Luận văn "Quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay - vấn đề và giải pháp" potx - Pdf 12

 1
Ch ng 1 I U KI N T NHIÊN, KINH T , V N HÓA - XÃ H I C A ươ Đ Ề Ệ Ự Ế Ă Ộ Ủ
LÂM NG VÀ C I M C A TÔN GIÁO TRÊN A BÀN T NHĐỒ ĐẶ Đ Ể Ủ ĐỊ Ỉ 7
Ch ng 2 TH C TR NG QU N LÝ NHÀ N C ươ Ự Ạ Ả ƯỚ
I V I TÔN GIÁO LÂM NGĐỐ Ớ Ở ĐỒ 31
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Chưa kể vài chục triệu người khác
vẫn giữ tín ngưỡng dân gian truyền thống, chỉ tính riêng 6 tôn giáo lớn, ở
nước ta đã có gần 1/3 dân số cả nước sinh hoạt tôn giáo thường xuyên. Tôn
giáo trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Trong tình hình
đó, Đảng và Nhà nước xác định phải tăng cường công tác tôn giáo để vừa
đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống
địch lợi dụng tôn giáo để đi ngược lại lợi ích căn bản của nhân dân. Vì vậy,
việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo là vấn đề hết sức
quan trọng, nó phải được sự quan tâm của các ngành, các cấp và cần được
tiến hành trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta từng bước hoàn thiện chính sách
tôn giáo, tăng cường quản lý nhà nước đối với tôn giáo bằng pháp luật;
hướng cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo trong
đời sống nhân dân; kiên quyết uốn nắn nhận thức lệch lạc, những khuyết
điểm nhằm thực hiện triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp
xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi với dân số khoảng một triệu người, nhưng
có tới 60% dân số theo Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài. Ngoài ra,

nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng, vừa đảm bảo cho
chính sách tôn giáo không bị vi phạm, vừa đấu tranh có hiệu quả chống
địch lợi dụng tôn giáo là việc làm cần thiết.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở
Lâm Đồng hiện nay - vấn đề và giải pháp" trở thành vấn đề cấp thiết cả
về lý luận và thực tiễn ở Lâm Đồng hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với tôn giáo nói riêng là
một trong những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Cho nên, từ khi có Nghị
quyết 24 của Bộ Chính trị, việc đi vào nghiên cứu tôn giáo, đề ra chủ
trương, chính sách tôn giáo ngày càng được nhiều nhà lý luận - chính trị
quan tâm hơn. Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được
công bố. Chẳng hạn, "Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ
mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay" của Trung tâm Khoa học về
Tín ngưỡng và Tôn giáo thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 1998; "Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
cấp thiết" của Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 1995; "Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối
với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam" của Trần Minh Thư, năm
1999 Song, các công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập công tác tôn giáo
nói chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
Ở Lâm Đồng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về tôn giáo và quản
lý nhà nước về tôn giáo. Thí dụ, "Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo tỉnh
Lâm Đồng và công tác tôn giáo trong tình hình mới từ năm 1995 đến năm
2000", năm 1995; "Lịch sử hình thành phát triển của các tôn giáo ở Lâm
Đồng", năm 1997; "Đạo Tin lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
Lâm Đồng" năm 1997 của Ban tôn giáo tỉnh Lâm Đồng; "Đổi mới những
vấn đề cơ bản về công tác tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay", năm 2000 của
4

nước đối với tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà
nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng thời gian qua.
- Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp
lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu cùng phương
pháp của xã hội học nhằm đạt mục đích và hoàn thành những nhiệm vụ
mà luận văn đặt ra.
5. Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu phát hiện ra được một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong
quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng.
- Đưa ra được một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
5
hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ
trương, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo và vận dụng
vào thực tiễn của Lâm Đồng.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Tôn giáo học
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 6 tiết.
6
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
CỦA
LÂM ĐỒNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi ở Nam Tây Nguyên, nằm giữa tọa
độ 11 - 13
0

Sự tác động cộng hưởng của bức xạ mặt trời, hoàn lưu khí quyển và
vị trí địa lý cùng địa hình đã hình thành ở Lâm Đồng một kiểu khí hậu đặc
biệt: nhiệt đới gió mùa vùng sơn cao nguyên. Khí hậu ở Lâm Đồng có hai
mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 16
0
C đến 23
0
C; lượng mưa từ
1.600 mm đến 3.000 mm/năm [53, tr. 21-22].
Lâm Đồng có hệ thống giao thông tương đối thuận tiện, các quốc lộ
8, 20, 21, 27 nối liền với các tỉnh duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, miền
Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh. Đường ô tô đã đến trung tâm
các huyện và nhiều xã trong tỉnh. Tuy nhiên, ở một số xã vùng sâu, vùng
xa, vùng căn cứ cách mạng, việc đi lại của đồng bào còn gặp nhiều khó
khăn, nhất là trong mùa mưa.
Nhờ vị trí địa lý, địa hình, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và khí hậu
ôn hòa, dịu mát quanh năm mà Lâm Đồng - Đà Lạt đã sớm trở thành một
trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng của cả nước và quốc tế. Bên cạnh đó, Lâm
Đồng còn có tầm quan trọng cả về chính trị, kinh tế và an ninh - quốc phòng.
Để hình thành địa giới hành chính của một tỉnh như hiện nay, Lâm
Đồng đã trải qua một quá trình lịch sử đầy biến động, nhiều thay đổi, tách,
nhập ở từng thời kỳ khác nhau.Trước năm 1899, vùng đất Lâm Đồng ngày
nay thuộc hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Ngày 1-1-1899, Toàn quyền
Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm
hành chính: Tánh Linh, cao nguyên Lang Bian. Năm 1905, tỉnh Đồng Nai
Thượng bị bãi bỏ, vùng đất này lại trực thuộc tỉnh Bình Thuận.
8
Ngày 6-1- 1916 Toàn quyền E. Roume ký quyết định thành lập tỉnh
Lang Bian. Ngày 24- 4-1916, Hội đồng nhiếp chính vua Duy Tân ra dụ

của Việt Nam và là trung tâm chính trị, văn hóa của tỉnh.
Về dân số, theo điều tra đầu năm 1999, toàn tỉnh Lâm Đồng có
996.745 người, trong đó, dân tộc thiểu số là 233.424 người; số người theo
các tôn giáo là 591.701 người [56, tr. 1].
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế cổ truyền của các dân tộc thiểu số dựa vào thiên nhiên
và mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc. Phương thức canh tác phổ biến là
phát rẫy, chọc, tỉa. Sau vài ba năm, đất cằn cỗi, họ bỏ hoang, đi phát nương
nơi đất mới. Hình thái kinh tế chiếm đoạt gắn với săn bắn và hái lượm vẫn
có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế gia đình. Ngoài ra, các dân tộc
thiểu số ở Lâm Đồng còn có nghề dệt vải, thổ cẩm, đan lát đồ mây, tre, cói;
rèn nông cụ, vũ khí truyền thống.
Bảo tồn và phát huy truyền thống canh tác của cư dân nông nghiệp
lâu đời. Khi di cư đến Lâm Đồng, cộng đồng người Kinh tiếp tục trồng lúa
nước, thâm canh hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, rau ôn
đới, trồng hoa, dâu tằm và cây dược liệu. Đây là nguồn thu nhập chính của
cư dân người Kinh. Cùng với trồng trọt, các nghề thủ công nghiệp nhỏ (như
nghề mộc, rèn, thêu, đan); thương nghiệp - dịch vụ du lịch ở Đà Lạt và thị
xã Bảo Lộc cũng phát triển.
Sau ngày giải phóng, nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng dưới sự
lãnh đạo của Đảng đã thu được những thành tựu nhất định. Về nông
nghiệp: đã thực hiện chủ trương khôi phục các ngành sản xuất chính, như:
chè, rau, mở rộng diện tích cây lương thực, thực phẩm; tiến hành khai
10
hoang, phục hóa; các phong trào làm thủy lợi, trồng rừng, định canh, định
cư cho đồng bào dân tộc được phát động. Về công nghiệp: khôi phục các
ngành công nghiệp quan trọng như sản xuất nấm, tơ tằm, chè, cà phê
Bước sang thời kỳ đổi mới, Lâm Đồng có nhiều bước tiến đáng kể
trong phát triển kinh tế. Thời kỳ 1990 - 1995, tổng sản phẩm quốc nội

làng cũ trong rừng sâu, sống chủ yếu bằng phát rừng làm rẫy; đời sống hết
sức bấp bênh; bệnh tật, ốm đau xảy ra triền miên. Vào mùa mưa, việc đi lại
vào vùng đồng bào dân tộc rất khó.
2.1.2.2. Đặc điểm xã hội
Như một bức tranh thu nhỏ của đất nước, hiện nay, ở Lâm Đồng
cũng song song tồn tại hai thành phần dân cư - người Kinh và các dân tộc
thiểu số.
- Cộng đồng người Kinh: năm 1979, dân số người Kinh là 299.969
nhân khẩu và phân bố trong cả 7 huyện, thị của Lâm Đồng. Hiện nay, dân
số người Kinh là 762.795 nhân khẩu, phân bố ở 9 huyện, thị xã Bảo Lộc và
thành phố Đà Lạt. Cư dân người Kinh đang đóng vai trò là động lực chủ yếu
trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa trên xứ sở này.
Trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình khai thác cao nguyên,
thực dân Pháp đã đưa lên một số công nhân, viên chức người Kinh để phục
vụ cho bộ máy cai trị và lao động trong các đồn điền trồng cây công nghiệp
của tư bản. Trước năm 1945, một số nhóm lao động ở miền Bắc di dân đến
Lâm Đồng lập nghiệp, xây dựng vùng quê mới. Trong 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp, ở cả vùng kháng chiến và vùng bị tạm chiến, số
người Kinh ở Lâm Đồng tăng lên một cách đáng kể.
Đến nay, trong tổng số 135 đơn vị hành chính cơ sở của Lâm Đồng,
có 32 xã, phường toàn là người Kinh, 30 xã người Kinh sống xen cư với
các buôn dân tộc.
12
Mặc dù có cùng nguồn gốc là những cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ và
đồng bằng miền Trung, song do các điều kiện lịch sử chi phối, nên trên
thực tế, trong cộng đồng người Kinh ở Tây nguyên nói chung, ở Lâm Đồng
nói riêng lại bao gồm hai bộ phận di dân: bộ phận di dân trong các giai
đoạn của trước ngày giải phóng và bộ phận di dân sau năm 1975.
Trước ngày giải phóng, người Kinh lẻ tẻ đến sinh cơ lập nghiệp ở
Lâm Đồng từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Tới năm trước Cách mạng

quân đội, công nhân, viên chức do yêu cầu của công tác, do muốn gia đình
đoàn tụ nên đã di chuyển đến Lâm Đồng để sinh sống lâu dài. Phần đông
những người này cư trú tại các thành thị, vùng ven thị, các huyện lỵ, thị
trấn, các cơ sở kinh tế quốc doanh, các đơn vị hành chính và khu gia đình
của một số doanh trại quân đội.
Cư dân kinh tế mới được di chuyển theo con đường tổ chức của
Nhà nước thông qua chính quyền địa phương nơi dân đi và nơi dân đến. Dân
kinh tế mới tại Lâm Đồng chủ yếu là những nhóm lao động thuộc các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ (như Nam Hà, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Hòa Bình
và Thủ đô Hà Nội). Qua 12 năm (1976 - 1988), dân kinh tế mới ở Lâm
Đồng có khoảng 100.000 nhân khẩu. Họ phân bố tại 16 điểm kinh tế mới
thuộc các huyện Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên [56,
tr. 50].
Sự di cư quy mô lớn của người Kinh diễn ra từ đầu thế kỷ XX đến
nay đã đưa số lượng người Kinh vượt hẳn tổng số dân tộc bản địa, nó cũng
làm đảo lộn đời sống người bản địa. Trên lãnh thổ Lâm Đồng đang diễn ra
một cuộc chung sống chưa từng có trong lịch sử giữa người dân tộc bản địa
và người Kinh theo tình anh em, nhằm cùng nhau khai thác, xây dựng lãnh
thổ này thành một địa phương giàu mạnh, một cuộc sống hạnh phúc lâu
dài.
14
- Cộng đồng dân tộc thiểu số di cư đến
Nếu tính cả những nhóm dân tộc có số lượng vài chục người thì tại
Lâm Đồng hiện diện 7 nhóm: người Hoa, Nùng, Tày, Thái, Giáy, Mường,
Dao [54, tr. 40]. Đó là những bộ phận nhỏ thuộc các dân tộc thiểu số ở
miền núi phía Bắc di cư vào Nam và được điều động đến Lâm Đồng. Dưới
thời Ngô Đình Diệm có hơn 20.000 người. Sau 25 năm lập nghiệp trên địa
bàn này, dân số tăng lên 1/4.
Các nhóm tộc người này phân bố chủ yếu ở ven quốc lộ 20 và 21,
thuộc về những vùng kinh tế - xã hội đang phát triển. Đặc biệt ở xã Tùng

cư dân; từ đó, tạo nên sự đa dạng của văn hóa các dân tộc ở Lâm Đồng.
Đồng bào các dân tộc tỉnh Lâm Đồng có một kho tàng văn hóa dân
gian hết sức phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc và mang phong
cách chung của văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên. Bản sắc văn hóa đó
được thể hiện ở tín ngưỡng đa thần nguyên thủy. Tín ngưỡng dân gian này
chi phối khá mạnh nền văn hóa nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong kho tàng văn hóa dân gian còn chứa đựng một kho tàng văn học rất
phong phú, trong đó có tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca Nói đến văn
hóa cổ truyền của dân tộc thiểu số Lâm Đồng không thể không nói đến
nghệ thuật biểu diễn và kiến trúc trang trí. Qua nghệ thuật trang trí, kiến
trúc và biểu diễn, người dân tộc thiểu số thể hiện quan niệm sơ khai về vũ
trụ, về nhân sinh, về tín ngưỡng và lịch sử.
Ngoài ra, các dân tộc ít người ở Lâm Đồng còn lưu giữ được nhiều
hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống phản ánh quan niệm về thế
giới tự nhiên và tín ngưỡng của họ. Đó là các lễ nghi nông nghiệp, lễ hội
cồng chiêng và lễ hội đâm trâu. Văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Lâm
16
Đồng có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu, khách tham
quan du lịch. Nhưng lâu nay, không ít người đã nhìn nhận các lễ hội này là
một hành vi mê tín, dị đoan và gây lãng phí sức người sức của. Do bị chi
phối bởi những nhận thức phiến diện đó, một số nơi đã ngăn cấm các lễ
hội, làm cho cuộc sống trở nên trần trụi, đoạn tuyệt với lịch sử các dân tộc,
xâm phạm đến chủ quyền văn hóa của người dân [54, tr. 450-452].
Trình độ văn hóa của cư dân Lâm Đồng từ năm 1979 đến nay được
nâng cao rõ rệt; số người có trình độ cao đẳng, đại học cũng tăng lên
nhanh, (từ 1,52% lên 4,43%). Mặc dù vậy, vẫn cần thấy rằng số người có
trình độ cao đẳng và đại học trở lên vẫn còn thấp so với dân số. Riêng trình
độ văn hóa của người dân tộc thiểu số quá thấp so với người Kinh và vùng
nông thôn thấp hơn so với thành thị [46, tr. 104].
1.2. TÔN GIÁO TỈNH LÂM ĐỒNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN

Linh mục Dòng: 45), trong đó có 85 Linh mục hoạt động tại các xứ đạo và
42 Linh mục sinh hoạt theo cộng đoàn. Nói chung, những Linh mục được
đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn cao, không chỉ hiểu biết về thần học mà
còn am hiểu về nhiều lĩnh vực khoa học nên dễ gần gũi và thu hút được
quần chúng.
Về cơ sở vật chất, có 01 tòa giám mục, 59 nhà thờ, 20 nhà nguyện,
19 tu viện (có 12 tu viện nữ), 10 đền thánh, 10 nhà thờ họ [54, tr. 3]. Về
dòng tu, trước năm 1975, Giáo phận Đà Lạt có 32 dòng tu nam và nữ.
Trong đó có cả dòng quốc tế và dòng địa phận. Dòng tu nam là 13, dòng tu
nữ là 19 với tổng số nam, nữ tu sĩ là 1.368 người. Đến nay, cả giáo phận Đà
Lạt chỉ còn 30 dòng tu, trong đó có 15 dòng tu quốc tế. Trong 9 dòng tu
nam thì có 7 dòng tu quốc tế và 2 dòng tu địa phận, có 1 tu hội với 48 Linh
mục và 104 tu sĩ, trong đó có 15 người đã tốt nghiệp Đại chủng viện. Có
21 dòng tu nữ (12 dòng địa phận và 9 dòng quốc tế) với 471 nữ tu.
18
Hiện nay, đạo Công giáo ở Lâm Đồng có 21 hội đoàn được phân
thành 3 loại: hội đoàn hoạt động thuần túy tôn giáo, hội đoàn hoạt động từ
thiện - xã hội và hội đoàn tập hợp quần chúng rộng rãi [17, tr. 4].
Hầu hết các xứ đạo, nhà thờ Công giáo đều được chính quyền Pháp
và Ngô Đình Diệm xây dựng ở những vị trí chiến lược quan trọng, như dọc
quốc lộ 20, 27 và vành đai phía Tây, Tây Bắc Đà Lạt. Điểm đặc biệt là các
xứ đạo ở Lâm Đồng đều mang tên các xứ đạo ở quê hương của giáo dân ở
phía Bắc (Du Sinh, Thánh Mẫu, Hà Đông ). Trong thời Mỹ - Ngụy, Ngô
Đình Diệm đã đưa 30.000 giáo dân và 100 Linh mục từ các tỉnh phía Bắc
đến Lâm Đồng với mục đích làm hậu thuẫn cho chúng. Chúng đã xây dựng
đồn bốt xen lẫn với nhà thờ và tập trung giáo dân xung quanh nhà thờ;
chiếm lĩnh dọc trên các tuyến đường quan trọng như đường 20, 14, 21.
Trong giai đoạn này, Giáo hội Công giáo ở Lâm Đồng cũng ra sức thành
lập các đảng phái chính trị phản động, đồng thời hoàn chỉnh về mặt tổ chức
(như lập Hội đồng Linh mục, Hội tương tế). Mặt khác, Giáo hội cũng chủ

Để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của thanh, thiếu niên phật
tử, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đề nghị Nhà nước cho phép Gia đình
phật tử hoạt động dưới sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Vì
vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương cho phép Gia đình phật tử hoạt
động trở lại. Hiện nay, toàn tỉnh đã tổ chức ra mắt 28 Gia đình phật tử với
1.573 đoàn sinh, 189 huynh trưởng [55, tr. 3].
Với phương châm "Đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội", đa số
tăng, ni, và đồng bào phật tử yên tâm lo việc đạo, việc đời; gắn bó với cộng
đồng; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ban
trị sự tỉnh hội Phật giáo đã phát huy được vai trò trách nhiệm của mình, chỉ
20
đạo những hoạt động phật sự theo đường hướng "xây dựng nền đạo trong
nền dân tộc". Nhìn chung Giáo hội thể hiện sự thống nhất, đoàn kết, tham
gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của địa phương.
Ngoài những hoạt động đúng đắn và tích cực trên, Giáo hội Phật
giáo vẫn còn những nhược điểm nhất định. Hệ thống tổ chức và công tác
quản lý của Giáo hội thiếu chặt chẽ và đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Một số
chức sắc có những quan điểm không rõ ràng, đã để cho các huynh trưởng
Gia đình phật tử cũ tiếp tục hoạt động bất hợp pháp. Sau khi bầu Ban
hướng dẫn Gia đình Phật tử tại hồ Than Thở - Đà Lạt, nhóm cực đoan do
Nguyễn Châu, Nguyễn Hữu Thạnh cầm đầu đã sử dụng một số chùa để mở
các lớp A Dục, Huyền Trang ; in ấn hàng trăm tập giáo lý không xin phép
và phong cấp nhiều lần cho hàng trăm huynh trưởng mới.
Dưới danh nghĩa lễ nghi tôn giáo, một số chùa đã có hiện tượng xin
xăm, bói toán, biến những nơi này thành nơi cúng bái, mê tín dị đoan. Gần
đây, nhiều am, cốc, tượng phật dựng lên không xin phép; tình trạng cư trú
bất hợp pháp ngày càng tăng.
1.2.1.3. Tin lành
Năm 1932, đạo Tin lành đã truyền vào Tây Nguyên. Ở Lâm Đồng,
vợ chồng giáo sĩ Hajackson thuộc hệ phái Tin lành "Hội liên hiệp phúc âm

những năm gần đây ông ta đã móc nối với mục sư, truyền đạo trong tỉnh;
trang bị máy radio cho các mục sư, những kẻ truyền đạo là người dân tộc
để nghe giảng kinh thánh của đài Manila (Philippin) bằng tiếng Cơ Ho.
1.2.1.4. Đạo Cao đài
Tại Lâm Đồng có 4 hệ phái: Cao đài Tây Ninh, Cao đài truyền giáo
miền Trung, Cao đài Ban chỉnh đạo và Cao đài Cầu Kho. Tổng số tín đồ là
13.000. Về chức sắc có 2 Giáo sư, 2 Giáo hữu, 34 Lễ sanh sinh hoạt trong
22
15 thánh thất, điện thờ phật mẫu. Tín đồ đạo Cao đài ở Lâm Đồng không
nhiều so với các tôn giáo khác. Phần đông họ là những người dân thật thà,
chất phát, có quan hệ tốt với cách mạng. Bên cạnh đó, cũng còn một số
phần tử cực đoan, xúi giục tín đồ làm đơn đòi xóa bỏ đạo lệnh 01 của Tòa
thánh Tây Ninh, đòi lại cơ sở thờ tự. Chúng tìm cách kích động, gây chia rẽ
nội bộ Cao đài Ban chỉnh đạo [56, tr. 4-6].
1.2.1.5. Các hiện tượng tôn giáo khác
Hiện nay ở Lâm Đồng, các "hiện tượng tôn giáo mới" đang hoạt
động khá mạnh mẽ. Trong đó, đạo Thanh Hải Vô thượng sư đang phát triển
mạnh ở thị xã Bảo Lộc, đã lôi kéo 20 hộ với 40 nhân khẩu tham gia sinh
hoạt tôn giáo. Đạo này đã tán phát kinh sách và băng thu hình, tuyên truyền
cho việc ngộ đạo có thể diễn ra ngay tức thì mà không cần một thời gian
dài tu luyện; đồng thời, cũng kêu gọi tín đồ trong nước và thế giới chống
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, có 2 người đã vượt biên sang
Campuchia để thọ tâm ấn của Thanh Hải Vô thượng sư.
Bên cạnh đạo Thanh Hải Vô thượng sư còn có đạo Tâm Linh, Tổ
Tiên chính giáo, Thánh Mẫu, Ngũ tuần đang ngấm ngầm hoạt động ở Đà
Lạt, Đức Trọng, Lâm Hà. Các đạo này tuyên truyền, lôi kéo tín đồ và lén
lút nhóm họp để truyền bá đức tin, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình
an ninh trật tự và tâm lý quần chúng ở địa phương.
1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản của tôn giáo ở Lâm Đồng
1.2.2.1. Tôn giáo ở Lâm Đồng chủ yếu được hình thành từ các

1.2.2.2. Ở một mức độ nhất định, một số tôn giáo ở Lâm Đồng có
ảnh hưởng lớn đối với tôn giáo ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Lâm Đồng - Đà Lạt là vùng đất mới được khai phá, nhưng nó có
một vị trí kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng hết sức quan
trọng đối với khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Vì thế, ngay từ khi
đặt chân đến Lâm Đồng, thực dân Pháp cũng như đạo Công giáo và Tin
24
lành đã tiến hành xây dựng nhiều công trình tôn giáo, lập địa điểm "truyền
giáo thượng". Thực dân Pháp cùng với dòng Tên đạo Công giáo tiến hành
xây dựng Giáo hoàng học viện thánh Piô X, viện đại học Đà Lạt và tiểu
chủng viện Minh hòa. Đây là những trường đào tạo Linh mục, tu sĩ cho khu
vực Tây Nguyên và Đông Dương. Từ đây, các Linh mục, tu sĩ tiến hành
truyền đạo vào đồng bào dân tộc và người Kinh.
Chậm hơn nhiều so với đạo Công giáo, năm 1929, vợ chồng mục
sư H.A. Jackson đến truyền đạo ở người Cơ Ho (Di Linh) và đã thành lập
trường dạy kinh thánh. Năm 1933, đạo Tin lành mới đặt cơ sở cho việc
phát triển một cách quy mô, đã thành lập trường kinh thánh ở Đà Lạt và Di
Linh để đào tạo mục sư, truyền đạo và truyền đạo sinh cho các dân tộc ít
người ở Nam Tây Nguyên.
Gia đình phật tử ở Lâm Đồng được thành lập ngày 1-10-1948. Tuy
không phải là cái nôi của Gia đình phật tử của cả nước, nhưng hiện nay
hoạt động Gia đình phật tử do Nguyễn Châu cầm đầu đã chi phối và chỉ
đạo mạnh mẽ hoạt động Gia đình phật tử Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng
Nai, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Quảng Nam, Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế. Với
danh nghĩa là "Trưởng Ban hướng dẫn Gia đình phật tử Trung ương",
Nguyễn Châu đã tổ chức huấn luyện, xét phong cấp cho 111 huynh trưởng
cấp tín và 17 huynh trưởng cấp tấn cho các tỉnh. Đồng thời Nguyễn Châu
đã kêu gọi các Ban hướng dẫn Gia đình phật tử các tỉnh mở lớp đào tạo
huynh trưởng, chỉ đạo in ấn tài liệu, viết kiến nghị thư chống lại Thông tư
01 của Ban tôn giáo của Chính phủ và Thông bạch 455 của Hội đồng trị sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status