Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” – Đó là khẩu hiệu mà các quốc gia và các
cộng đồng quốc tế hướng tới nhằm mục đích chăm sóc, bảo vệ và phát triển trong tương
lai của mỗi quốc gia và nhân loại. Thế nhưng, nhiều trẻ em khi sinh ra đã phải chịu
những thiệt thòi khi mang trong mình những dị tật bẩm sinh vĩnh viễn không nghe được
âm thanh của cuộc sống, không được ríu rít trò chuyện với nhưng đứa bạn cùng lứa, hay
không thấy được ánh sáng của cuộc đời…
Trong những năm gần đây, giáo dục trẻ khuyết tật (TKT) được xã hội quan tâm.
Luật Người khuyết tật được ban hành là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được cơ hội phát
triển. Chỉ đạo ngành giáo dục đã có những chuyển biến tích cực. Cụ thể: Ban chỉ đạo giáo
dục khuyết tật của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) được củng cố, hoàn thiện theo
từng giai đoạn đảm bảo cho việc quản lý Nhà nước về giáo dục khuyết tật ngày càng sâu
sát, chặt chẽ. Các địa phương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, cấp huyện có chuyên viên
phụ trách, các cơ sở giáo dục có giáo viên cốt cán về giáo dục khuyết tật. Hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ năm học hàng năm của các bậc học đều có nội dung về giáo dục hòa nhập
(GDHN); các tổng kết năm học của ngành đều đã đánh giá công tác GDHN.
Các hoạt động về NKT đã được tăng cường qua các thông tin đại chúng và các hoạt
động gây quỹ cho NKT được các tổ chức xã hội, chính trị - xã hội thực hiện ngày càng
nhiều hơn.
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “An sinh xã hội và Công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em tàn tật- mồ côi Thị Nghè” là
đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp. Lựa chọn đề tài nghiên cứu này, tôi mong muốn góp
một phần nhỏ về mặt lý luận đồng thời mở ra một số hướng đi mới cho NKT tại trung
tâm.
2/ Mục tiêu của đề tài
SVTH: Tống Thị Lan 1
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Đề tài được chọn báo cáo với mục đích áp dụng các kiến thức, kỹ năng, phương
pháp CTXH cá nhân trong làm việc với trẻ khuyết tật. Đồng thời, qua đề tài sẽ tìm hiểu
MỒ CÔI THỊ NGHÈ
1/ Quá trình hình thành và phát triển
1.1/ Vị trí địa lý và diện tích của trung tâm
Trung tâm Bảo Trợ Trẻ Tàn Tật Mồ Côi Thị Nghè là Cơ sở Xã hội trực thuộc Sở
Lao Động Thương Binh & Xã Hội TP.HCM. Thành lập từ năm 1975, tiếp nhận từ Viện
Dưỡng lão Phú Mỹ của Cơ sở tôn giáo.
Trụ sở chính:153 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 17, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
- Điện thoại: 08. 3 899 6563 – 08 3 899 3738 Fax: 08 3 5140451
- Số FAX: 08 3 5140451 - Email:
Cơ sở 2: 916 Nguyễn Văn Cừ, Phường Lộc Phát, Thị xã Bảo Lộc, Tỉnh Lâm Đồng
- Điện thoại – Fax: 063 3 862660
Email :
1.2/ Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm Bảo Trợ Trẻ Tàn Tật Mồ Côi Thị Nghè tiền thân là Nhà nuôi Mầm Non
sáu. Sau khi Nhà nước tiếp quản, hệ thống mầm non trả lại cho giáo dục thì đặt tên là
Trung tâm.
Trung tâm tiếp nhận và nuôi dưỡng trẻ tàn tật, bị bỏ rơi thuộc địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, đa số trẻ bị bỏ rơi là trẻ bại não và chậm phát triển. Trung tâm có lưu
lượng bình quân là 400 em trong độ tuổi từ sơ sinh đến 16 tuổi. Ngoài ra Trung tâm còn
tổ chức tiếp nhận giáo dục phục hồi cho 200 trẻ khuyết tật tại cộng đồng. Tổng số trẻ ở
SVTH: Tống Thị Lan 3
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Trung tâm như sau: nội trú có 360 em trong đó có 200 nam và 160 nữ; bán trú gồm 180
em; mới nhận 4 em sơ sinh và số trẻ chết là 3 em.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên của trung tâm có 240 người, bao gồm: Nhân viên
Hành chính, Y Bác sỹ, Nhân viên Điều dưỡng, Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu, Thầy cô giáo,
Nhân viên trực tiếp chăm sóc các em và Nhân viên cấp dưỡng, phục vụ… Trong đó,
Thầy cô giáo có bằng cấp là 53 người, có 1 Bác sĩ và điều dưỡng, nhân viên vật lí trị liệu
là 20 người, nhân viên hành chính là 34 người, còn lại là nhân viên cấp dưỡng.
Hầu hết các em mang trên mình những khiếm khuyết, đa số cần hỗ trợ trong
năng sống theo khả năng của từng em, giúp các em có ứng xử phù hợp chuẩn mực xã hội.
ngoài những giờ học trên lớp, Trung tâm còn tổ chức cho các em học vẽ, học vi tính, học
đàn, thể dục và múa hát… Đối với một số em khiếm thị, khiếm thính, Trung tâm tổ chức
cho các em đi học tại các trường chuyên biệt. Các em chậm phát triển nhẹ, Trung tâm tổ
chức cho các em học tại các trường công lập bên ngoài cùng trẻ bình thường.
SVTH: Tống Thị Lan 5
Giám đốc
PGĐ
PT: Huấn luyện
PGĐ
PT: Tổ chức hành chính
nhân sự
PGĐ
PT: Chuyên môn
Điều trị
Phục
hồi:
-Y tế
-Vật lý
-Trị liệu
Chăm sóc:
-Trạm xá
-Thiểu năng 1
-Thiểu năng 2
-Phục hồi
Giáo dục
phục
hồi:
Tổ chức
giáo dục
đồng – 3.000.000 đồng/tháng. Đa số nhân viên ở Trung tâm đều có lòng yêu nghề và có
tình thương rất lớn đối với các em ở đây.
Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất trung tâm tương đối tốt, tạo điều kiện cho các em vui
chơi, giải trí và học tập.
3.2/ Khó khăn
Khó tuyển nhân viên. Bởi vì một mặt là phải có hộ khẩu thành phố mới được
tuyển vào công nhân viên, mặt khác do áp lực của công việc nên nhân viên không chịu
được. Vì vậy, việc tuyển nhân viên và giữ chân họ rất khó.
Vấn đề phát triển của các em rất hạn chế, nhất là phát âm, có em hiểu được nhưng
lại không nói.
Như vậy, sau 37 năm thành lập và phát triển, quá trình hoạt động có nhiều biến cố
do nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau. Nhưng trên cơ sở hoạt động thực tế cán bộ,
công nhân viên của Trung tâm đã nỗ lực phấn đấu không ngừng trong công tác chăm sóc,
SVTH: Tống Thị Lan 6
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
nuôi dạy các em, bởi tấm lòng tương thân tương ái, cán bộ nhân viên Trung tâm đã vận
động các tấm lòng hảo tâm để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho các em ở đây.
Trung tâm cũng rất mong hơn nữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước với
tấm lòng nhân ái vì tương lai các em, tạo điều kiện về mọi mặt để Trung tâm phát huy tốt
chức năng, nhiệm vụ.
4/ Những dịch vụ hỗ trợ thân chủ tại trung tâm
4.1/ Giáo dục
Trung tâm tổ chức dạy văn hóa từ mẫu giáo đến lớp 3 nhằm giúp các em phát triển
nhận thức, giao tiếp và rèn luyện nhân cách .
Chương trình rèn luyện đạo đức, lễ giáo, kỹ năng sống theo khả năng của từng em,
giúp các em có những ứn xử phù hợp chuẩn mực xã hội.
Ngoài những giờ học tại lớp, Trung tâm còn tổ chức các hoạt động khác như học
vẽ, học vi tính, học đàn, thể dục và múa hát…cho các em. Đối với một số các em khiếm
thị, khiếm thính, Trung tâm tổ chức cho các em đi học tại các trường chuyên biệt.Các em
chậm phát triển nhẹ, trung tâm tổ chức cho các em học tại các trường công lập bên ngoài
Bảng 2: Phân theo độ tuổi
Độ tuổi Nội trú Bán trú Tổng cộng
Dưới 18 tháng
Từ 19 tháng –5 tuổi
Từ 6 tuổi –10 tuổi
Tuổi từ 11 - 15 tuổi
Tuổi từ 16 -17 tuồi
18 tuổi trở lên
Tổng cộng
Nguồn: báo cáo công tác năm 2013, kết quả thực hiện nghị quyết CBCC năm 2013 và kế
hoạch công tác năm 2014.
SVTH: Tống Thị Lan 8
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Bảng 3: Phân theo bệnh lý.
Bệnh lý Nội trú Bán trú Tổng cộng
Khiếm thị
Khiếm thính
Chậm phát triển trí tuệ
Bại não
Tự kỉ
Hội chứng down
Di chứng sốt bại liệt
Loạn dưỡng cơ thể
Suy tuyến giáp
Đục giác mạc
Não úng thủy
Thiếu chi
Bình thường
Tổng cộng
Nguồn: báo cáo công tác năm 2013, kết quả thực hiện nghị quyết CBCC năm 2013 và kế
Sau khi đã hoàn thành các giấy tờ như trên trung tâm sẽ hoàn thành hồ sơ bao
gồm:
01: Phiếu tiếp nhận học sinh vào học tại cơ sở bán trú
02: Hợp đồng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục, PH…
SVTH: Tống Thị Lan 10
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
03: Quyết định tiếp nhận.
Sau khi có quyết định tiếp nhận thì học sinh bắt đầu học tại trung trung tâm.
Đối với học sinh được miễn giảm học phí tại cơ sở bán trú.
Bước 1: Hoàn thiện hồ sơ xin miễn giảm học phí tại cơ sở bán trú cho học sinh gồm
Đơn xin miễn giảm học phí (nêu rõ hoàn cảnh gia đình và lí do xin được miễn giảm học
phí) có xác nhận của chính quyền địa phương.
Giấy đề nghị miễn giảm của chính quyền địa phương (áp dụng đối với trường hợp
được chính quyền đia phương công nhận là hộ gia đình nghèo)
Các giấy tờ khác có lien quan để chứng minh gia đình thuộc diện được miễn giảm.
Lưu ý: Hộ gia đình nghèo phải có mã số hộ nghèo do chính quyền địa phương cấp.
Bước 2: Cơ sở bán trú cử cán bộ trực tiếp xuống gia đình học sinh và chính quyền địa
phương để xác minh cụ thể (nếu cần thiết)
Bước 3: Tổ xét duyệt miễn giảm học phí của trung tâm xét duyệt mức miễn giảm học phí
cụ thể theo 3 mức.
Mức 1 (miễm giảm 100%) áp dụng cho các học sinh thuộc một trong những
trường hợp sau:
Gia đình học sinh có 2 trẻ khuyết tật trở lên được chính quyền địa phương xác
nhận thuộc diện: hộ gia đình nghèo, gia đinh chính sách (thương binh liệt sĩ,…), gia đình
bị ảnh hưởng chất độc hóa học.
Học sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, cả cha lẫn mẹ không còn
khả năng lao động và không có nhà ở phải ở nhà thuê đồng thời trong gia đình đang nuôi
dưỡng 2 con trở lên còn đang đi học.
Mức 2 (miễn giảm 50%) áp dụng cho học sinh thuộc một trong những trường
hợp sau:
trẻ bị bại não ở các khoa, tiến hành khám lượng giá và tập vận động cho các em nội trú
giúp các em ngăn ngừa biến dạng. Chỉnh sửa, làm giày nẹp cho các em. Đánh giá lại cách
thức tư thế ăn, lượng giá chức năng sinh hoạt hằng ngày cho các em.
- Trang bị hồ bơi để thủy trị liệu cho các em
- Trang bị phòng tâm vận động và phòng cảm giác với đầy đủ trang thiết bị nhằm
giúp các em cảm nhận được cảm giác, giảm các hoạt động quá kích và tăng khả
năng tập trung.
Bảng 6: Kết quả công tác phục hồi chức năng
Công tác phục hồi Số trường hợp
Đi độc lập
Đi được bằng khung
Vận động tập (vận động thụ động +vận động có trợ giúp)
Sử dụng được dày nẹp
Chỉnh vẹo cột sống
Các em tự múc ăn
Tự ngồi
Chỉnh tư thế tốt
Lấy đàm giúp các em hô hấp tốt
Tâm vận động
Tổng
Nguồn: Báo cáo công tác năm 2013, kết quả thực hiện nghị quyết CBCC năm 2013 và kế
hoạch công tác năm 2014.
Tổng số lượt các em được tập luyện tại khu nội trú: 277x3 lần/ tuần = 831 lượt
tập/tuần x4 tuần = 3324 lượt tập/tháng x 12 = 39888 lượt tập/năm
Tổng số lượt các em được tập luyện tại khu bán trú 184 em x 3 lần/tuần = 552 lượt
tập/tuần x 4 tuần = 2208 lượt tập/tháng x 12 = 26496 lượt tập/ năm
SVTH: Tống Thị Lan 13
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Vệ sinh an toàn thực phẩm và công tác dinh dưỡng: chế độ ăn hang tháng cho các
em được ngân sách cấp ở 2 mức 600.000 đồng/em/tháng và 480.000 đồng/em/tháng (từ
chơi thư giãn như: nặn đất sét, tô tượng, xếp hình, vẽ tranh, tô màu. Qua thư viện nhằm
giúp các em phát triển nhận thức, phát triển kỹ năng cầm nắm và phát huy tính sáng tạo,
đặc biệt qua trò chơi cùng với sự giải thích của giáo viên đã giúp các em nhận biết và hạn
chế những hành vi chưa đúng.
Qua học tập, rèn luyện nhân cách, rèn luyện kỹ năng lồng ghép trong chương trình
vui chơi giải trí đã ý thức hơn trong việc giữ vệ sinh môi trường như biết nhặt rác, quét
sân, lau dọn bàn ghế, lau nhà, và giúp đỡ nhau trong các sinh hoạt hằng ngày…
2. 4/Các mô hình chăm sóc và trợ giúp đối tượng
2.4.1/ Mô hình tập trung
Với mô hình này áp dụng với trẻ em đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại khu nội
trú của trung tâm. Tại đây các em được chăm sóc nuôi dưỡng, khám và điều trị bệnh định
kỳ để đảm bảo sức khỏe. Công tác phục hồi chức năng cũng rất được quan tâm để các em
có thể hòa nhập được với cuộc sống đồng thời công tác quản lý giáo dục được chú ý để
các em có được những hiểu biết trước khi chuyển về mô hình xã hội thu nhỏ hòa nhập
cộng đồng tại cơ sở Bảo Lộc.
2.4.2/ Mô hình hội thu nhỏ hòa nhập cộng đồng tại cơ sở Bảo Lộc
Theo quy định, những người khuyết tật, bại não, tâm thần được Nhà nước nuôi
suốt đời trong các trung tâm BTXH. Vấn đề ở chỗ nuôi để tồn tại thì dễ nhưng làm sao
giúp họ sống tự lập, để họ cảm thấy mình vẫn là những người có ích mới là điều khó. Từ
những trăn trở đó, mô hình làng khuyết tật đã được trình UBND thành phố với mục đích
lập nên một xã hội thu nhỏ cho những người khuyết tật có thể lao động, hòa nhập công
SVTH: Tống Thị Lan 15
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
đồng, dần quen với cuộc sống ngoài xã hội. Được thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm
Đồng chấp thuận, làng trẻ khuyết tật Bảo Lộc ra đời vào tháng 06/1994.
Sơ Nguyễn Hoàng Oanh, người quản lý cơ sở khuyết tật cho biết, gần 20 năm
trước, những ngày đầu tiên mới “bỏ phố vào rừng” xây dựng cơ sở, núi rừng còn hoang
vu, dân cư thưa thớt, điện thắp sang còn chưa có, nhà lá tạm bợ dột nát. Đến nay khu
trung tâm của cơ sở đã có gồm ba dãy nhà lầu khang trang, trong làng đã có gần 100
người khuyết tật được đón nhận, trong đó phần lớn là người bị bại não, điếc hoăc bại liệt,
Mô hình này còn tạo ra để hỗ trợ các em có gia đình ngoài cộng đồng được chăm
sóc trợ giúp một cách có khoa học để các em có thêm những kỹ năng trong cuộc sống
cũng như giúp cho gia đình các em có thời gian lao động tăng thu nhập.
2. 5/ Nguồn lực thực hiện
Cũng như rất nhiều các trung tâm trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói
chung thì Trung tâm bảo trợ trẻ em tàn tật- mồ côi Thị Nghè cũng thành lập và hoạt động
chủ yếu dựa trên nguồn ngân sách và các chính sách của Nhà nước ban hành.
Ngoài ra trung tâm còn vận động được các nguồn tài trợ từ thiện từ các tổ chức, cá
nhân, doạnh nghiệp trong địa bàn TPHCM cũng như các tỉnh lân cận. Nguồn hỗ trợ này
góp phần đảm bảo cho cuộc sống về vật chất và tinh thần của các đối tượng trong trung
tâm được ổn định hơn. Vì so với thực tế nguồn ngân sách nhà nước chi cho việc chăm
sóc các đối tượng trong trung tâm là không thể đảm bảo. Chính vì vậy công tác vận động
tài trợ của Trung tâm là vô cùng quan trọng. Trong những năm qua Trung tâm bảo trợ trẻ
em tàn tật- mồ côi Thị Nghè đã làm tốt công tác này.
Ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước và các nguồn tài trợ thì các cán bộ
công nhân viên làm việc trong Trung tâm cũng là nguồn lực quan trọng để góp phần đảm
bảo được cuộc sống đối tượng cũng như mọi hoạt động của trung tâm. Nhân viên ở trung
tâm không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như nâng cao trách nhiệm mà
SVTH: Tống Thị Lan 17
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
minh chứng là cuộc sống cũng như mọi hoạt động trong trung tâm đang được ổn định và
phát triển.
2. 6/ Những vướng mắc khi thực hiện chính sách.
Do các em tại trung tâm đông, nhu cầu của các em cần có một chế độ ăn uống tập
luyện để mong rằng các em phát triển tốt trong khi đó nguồn hỗ trợ từ chính sách của nhà
nước cho các em còn ít chưa đảm bảo thực hiện được các chính sách đã đưa ra. Bên cạnh
đó trung tâm cũng còn những vướng mắc sau gây khó khăn cho việc thực hiện các chính
sách, mô hình phát triển:
- Số lượng giáo viên và cán bộ chuyên môn còn hạn chế, chưa đồng đều về chất
lượng.
của cán bộ
hướng dẫn
hoặc kiểm
huấn viên
SV: Em chào chị! Em có thể nói
chuyện với chị một chút được không
ạ?
KHV: Ừ, chào em! Có chuyện gì
không em?
SV: Dạ thưa Chị! Em xin tự giới thiệu,
em tên là Lan, là sinh viên khoa Công
tác xã hội, trường Đại học Lao động –
Xã hội TP.HCM tới Trung tâm mình
để thực tập và em được phân công tới
lớp của chị.
Thưa chị! Qua cuộc gặp gỡ và trao đổi
với lãnh đạo Trung tâm, em được biết
chị là giáo viên của lớp và em cũng
biết đối tượng chăm sóc, giáo dục của
lớp mình là những trẻ em có hội
chứng Down, chậm phát triển, khuyết
tật, tự kỷ. Vậy chị có thể cho em biết
thêm là hiện tại tổng cộng tổ mình có
Ánh mắt dò
xét
Cười thân
thiện và cúi
đầu chào
Nói với
giọng nhỏ
KHV: Không có gì đâu em, em cần
biết gì thì cứ hỏi. Chị sẵn sàng trả lời!
SV: Vậy em cảm ơn chị nhiều! Em
chào chị .
KHV: Chào em!
Nhiệt tình trả
lời câu hỏi do
tôi đưa ra
Gật đầu và
cười thân thiện
thông tin
Chăm chú
lắng nghe
Vui khi cô
nói sẽ giúp
đỡ vì điều
này nghĩa là
kỹ năng tạo
lập mối quan
hệ đã được
vận dụng
thành công
- Những kết quả đạt được:
o Biết được một số thông tin về tổ như: Số lượng các em trong lớp học;
o Tạo lập được mối quan hệ với giáo viên của trẻ cũng là người kiểm huấn;
o Nhận được sử giúp đỡ tận tình từ KHV;
- Những tồn tại và khó khăn:
o Do là buổi đầu tiên nên không có nhiều thời gian khai thác thông tin sâu
hơn;
- Kế hoạch lần sau: Tạo lập mối quan hệ và làm quen với thân chủ khi đã lựa chọn
SVTH: Tống Thị Lan 21
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Người thực hiện : Tống Thị Lan.
Mô tả nội dung cuộc vấn đàm
Nhận xét cảm
xúc hành vi
của đối tượng
Cảm xúc kỹ
năng sinh
viên sử dụng
Nhận xét của
cán bộ
hướng dẫn
hoặc kiểm
huấn viên
SVTT: Chào em!
TC: Chào chị.
SVTT: Em biết chị tên gì không?
TC: Không biết.
SVTT: Chị tên Lan, M nhớ tên chị
chưa nào?
TC: Dạ.
SVTT: Hôm nay M học môn gì?
TC: Môn Toán.
SVTT: Ừ, đúng rồi. Năm nay M mấy
tuổi rồi?
TC: Mười ba ạ.
SVTT: Lớp học của mình tên gì M
nhỉ?
TC: Trắng
o Tìm hiểu được vấn đề mà TC đang vướng mắc
2.2/ Phúc trình lần 02
Họ tên đối tượng : Tuổi: 13 Giới tính: Nữ
Địa chỉ đối tượng : 457/1B, Nơ Trang Long, phường 13, Quận Bình Thạnh.
Địa điểm thực hiện : Lớp Bồ Câu Trắng
SVTH: Tống Thị Lan 23
Báo Cáo Thực Tập Chuyên Ngành Công Tác Xã Hội
Thời gian : 08h00 Ngày 25 tháng 02 năm 2014
Phúc trình lần thứ : 02
Mục tiêu cuộc phúc trình : Tìm hiểu thông tin về gia đình, vấn đề của TC
Người thực hiện : Tống Thị Lan
Mô tả nội dung cuộc vấn đàm
Nhận xét cảm
xúc hành vi
của đối tượng
Cảm xúc kỹ
năng sinh
viên sử dụng
Nhận xét
của cán bộ
hướng dẫn
hoặc kiểm
huấn viên
SVTT: Hôm nay M còn nhớ tên chị
không đấy!
TC: Chị Lan.
SVTT: M giỏi quá. Sáng nay ai chở
M đi học vậy?
TC: Dạ, mẹ nuôi.
SVTT: Mẹ nuôi chở M đi học rồi về
SVTT: Tên Sáu
TC: Dạ.
SVTT: Vậy M ở với ba mẹ nuôi với
ai nữa?
TC: Dạ, M có chị gái nuôi học lớp
12.
SVTT: Nhà M tới trường xa lắm
không?
TC: Không.
SVTT: Nhà M ở quận nào?
TC: Quận Bình Thạnh.
SVTT: Bây giờ, các anh chị sinh
viên sẽ mở phim hoạt hình cho các
bạn xem, M thích xem phim hoạt
hình không?
TC: Dạ thích.
SVTT: Vậy chúng ta cùng xem nha!
- Những kết quả đạt được:
o TC đã nhớ được tên của sinh viên.
SVTH: Tống Thị Lan 25