép xây cất, đơn đặt hàng hóa phi quốc phòng, giá trị chứng khoán,
đơn đặt hàng xuất cảng gia tăng, lãi suất thực sự của quỹ Liên bang, đường biểu diễn tiền lời
hàng năm.
21
CHƯƠNG V: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH MỸ

3. Bài học rút ra từ khủng hoảng
Thực tế đã cho thấy, Trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam đã, đang và sẽ bị thử thách, kết qur chống
lạm phát, vượt qua khủng hoảng và triển vọng phát triển kinh tế bền vững ở nước ta sẽ còn tùy
thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị, nhận thức và cách thức giải quyết các điểm mấu chốt sau:
• Phối hợp hài hòa bàn tay Nhà nước pháp quyền và bàn tay thị trường
Những cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính-tiền tệ khu vực và thế giới đã, đang và sẽ còn
chứng tỏ, khi “bàn tay hữu hình” của Nhà nước hoặc nắm quá chặt, hoặc bị buông lỏng quá
mức, và cả khi “bàn tay vô hình” của thị trường bị lạm dụng và đề cao thái quá, thì đều có nguy
cơ dẫn đến những cực đoan, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và thậm chí dẫn đến khủng hoảng
nếu có những bất đồng quá mức giữa nhà nước và thị trường.
Các khiếm khuyết của thị trường tự do phải được sửa chữa bằng sự can thiệp chủ động
và tích cực của Nhà nước kiểu mới, mang tính pháp quyền và đại diện cao hơn.
Đặc biệt, cần sớm khắc phục những bất cập về nhận thức và lạm dụng trong thực tế về
quyền lực chủ quan của nhà nước, về sức mạnh thị trường khách quan, về tính đa mục tiêu của
chính sách, cần nâng cao chất lượng xây dựng các quy hoạch, dự án; thực hiện nghiêm túc các
23
quy định về đấu thầu thực chất, chống thông thầu, ép thầu và các gian lận thầu khác gây tổn hại
lợi ích chung và dài hạn; tăng cường kiểm toán độc lập, xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống
chỉ tiêu hiệu quả
Về dài hạn, cần chuyển nhanh từ mô hình “nhà nước – nhà đầu tư lớn nhất” và phát triển
chủ yếu theo bề rộng hiện nay, sang mô hình “nhà nước – nhà quản lý công” và phát triển theo
bề sâu, đi đôi với việc chuyển dịch nguồn động lực chính trong đầu tư phát triển kinh tế từ khu
vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước; yêu cầu về tổ chức lại nền kinh tế
và các doanh nghiệp trong nước sẽ cấp thiết hơn nhằm tăng cường sự hợp tác, gắn kết, sức
cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, cũng như hiệu quả đầu tư
kinh tế-xã hội nói chung
Hơn nữa, cần sớm thiết lập cơ chế thị trường cạnh tranh đầy đủ, lành mạnh trong việc
cung cấp các sản phẩm và nguyên , nhiên liệu đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, rồi mới bãi
bỏ sự kiểm soát hành chính về giá cả.
• Coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính 2 mặt của các giải pháp chính sách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status