ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHẢP LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
1.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 22
1.2.1. Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng, phong phú 22
1.2.2. Các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc 24
1.2.3. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển 28
1.2.4. Ở Việt Nam số lượng lớn tín đồ là người dân tộc thiểu số 31
1.2.5. Các tôn giáo ở Việt Nam có mối liên hệ quốc tế rộng rãi 33
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
TÔN GIÁO HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 37
2.1. Thực trạng quản lý hoạt động tôn giáo hiện nay ở nước ta 37
2.1.1. Mục tiêu của công tác quản lý tôn giáo trong giai đoạn hiện nay 37
2.1.2. Nhà nước quản lý các hoạt động tôn giáo thông qua hệ thống pháp
luật. 66
2.2. Thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động tôn giáo 73
2.2.1. Thành tựu đạt được trong công tác quản lý hoạt động tôn giáo thời
gian vừa qua. 73
2.2.2. Một số hạn chế và nguyên nhân 78 ii
2.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tôn giáo ở
nước ta hiện nay 81
2.3.1. Dự báo diễn biến tình hình tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian tới . 81
2.3.2. Các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 82
KẾT LUẬN 90
PHỤ LỤC…………………………………………………………… … . 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
2
các vùng tôn giáo, tạo cớ quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để can thiệp, gây sức ép
về chính trị, kinh tế - xã hội đối với nước ta.
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội. Bản thân nó từ khi ra đời đã
có những tác động tới nhiều lĩnh vực xã hội bao gồm cả những tác động tích
cực và ảnh hưởng tiêu cực. Chính vì thế, quản lý và định hướng các hoạt động
tôn giáo sao cho phù hợp với pháp luật, phát huy tính tích cực và hạn chế tiêu
cực là điều hết sức cấp thiết và cần được nhà nước quan tâm. Thực tiễn lịch
sử cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nơi đâu có tôn giáo thì ở đó
có sự can thiệp điều chỉnh của nhà nước. Không quản lý nhà nước về tôn giáo
sẽ dẫn đến các tôn giáo hoạt động vô chính phủ, chèn ép, công kích lẫn nhau,
xã hội sẽ không phát triển lành mạnh vì sự lợi dụng tôn giáo để phá hoại đoàn
kết dân tộc, trật tự xã hội, an ninh quốc gia,… Do đó, quản lý nhà nước đối
với các hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia trong đó
có Việt Nam.
Hoạt động thực tiễn cho thấy một số chính quyền địa phương, cán bộ
có trách nhiệm chưa nhận thức, quán triệt đầy đủ những chủ trương, chính
sách của Nhà nước về tôn giáo từ đó dẫn đến những thiếu sót trong việc xử lý
các sự việc liên quan đến hoạt động tôn giáo.
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, công cuộc đổi mới do Đảng ta
lãnh đạo diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa,
xã hội. Trong lĩnh vực tôn giáo, quan điểm về tự do tôn giáo từ khi lập quốc
cho tới nay vẫn luôn nhất quán và ngày càng được cụ thể hóa rõ ràng hơn.
Trên thực tế, tình hình chính trị - xã hội trong và ngoài nước luôn có những
tác động đến tình hình tôn giáo trong nước. Vì thế những quan điểm của Đảng
đối với công tác quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo cũng cần phải
đổi mới và tăng cường hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. 3
giáo và công tác tôn giáo (2003);
- Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Thị Kim Thanh với Một số quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo (2009), NXB Chính trị quốc gia,…
Các công trình trên đã đề cập đến nội dung cơ bản về tôn giáo, cơ sở lý
luận cũng như thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau và là nguồn tài liệu quý để
học viên lựa chọn, tiếp thu.
Các công trình nghiên cứu về tôn giáo và công tác quản lý lĩnh vực tôn
giáo là nguồn tư liệu vô cùng hữu ích hỗ trợ cho công tác quản lý nhà nước về
tôn giáo. Song cho đến nay, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng,
Nhà nước đã có nhiều thay đổi, thực tiễn hoạt động của các tôn giáo vô cùng
phức tạp và không còn thuần túy như trước. Vì vậy, để có đường lối, chính
sách quản lý hoạt động tôn giáo đúng đắn, cụ thể hơn và cập nhật phù hợp với
tình hình thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận để
từ đó áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn quản lý tôn giáo nói riêng và
quản lý xã hội nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các
hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học xây dựng chính sách đối với tôn giáo
cũng như nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn cần giải quyết các
nhiệm vụ: 5
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo.
cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách tôn giáo phục vụ cho công tác
quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 2 chương 5 tiết. 7
NỘI DUNG
Chƣơng 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
1.1. Lý luận về quản lý nhà nƣớc và quản lý nhà nƣớc đối với các
hoạt động tôn giáo
1.1.1. Quản lý nhà nước
1.1.1.1. Quản lý:
Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu, tuy nhiên cho tới nay dưới những
góc độ nghiên cứu khác nhau, các học giả đưa ra nhiều cách hiểu không đồng
nhất về nội hàm của thuật ngữ này.
Có quan điểm cho rằng quản lý là tiến trình bao gồm các khâu: lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ
chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã định trước.
Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng lên một hệ
thống nào đó nhằm trật tự hóa nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất
định. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song thuật ngữ “quản lý” được
các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý thống nhất ở những nội dung:
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của
chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Thứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt
đầu khi mới ra đời, religion là thuật ngữ dùng để chỉ Ki tô giáo, trong ngôn
ngữ Pháp cổ, chỉ có nghĩa đen là tu viện (monastère). Tới khoảng thế kỷ XVI
khi cuộc đại phân liệt lần thứ nhất của đạo Ki tô diễn ra, cho ra đời hai nhánh
là đạo Tin Lành và Công giáo, trên các diễn đàn khoa học và thần học châu
Âu, thuật ngữ religion mới trở thành một thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn 9
giáo cùng thờ chung một Chúa. Cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư
bản, sự tiếp xúc giữa các tôn giáo thuộc nền văn minh khác Ki tô giáo, thuật
ngữ religion được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn
thế giới. Đến thế kỷ XVIII, thuật ngữ religion được dịch ra thành tôn giáo
xuất hiện ở Nhật Bản, sau tới Trung Quốc và vào Việt Nam vào cuối thế kỷ
XIX. Tuy nhiên, ở Việt Nam thuật ngữ này được đọc khác đi thành tông giáo
vì kỵ húy vua Thiệu Trị.
Như vậy, ban đầu thuật ngữ tôn giáo được sử dụng để chỉ một tôn giáo
cụ thể ở châu Âu là Ki tô giáo, nhưng trong quá trình phát triển, giao thoa
giữa các nền văn hóa, thuật ngữ này được sử dụng nhằm chỉ chung các loại
hình tôn giáo khác nhau.
Theo GS. Đặng Nghiêm Vạn, đối tượng tôn giáo là “thế giới bên kia
gồm các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp
nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực với con người,
nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Tôn giáo
được biểu hiện đa dạng tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử hay hoàn cảnh
địa lý – văn hóa khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác
nhau”[37.252]. Tôn giáo là phương tiện để giải thích thế giới của con người
sau cái chết, là sự chuẩn bị của con người cho sự sống phía sau cái chết.
Tôn giáo còn được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với
thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng và cái
trần tục.
dung
Tín ngƣỡng
Tôn giáo
Về mặt
tổ chức
Chưa hình thành tổ chức riêng
biệt; thường gắn với cá nhân và
cộng đồng làng xã
Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá
chặt chẽ với hệ thống giáo chức
từ trung ương tới cơ sở 11
Nơi thờ
tự
Nơi thờ cúng nhỏ lẻ, phân tán,
không quy mô. Chưa thành hệ
thống thần điện, còn mang tính
chất đa thần, tản mạn.
Nơi thờ cúng riêng, quy mô, có
hệ thống. Thần điện đã thành hệ
thống duới dạng đa thần hay
nhất thần giáo.
Hệ
thống
giáo lý,
giáo
luật
Chưa có hệ thống giáo lý, giáo
12
đầu tiên và trên cơ sở đó các yếu tố khác của tôn giáo như tín đồ, tổ chức tôn
giáo, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, được hình thành.
Niềm tin tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức,
thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái của chủ thể nhận thức vào một
thực thể siêu việt như Thần, Phật, Thượng đế, Niềm tin tôn giáo mang tính
thiêng liêng, cao cả. Nó được hình thành trên cơ sở tình cảm tôn giáo, những
xúc cảm, rung động, sùng kính trước các biểu tượng tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo
Tổ chức tôn giáo là là một tổ chức xã hội đặc biệt, liên kết của những
tín đồ theo một tôn giáo nhất định, trong đó một tập hợp những người có thứ
bậc nội bộ theo chức năng, ít hay nhiều dựa vào quyền uy, định ra một tập
hợp quy chế và chuẩn mực nội bộ được hợp thức hóa nhằm duy trì, phát triển
và truyền bá giáo lý, tổ chức nghi lễ, đảm bảo sự sống còn của bản thân tôn
giáo. Điều 3, khoản 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đưa ra định nghĩa: “tổ
chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống lễ nghi và tổ
chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận”.
Tổ chức tôn giáo thường bao gồm cơ cấu tổ chức (cơ quan quyền lực –
giáo quyền) từ trung ương đến cơ sở, hệ thống nơi thờ tự, tu viện, các trường
đào tạo chức sắc, cùng với hội đoàn tôn giáo và nguồn tài chính duy trì các
hoạt động tôn giáo,…
Hệ thống giáo lý
Giáo lý là hệ thống những quan niệm về thế giới, xã hội, con người; về
quyền năng tuyệt đối của lực lượng siêu nhiên cùng thái độ của con người đối
với quyền năng đó. Chính vì đặc thù này mà giáo lý các tôn giáo mang tính
triết học và xã hội. Có những tôn giáo, giáo lý của nó là học thuyết triết học
trước khi trở thành tôn giáo như Phật giáo, Nho giáo.
Công giáo gọi là giáo dân (tín hữu), Tin lành gọi là tín hữu, Hồi giáo gọi là tín
đồ,…
Hoạt động tôn giáo
Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (2004) định nghĩa: “Hoạt động
tôn giáo là việc truyền bá, thực hành các giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ
chức của tôn giáo”. Nói cách khác hoạt động tôn giáo gồm 3 mặt: truyền đạo,
hành đạo, quản đạo và một số hoạt động khác do tổ chức, cá nhân tôn giáo
thực hiện nhằm phục vụ cho hoạt động tôn giáo.
Truyền bá giáo lý, giáo luật (truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý
lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm
tin tôn giáo của các tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo được các tín đồ
thực hiện. Đối với những người chưa phải tín đồ tôn giáo, hoạt động truyền
đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Thông qua đó, các tôn giáo có thể mở
rộng ảnh hưởng và phát triển tín đồ.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn
giáo của các cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo (quản đạo) nhằm thực hiện quy
định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm
bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, hoạt động tôn giáo, chúng
ta có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với tôn giáo theo những
khía cạnh sau:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là
quá trình dùng quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước theo quy định của 15
pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình mà tôn giáo và các
giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn
khổ pháp lý, bình đẳng trước pháp luật.
Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết
dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Bởi lẽ tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
còn tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Công tác vận động quần chúng phải động viên được các đồng bào nêu
cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc, thông qua
việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo
đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng
bào các tôn giáo.
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Hiện
nay, các tôn giáo có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, phân bố ở
mọi vùng miền, địa phương trong cả nước. Vì thế, sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cấp, các ngành trong công tác quản lý tôn giáo là điều không thể bỏ qua.
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do
tham gia hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của
pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoạt động theo
pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo các chức sắc, 17
nhà tu hành, xuất bản, in ấn kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng các cơ
sở thờ tự tôn giáo của mình theo quy định của pháp luật.
Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động khác đều phải tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt
động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo.
1.1.2.3. Phương pháp quản lý các hoạt động tôn giáo
làm công cụ quản lý và xử lý các vụ việc trong thực tiễn quản lý xã hội về
tôn giáo.
Việc sử dụng phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo xuất phát từ những yêu cầu bảo vệ độc lập và chủ
quyền đất nước, đặt lợi ích của dân tộc, của xã hội lên trên hết. Cách thức tác
động của phương pháp này vào quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh thể hiện ở
các hình thức:
Một là, cho phép: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng
pháp luật quản lý về hoạt động tôn giáo điều chỉnh được phép thực hiện
những hành vi nhất định.
Hai là, bắt buộc: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều
chỉnh của pháp luật về hoạt động tôn giáo phải thực hiện những hành vi nhất
định. Chẳng hạn như, tổ chức giáo hội muốn tổ chức đại hội đồng, bắt buộc
phải làm đơn xin phép các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có thẩm
quyền.
Ba là, đăng ký và thông báo: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thực hiện
các hoạt động tôn giáo sau khi đăng ký hoặc thông báo với chính quyền các 19
cấp về nội dung hoạt động. Ví dụ: đăng ký thành lập hội đoàn, thông báo sửa
chữa cơ sở thờ tự…
Bốn là, cấm đoán: Biện pháp này thực hiện khi các cá nhân, tổ chức tôn
giáo hoạt động tôn giáo trái với pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc
lợi dụng tôn giáo vào những mục đích xấu.
Phương pháp tổ chức
Phương pháp tổ chức là phương pháp nhằm tập hợp đông đảo công dân
mà trọng tâm là các tín đồ tôn giáo vào trong các tổ chức xã hội để thực hiện
sự quản lý. Đồng thời, thông qua việc hoạt động tại các tổ chức xã hội, tín đồ
có thể nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mình đối với công cuộc xây
mục tiêu cụ thể của Nhà nước. Néi dung qu¶n lý nhµ n-íc ®èi víi ho¹t ®éng
t«n gi¸o gåm nhiÒu lÜnh vùc cô thÓ nh- sau:
+ Về công nhận các pháp nhân tôn giáo;
+ Về quá trình xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự;
+ Về chương trình hoạt động thường xuyên và đột xuất;
+ Về quá trình đào tạo chức sắc;
+ Về quá trình sản xuất, lưu thông đồ dùng việc đạo;
+ Về một số việc thuộc hành chính đạo;
+ Về các hoạt động từ thiện – xã hội;
+ Xử lý các khiếu tố, khiếu nại liên quan đến tôn giáo và vi phạm chính
sách tôn giáo; 21
+ Xét duyệt các hoạt động quốc tế và đối ngoại tôn giáo;
+ Đấu tranh chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo;
Những nội dung quản lý trên mang tính phổ quát ở mọi nơi, song từng
thời gian nội dung nào là trọng tâm, trọng điểm cần được dự báo (có kế
hoạch) để áp dụng biện pháp quản lý thích hợp, chủ động và có hiệu quả.
1.1.2.5. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa và phát huy sáng tạo trong
bối cảnh mới nhằm giải quyết các vấn đề tôn giáo hiện nay. Điều này thể hiện
trong những nguyên tắc nền tảng cho việc xây dựng đường lối, chính sách tôn
giáo, cụ thể là:
- Nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và
tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo hay
không theo đạo cũng như giữa những tôn giáo khác nhau.
- Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ