Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt nam hiện nay: nội dungnhững bất cập và kiến nghị. - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Khoa Tài chính ngân hàng

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt
nam hiện nay: nội dung-những bất cập và kiến nghị.
Sinh viên thực hiện : Ngô Văn Thịnh : STT: 113
Nguyễn Việt Anh 7
Nguyễn Quang Tùng 136
Lớp : TCH301.5_LT
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan
Hà Nội, tháng 6/2013
class="bi x0 y0 w1 h5"
class="bi x5 y0 w2 h5"
Mở đầu
Ở Việt Nam ngành ngân hàng mới chỉ trải qua 62 năm hình thành và phát triển bắt đầu
được hình thành từ 06/05/1951điều này cho thấy nó vẫn chỉ là một chặng đường rất ngắn
so với thế giới nhưng trong hơn một thập kỉ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng,
xuất hiện ngày càng nhiều của các NHTM trong nền kinh tế, với sự đóng góp vô cùng
quan trọng của mình vào nền kinh tế hệ thống NHTM ở VN đã hình thành nên một kênh
dẫn vốn, huy động vốn giúp cho nền kinh tế VN ngày càng phát triển, thúc đẩy quá trình
tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Bên cạnh đó các
NHTM còn khẳng định mình trong việc góp phần ổn định sức mua của đồng tiền đóng
góp không nhỏ vào quá trình điều hành nền kinh tế ở Việt Nam. Nhưng cùng với sự phát
triển nhanh chóng trong suốt quá trình Việt Nam thực hiện hội nhập thể hiện qua việc
tăng lên nhanh chóng về số lượng và về cả quy mô lẫn lĩnh vực hoạt động việc quản lý
của bản thân các NHTM đối với chính mình ngày càng khó khăn khi kinh nghiệm còn
non kém và sự hội nhập thì ngày càng sâu và rộng khiến cho việc quản lý không còn đơn
giản như trước. Chính vì thế để đảm bảo cho việc phát triển ổn định của hệ thống NHTM
giúp phần phát triển đất nước cùng với đó là việc sử dụng hệ thống NHTM như một công

Trung gian tín dụng: Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “ cầu nối” giữa người
có vốn và người cần vốn. Thông qua việc huy động vốn tiền tệ tạm thời nhà rỗi trong nền
kinh tế ngân hàng hình thành nên quĩ cho vay của nó rồi dem cho vay đối với nền kinh tế,
bao gồm cả cho vay ngắn hạn và dài hạn mà chủ yếu là cho vạy ngắn hạn. Với chức năng
này ngân hàng vừa đóng vai trò là người di vay vừa đóng vai trò là người cho vay.
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng này xuất phát từ những cơ sở khách quan.
Đó là đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vố xã hội đã phát sinh
hiện tượng trong cùng một lúc có những xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân có vốn tiền tệ
tạm thời chưa sử dụng. Ngược lại, lại có những doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vốn
cần bổ sung trong một thời gian ngắn. Mâu thuẫn này càn được giải quyết để tăng hiệu
quả sử dụng vốn trong nền kinh tế và được thỏa mãn bằng quan hệ tín dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp. Tuy nhiên quan hệ tín dụng trực tiếp dưới hình thức quan hệ thương mại hoặc
doanh nghiệp phát hành trái phiếu có những hạn chế vì các chủ thể khó có thể biết rõ
được khả năng và của nhau. Hơn nữa, phải có sự tin tưởng để chuyển nhượng vốn lẫn
nhau. Hạn chế này đòi hỏi phải có ngân hàng đứng ra làm trung gian để chuyển vốn từ
nơi thừa sang nơi thiếu tạm thời. Thêm nữa, nhu cầu tiết kiệm và đầu tư trong xã hội
cũng đòi hỏi ngân hàng làm trung gian để chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người có
nhu cầu đầu tư.
Đây chính là vai trò quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất
của ngân hàng thương mại là di vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì và phát triển của
ngân hàng. Đông thời làm cơ sở để thực hiện các chức năng sau.
Page 6
Trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng trung gian thanh
toán trên cơ sở nó thực hiện các chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc
nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản
thu, chi. Đó chính là tiền để khách hàng thực hieenjt hanh toán cho ngân hàng, ngân hàng
vào vị trí làm trung gian thanh toán. Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phí
thanh toán lớn, đặc biệt với khác hàng ở các xa nhau đã tọa nên nhu cầu khác hàng thực
hiện thanh toán qua ngân hàng. Việc hệ thống ngân hàng thực hiện chức năng trung gian

1.2. Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Ngân hàng thương mại ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ cho
vay, chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của
nó đối với sự phát triển kinh tế. Với chức năng của mình, Ngân hàng thương mại giữ vai
trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: thực tế cho thấy, để phát
triển kinh tế các đợn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất
kinh doanh và các hoạt động khác. Nhưng điều khó khăn nhất là cần có người đứng ra
trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn. Bằng vốn
huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã
cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá
trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt
động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy
móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản
phẩm cho xã hội.
Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Bước sang cơ chế thị
trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động trong các
nhà máy xí nghiệp, khơi dậy sức sống bằng các dây truyền sản xuất hiện đại năng suất
cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều đó không thể thực hiện
Page 8
bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã ít ỏi. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng
còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của
các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối lo thương trực của các doanh nghiệp. Một khía
cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp đó là một ngân
quỹ để dành cho việc đào tạo đỗi ngũ la động phù hợp với sự phát triển của khoa học –
kỹ thuật – công nghệ cao. Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những
chuyên gia đầu ngành, những các bộ có năng lực và những công nhân lành nghề.
Ngân hàng thương mại là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Cùng với
sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng nhà
nước và các ngân hàng thương mại. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị

đến ảnh hưởng của toàn hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng có mối liên hệ và phụ thuộc
với nhau chặt chẽ thông qua các luồng vốn tín dụng luân chuyển và thông qua hoạt động
của hệ thống thanh toán. Chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân
hàng cũng sẽ gây nên vấn đề thanh khoản của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Mặc khác, sự
sụp đổ của ngân hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bản chất của các hoạt động ngân hàng là chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro sẽ tăng lên khi
các ngân hàng có xu hướng chạy theo lợi nhuận làm phương hại đến quyền lợi của người
gửi tiền. Nguyên tắc hoạt động của các ngân hàng là đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn.
Bản tổng kết tài sản của nó luôn chứa đựng mức rủi ro tiềm năng do chênh lệch về thời
hạn giữa nguồn vốn và sử dung vốn, giữa yêu cầu thanh khoản và mong muốn sinh lời tối
đa. Vì thế sự điều tiết chặt chẽ và giám sát thường xuyên của NHTW sẽ ngăn cản xu
hướng chạy theo lợi nhuận quá mức, đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro và phá sản.
Sự tồn tại và phát triển các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng phụ
thuộc vào lòng tin của công chúng với tư cách là người gửi tiền. Một sai sót nhỏ trong
Page 10
quá trình kinh doanh và cung ứng dịch vụ của ngân hàng cũng có thể gây nên sự nghi ngờ
có tính lan truyền trong dân chúng và hệ thống ngân hàng. Điều này thực sự đe dọa sự
tồn tại của các ngân hàng. Một sự sự hiểu nhầm xảy ra, nếu không có sự trấn an và hỗ trợ
của ngân hàng trung ương thì hậu quả thật sự khó lường.
Nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa quy định thủ tục vay vốn,
giải quyết các tranh chấp giữa khách hàng và ngân hàng. Từ khi đất nước chuyển sang
nền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của WTO. Theo đó các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới đã một lượng vốn rất lớn vào Việt
Nam để đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thông qua kênh phân phối chính
là các Ngân hàng thương mại. Cùng với đó là sự xuất hiện của vô số các Ngân hàng
thương mại nước ngoài xâm nhập vào thị trường tài chính Việt Nam. Bên cạnh sự xuất
hiện của vô số các Ngân hàng thương mại của nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc văn
phòng đại diện tại Việt Nam là sự thành lập vô số các Ngân hàng thương mại cổ phần
trong nước. Với sự mở rộng lớn mạnh của hệ thống Ngân hàng thương mại như hiện nay

yếu,

khả
năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn,
hàng tồn kho cao nên nhiều DN không đủ điều kiện vay vốn; các TCTD phải kiểm
soát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu…
 Trong cơ cấu tín dụng, dư nợ bất động
sản

chiếm
tới hơn một nửa, khoảng 1,5 triệu
tỷ đồng. Trong khi tín dụng tăng trưởng thấp thì
huy

động
vốn của các TCTD lại
tăng mạnh. Vốn huy động ước cả năm đạt mức tăng trưởng 17%.
Page 12
Nguồn : Tổng cục thống kê
Trong năm 2013, tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu khởi sắc, tính đến cuối tháng 6 năm
2013,
tín dụng toàn hệ thố ng ước tính t
ăng
4,5% so với cuối năm 2012, trong đó tín
dụng bằng VND tăng 7,55%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 9,4%. Cho tới hết tháng 10
năm 2013, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 6.8% đây là một dấu hiệu đáng mừng cho nền
kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên với mức tăng trưởng này gần như chắc chắn sẽ không đạt
mục tiêu tăng trưởng 12% vào năm 2013 khi mà cần nâng tỉ lệ tăng trưởng thêm hơn 5%
trong 2 tháng cuối năm
2.2.2 .Nợ xấu.

Nguồn : tổng cục thống kê
Thứ 2: Việc lạm dụng đòn bẩy tài chính đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải
đối mặt với nhiều rủi ro khi thị trường tài chính có biến động tiêu cực, đặc biệt là
trong các trường hợp thắt chặt tín dụng. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặc
Chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô theo hướng thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát
thì nhu cầu đầu tư và tiêu dùng giảm, hàng tồn kho bắt đầu ứ đọng và các khoản
phải thu từ khách hàng bị đình trệ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
giảm sút dẫn đến thua lỗ phá sản không thể trả nợ được ngân hàng. Bên cạnh đó, một lượng vốn lớn được
đâu tư vào bất động sản, kinh tế suy thoái làm, thị trường bất động sản đóng băng, khả năng thanh khoản
của bất động sản giảm, doanh nghiệp không thể bán được bất động sản để trả nợ cho ngân hàng.
Bảng 1. Tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu trên tổng

nợ tính giai đoạn 2009- 2011
Ngân
hàng
Nợ nhóm
2
Nợ nhóm 3, 4,
5
2009 2010 9
/
2011 2011 2009 2010 9
/
2011 2011
VCB
5,67%
9,91%
15,12%
14,71%
2,47%

0,90%
STB
0,17%
0,04%
0,22%
0,29%
0,64%
0,54%
0,56%
0,58%
EIB
0,60%
0,39%
1,51%
1,39%
1,83%
1,42%
1,50%
1,61%
SHB
0,44%
2,45%
3,05%
2,73%
2,79%
1,40%
1,55%
2,13%
HBB
11,64%

trường bất động sản thì lượng nợ xấu như đã nêu trên không đáng quan ngại. Từ đầu
năm tới nay việc xử lý nợ xấu bằng trích lập dự phòng đạt 32000 tỷ đồng, dự kiến trong năm nay VAMC sẽ mua
được khoảng 30-35000 tỷ đồng nợ xấu. Như vậy, chỉ riêng với nội lực từ trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng, các NHTM đã có thể phần nào xử lý được nợ xấu của mình.
Bảng 2. Tỷ lệ dự phòng/d
ư
nợ và nợ xấu trên tổng

nợ tính giai đoạn 2009- 2011
Page 16
Ngân
Hàng
Tỷ lệ dự
phòng
/dư

nợ
Tỷ lệ nợ
xấu
2009
2010
9
/
2011
2011
2009
2010
9
/
2011

EIB
0.99%
1.01%
0.89%
0.83%
1.83%
1.42%
1.50%
1.61%
SHB
0.99%
1.12%
1.09%
1.22%
2.79%
1.40%
1.55%
2.13%
HBB 1.65% 2.06% 2.72% 2.64% 2.25% 2.39% 2.83% 4.42%
NVB
0.96%
1.19%
1.05%
1.23%
2.45%
2.24%
2.84%
2.92%
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính các NHTM.
Với rất nhiều nỗ lực của NHNN trong hơn một năm qua, các chính sách đã phát huy

đủ vốn điều lệ trừ một số ngân hàng nhỏ như bị mua lại hoặc sáp nhập : điển hình nhất là
quyết định 1559/QĐ-NHNN ngày 07/08/2012 chính thức chấp thuận việc sáp nhập Ngân
hàng Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) và gần đây nhất
là quyết định sáp nhập ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) vào HDBank và mua lại
Công ty TNHH Một thành viên tài chính Việt- Societe (SGVF), nâng tổng số vốn điều lệ
8.100 tỷ đồng, tổng tài sản trên 85.000 tỷ đồng và mạng lưới hoạt động hơn 210 điểm
giao dịch trên cả nước.
Tuy vậy nhìn tổng thể thì chỉ có 6 ngân hàng có tổng vốn điều lệ lớn hơn 10000 tỷ, 7
ngân hàng có tổng vốn điều lệ từ 5000-10000 tỷ, hầu hết các ngân hàng còn lại vốn điều
lệ đều nhỏ hơn 5000 tỷ.
Page 18
Vốn điều lệ các NHTMNN giai đoạn 08-11 Vốn điều lệ các NHTMCP giai đoạn 08-11
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính các NHTM
Nhằm đạt quy định vốn điều lệ và thoát khỏi việc sáp nhập mua lại, hoặc tự giải thể các
NHTM sử dụng nhiều cách thức để tăng vốn điều lệ như đầu tư lòng vòng giữa các công
ty con, quỹ đầu tư, … nổi bật nhất là hiện tượng sở hữu chéo
- Sở hữu chéo: Giả sư cổ đông ngân hàng A vay vốn ngân hàng B để đầu tư vào ngân
hàng B và ngược lại; hoặc tổng công ty X sở hữu doanh nghiệp Y, đồng thời sở hữu
doanh nghiệp Z, khi doanh nghiệp Y và Z cùng đầu tư vào ngân hàng A thì đương nhiên,
X là chủ sở hữu của ngân hàng A, trong đó, Y và Z là sở hữu trực tiếp, còn X là sở hữu
gián tiếp thì các trường hợp này chính là sở hữu chéo.
Vì thế, nhiều nguồn vốn của từng ngân hàng tăng nhưng tổng thể nguồn vốn toàn hệ
thống thì không hề thay đổi do số tiền chỉ chảy qua, chảy về giữa “túi nọ”, “túi kia”, giá
trị tăng chỉ trên sổ sách, còn thực tế thì không tăng.
Page 19
Điều đáng lo ngại từ quá trình này là ở chỗ làm sai lệch việc đánh giá rủi ro cho hệ
thống, bởi lẽ: muốn biết ngân hàng hoạt động có an toàn hay không thì phải dựa vào các
chỉ số như tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ, được xác định qua vốn
tự có mà vốn điều lệ là yếu tố quan trọng nhất trong vốn tự có.
Kết quả là các ngân hàng đạt quy định vốn tối thiểu nhưng vốn thực lại không đạt đủ

ngân hàng. Trong số này, nhiều NHTMCP nông thôn (tiền thân là các quỹ tín dụng
nhân dân) trước đây đã chuyển đổi mô hình, mở rộng quy mô để chuyển sang hoạt
động trong thị trường ngân hàng đô thị từ sau năm 2006. Các NHTMCP từ chỗ
được phân chia thành hai khu vực với quy mô tài sản, mạng lưới chi nhánh, phòng
giao dịch, khả năng tài chính và trình độ quản lý khác nhau, phù hợp với đối tượng
phục vụ, nay chủ yếu cạnh tranh với nhau trên cùng một thị trường. Hơn nữa, thực
trạng các NHTM tập trung vào chạy đua mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận
trong khi số lượng và chất lượng các sản phẩm và dịch vụ khác chưa phát triển đã
dẫn tới việc huy động tiền gửi và tín dụng vẫn là sản phẩm chủ yếu các ngân hàng
sử dụng để cạnh tranh với nhau. Tình trạng “độc canh” tín dụng và dịch vụ đi kèm
sản phẩm tiền gửi thiếu chất lượng đã dẫn tới các ngân hàng liên tục chạy đua
nâng lãi suất huy động và tìm cách thu hút khách hàng mà không quan tâm đến khả
năng tài chính của khách hàng và tính hiệu quả của phương án, dự án vay vốn. Hệ
quả của thực trạng này là tốc độ tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay và huy động
của hệ thống ngân hàng luôn cao hơn mục tiêu đề ra của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN). Trong một số thời kỳ, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng
đã dẫn tới một số ngân hàng thực hiện các biện pháp lách luật thông qua nhiều
hình thức, vi phạm các quy định của cơ quan quản lý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
kỷ cương của thị trường tài chính ngân hàng cũng như hiệu quả điều hành chính sách
tiền tệ của NHNN. Do lãi suất trong nền kinh tế Việt Nam có mức độ dao động cao
và biến động liên tục trong khi các sản phẩm huy động vốn có khả năng hạn chế rủi
Page 21
ro lãi suất cho người gửi tiền lại chưa phát triển nên đa phần nguồn vốn các NHTM
huy động được là vốn ngắn hạn. Một nguyên nhân nữa khiến cho nguồn vốn huy
động thông qua phát hành các công cụ nợ dài hạn bị hạn chế là trong giai đoạn
những năm gần đây, lạm phát và lãi suất của Việt Nam thường tăng cao khiến cho
các nhà đầu tư vào các công cụ nợ dài hạn gặp nhiều rủi ro về giá nên không mặn mà
với công cụ đầu tư này. Nguồn vốn huy động đa phần là ngắn hạn đã làm ảnh
hưởng tới khả năng cung cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn của các ngân hàng
khi thực hiện theo Thông tư số 15/2009/TT- NHNN quy định các NHTM chỉ được

tích
riêng dưới đây, và thu nhập ròng từ lãi giảm.
Do tình hình kinh tế khó khăn trong năm 2011-2012, các doanh nghiệp tiếp tục gặp
khó khăn trong năm 2012. Các doanh nghiệp vốn đã gặp khó khăn trong năm 2011
nay tiếp tục trải qua nhiều khó khăn hơn trong năm 2012, trong khi những doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả trong năm 2011 phải đối mặt với nhiều thách thức trong
năm 2012. Do đó, các ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều hơn do chất lượng
danh mục khoản vay suy giảm.
Thêm vào đó, trong khi hầu hết các doanh nghiệp cố gắng không vay thêm và chì duy
trì hoạt động, các ngân hàng cũng ngần ngại hơn khi cho vay do tỷ lệ nợ xấu tăng cao.
Lợi nhuận sau thuế toàn ngành ngân hàng Tỉ suất sinh lời ROA và ROE trong các năm
Nguồn: Theo khảo sát về ngành ngân hàng Việt Nam 2013 công ty TNHH KPMG
Khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam ở mức cao so với các ngành
trong nền kinh tế, tuy vậy trong những năm gần đây kinh tế khủng hoảng, kết quả kinh doanh của
Page 23
các ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này làm tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) của Việt
Nam năm 2012 giảm xuống chỉ còn 0,78%, so với mức 1,06% của năm 2011 (giảm 27% so với năm
trước). Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2012 là 9,56%, giảm so với mức 14,19% của
năm 2011 (giảm 33% so với năm trước).
Vấn đề này phát sinh từ thực trạng tập trung vào hoạt động tín dụng như là cơ sở
để mở rộng thị trường, sử dụng công cụ lãi suất để cạnh tranh mà không tập trung
vào các mảng sản phẩm và dịch vụ phi tín dụng. Ước tính lợi nhuân thu được từ hoạt
động tín dụng của các Ngân hàng tại Việt Nam chiếm tới hơn 70%, chỉ có một số ngân
hàng như Vietcombank, Eximbank là có tỉ lệ này thấp hơn với trên 60% là nhờ hoạt
động kinh doanh xuất nhấp khẩu, tương đối phát triển. Khi thị trường tín dụng gặp
vấn đề do nền kinh tế suy thoái, khách hàng vay vốn không trả nợ đầy đủ và đúng
hạn thì ngay lập tức khoản thu nhập từ hoạt động tín dụng bị ảnh hưởng tiêu cực,
điều này cho thấy sự tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng tại Việt Nam không ổn
định và bền vững, quá phụ thuộc vào hoạt động tín dụng. Ngoài ra, nếu các NHTM
Việt Nam tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng theo đúng tiêu chuẩn quốc

0.69%
1.25%
1.82%
10.22%
18.79%
21.97%
ACB
1.69%
1.51%
1.50%
21.78%
20.52%
26.82%
STB
2.09%
1.68%
1.96%
15.84%
13.63%
14.29%
EIB
2.34%
1.81%
2.21%
8.48%
13.43%
18.64%
SHB
1.51%
1.29%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status