Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
Trờng đại học y Hà Nội nguyễn thị thu hờng
Nghiên cứu về phẫu thuật cắt tử cung do
Một số bệnh phụ khoa lành tính tại Bệnh viện Phụ
Sản Trung Ương năm 2008
Đề cơng luận văn thạc sỹ y học
Một số bệnh phụ khoa lành tính tại Bệnh viện Phụ
Sản Trung Ương năm 2008
đề cơng luận văn thạc sỹ y học Chuyên ngành:
Sản phụ khoa
Mã số:
Ngời hớng dẫn khoa học:
Pgs.TS. Nguyễn Đức Hinh
Hà Nội - 20091
Đặt vấn đề
viện Từ Dũ bắt đầu triển khai phẫu thuật nội soi cắt tử cung, Bệnh viện Phụ
Sản Trung ơng áp dụng cắt tử cung nội soi từ tháng 12/2004. Cho đến nay
các kỹ thuật này đ đợc thực hiện thờng quy và ngày càng hoàn thiện,
không những thế mà còn đợc triển khai tới các cơ sở y tế ở tuyến dới.
Những vấn đề chính đợc quan tâm hiện nay trong cắt tử cung do các
bệnh phụ khoa lành tính là: chỉ định cắt tử cung, cắt tử cung bán phần hay
toàn phần, cắt hay bảo tồn phần phụ, lựa chọn phơng pháp phẫu thuật phù
hợp, những khó khăn, tai biến khi tiến hành phẫu thuật cắt tử cung và cách
khắc phục.
Đ có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về từng loại kỹ thuật
riêng rẽ hoặc so sánh 2 trong 3 kỹ thuật nêu trên nhng cha có nghiên cứu
nào tổng kết cả 3 kỹ thuật này ở cùng một địa điểm, trong cùng một khoảng
thời gian. Một nghiên cứu nh vậy là cần thiết để thấy đợc một bức tranh
hoàn chỉnh về phẫu thuật cắt tử cung, nhìn nhận lại vấn đề chỉ định, lựa chọn
phơng pháp phẫu thuật, những khó khăn, tai biến khi tiến hành từng loại kỹ
thuật đặc biệt là 2 phơng pháp ít xâm lấn là cắt tử cung qua nội soi và cắt tử
cung đờng âm đạo.
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
Nghiên cứu về phẫu thuật cắt tử cung do một số bệnh phụ khoa lành tính
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ơng năm 2008 với 2 mục tiêu sau:
1. Nhận xét về chỉ định cắt tử cung và lựa chọn phơng pháp phẫu thuật.
2. Đánh giá kết quả và tai biến của từng phơng pháp cắt tử cung
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ơng năm 2008.
3
Chơng 1
Tổng quan
1.1. Một số đặc điểm giải phẫu của tử cung và phần phụ bình thờng
cùng Douglas là nơi thấp nhất của ổ phúc mạc vì vậy khi ổ bụng có dịch hoặc
máu thì ứ đọng ở đây.
5
Đáy tử cung: là bờ trên của thân TC, bờ này dầy và tròn, dọc theo bờ đáy
TC có dây chằng rộng bám. Giữa hai lá của dây chằng rộng có động mạch TC
và ống cạnh buồng trứng. Đáy TC có phúc mạc phủ liên tiếp từ mặt trớc ra
mặt sau. Đáy TC liên quan đến các quai ruột non và đại tràng sigma.
Eo tử cung: là đoạn thắt nhỏ nhất của TC, ngoài thời kỳ có thai eo TC dài
0,5 cm nằm giữa thân TC và CTC. Phía trớc có phúc mạc phủ lỏng lẻo liên
quan tới đáy và túi cùng bàng quang-tử cung và mặt sau bàng quang. Phía
sau và hai bên có liên quan giải phẫu giống phần thân TC.
Cổ tử cung: cổ dài 2,5 cm, rộng 2,5cm, CTC có ÂĐ bám vào chia làm 2
phần trong ÂĐ và trên ÂĐ. Âm đạo bám CTC theo đờng chếch lên trên và ra
sau, phía trớc bám vào 1/3 dới, phía sau bám vào 1/3 trên, tạo nên cùng đồ
ÂĐ phía sau sâu hơn cùng đồ trớc ÂĐ khoảng 2cm.
Phần trên âm đạo: mặt trớc CTC dính vào một phần mặt dới bàng
quang bởi tổ chức lỏng lẻo dễ bóc tách, lớp tổ chức này bao gồm 2 lớp: mạc
trớc CTC và mạc bao quanh niêm mạc. Mặt sau có phúc mạc che phủ, liên
quan tới túi cùng Douglas và túi này liên quan đến mặt trớc trực tràng. Hai
bên CTC gần eo TC trong đáy dây chằng rộng có động mạch TC và niệu quản.
Cách CTC 1,5 cm là chỗ bắt chéo của động mạch TC và niệu quản, đặc điểm
giải phẫu này cần chú ý trong khi cắt TC toàn phần để tránh gây tổn thơng
niệu quản. Phần trong âm đạo: cổ tử cung đợc nhìn từ dới lên trông nh
mõm cá mè, thò vào trong ÂĐ. Đỉnh mõm có lỗ ngoài CTC. Lỗ này tròn ở
ngời cha đẻ, ngời đẻ rồi thì bè ngang.
Thành ÂĐ quây xung quanh CTC tạo nên túi bịt gồm 4 phần: trớc, hai
bên và sau, trong đó túi bịt sau sâu nhất và liên quan với túi cùng Douglas.
1.1.1.3. Phơng tiện giữ tử cung
Tử cung đợc giữ tại chỗ nhờ:
* Dải cùng-mu-sinh dục bao gồm những thớ cơ xơ đi từ xơng cùng qua
trực tràng bám đến chỗ CTC và từ CTC bám vào bàng quang, xơng mu phía
trớc và mặt bên của xơng chậu. Dải cùng-mu-sinh dục tạo nên các dây
chằng.
7
* Dây chằng tử cung cùng là dải cơ trơn, mô liên kết đi từ mặt sau CTC, chạy
ra sau lên trên, đi 2 bên trực tràng đến bám vào mặt trớc xơng cùng.
* Dây chằng ngang cổ tử cung (Mackenrodt) là dải mô liên kết đi từ bờ
bên TC, chạy sang bên dới nền dây chằng rộng, trên hoành chậu hông tới
thành bên chậu hông.
1.1.1.4. Mạch máu
- Động mạch tử cung
* Đờng đi và liên quan của động mạch tử cung: động mạch TC đợc
tách ra từ động mạch hạ vị, dài 10-15cm, chạy ngang từ thành bên chậu hông
đến TC. Về liên quan động mạch TC đợc chia làm 3 đoạn:
Đoạn thành bên chậu hông: động mạch nằm áp sát mặt trong cân cơ bịt
trong có phúc mạc phủ lên và tạo nên giới han dới hố buồng trứng.
Đoạn trong nền dây chằng rộng: động mạch chạy ngang từ ngoài vào
trong nền dây chằng rộng, ở đây động mạch bắt chéo trớc niệu quản. Chỗ bắt
chéo cách cổ tử cung 1,5 cm.
Đoạn cạnh tử cung: khi chạy tới sát bờ bên CTC thì động mạch chạy
ngợc lên trên theo bờ bên TC nằm giữa 2 lá dây chằng rộng, đoạn này động
mạch chạy xoắn nh lò xo.
* Nhánh tận: khi tới sừng TC, động mạch chia ra làm 4 nhánh tận:
Nhánh cho đáy TC: cấp máu cho đáy TC.
Nhánh vòi TC trong: chạy giữa 2 lá mạc treo vòi rồi nối với nhánh vòi TC
ra ngoài của động mạch buồng trứng, cấp máu cho vòi TC và mạc treo vòi.
Nhánh buồng trứng trong: chạy theo dây chằng tử cung-buồng trứng tiếp nối
với nhánh TC ngoài của động mạch buồng trứng cấp máu cho buồng trứng.
Đáy chậu gồm tất cả các thành phần mềm: cân, cơ, dây chằng, bịt lỗ dới
của khung chậu.
9
Đáy chậu có hình trám, giới hạn phía trớc bởi xơng mu, hai bên là ụ
ngồi, phía sau là đỉnh xơng cụt.
Đờng kính lỡng ụ ngồi chia đáy chậu thành hai phần:
Phần trớc gọi là đáy chậu trớc (đáy chậu niệu sinh dục)
Phần sau gọi là đáy chậu sau (đáy chậu hậu môn) [23], [24].
1.2. Một số bệnh lý phụ khoa lành tính có chỉ định phẫu thuật
cắt tử cung
1.2.1. U xơ tử cung
U xơ tử cung là một khối u lành tính của TC, do mô cơ trơn tạo nên, tỷ lệ
gặp 20 - 30% phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ.
Số lợng có thể một hoặc nhiều nhân xơ kích thớc khác nhau thay đổi từ
bé nh hạt thóc cho đến rất to (hàng chục cm đờng kính), khối u thờng có
kích thớc dới 15cm nhng trọng lợng có thể nặng đến hàng chục kg.
Vị trí: có thể ở thân (96%), cổ (3%) hay eo tử cung (1%). U có thể ở dới
niêm mạc, trong lớp cơ hoặc dới phúc mạc
[3].
Khi u xơ còn nhỏ, thể tích TC thay đổi không nhiều thì phẫu thuật cắt TC
sẽ thuận lợi cho các kỹ thuật đặc biệt là phẫu thuật CTCĐÂĐ hoặc CTCNS,
Khi khối u phát triển nhiều hay ở vị trí eo hoặc CTC làm kích thớc của
TC và khối u tăng lên, khi thể tích khối này quá to, đặc biệt nếu kèm theo
viêm dính hoặc LNMTC sẽ làm cho kỹ thuật phẫu thuật khó khăn đặc biệt là
CTCNS hoặc CTCĐÂĐ [16].
UXTC là một bệnh phổ biến nhất có chỉ định cắt TC. Theo các nghiên
cứu tỷ lệ cắt tử cung do UXTC từ 86% đến 91,4% [27], [28].
11
ở buồng trứng. Với tỷ lệ từ 1 đến 2% dân số đây cũng là bệnh thờng gặp và
hay chẩn đoán nhầm hoặc phối hợp với UXTC (chiếm20% bệnh phẩm cắt
TC). Ngoài điều trị bằng thuốc nh progestatif hay chất đồng vận GnRH thì
cắt TC là một phơng pháp điều trị phổ biến cho bệnh lý này [4]. Các tổn
thơng LNMTC thờng gây dính rất nhiều và rất khó khăn trong phẫu thuật
tình trạng nặng có thể là chống chỉ định của phẫu thuật CTCĐÂĐ và CTCNS,
đồng thời nó cũng là nguy cơ dự báo tai biến của phẫu thuật.
1.2.6. Chảy máu sau mãn kinh
Ra máu sau mn kinh đợc định nghĩa là ra máu ÂĐ ở phụ nữ sau thời
kỳ mn kinh, khác ra máu có chu kỳ do việc sử dụng hormon thay thế liên tục.
Ra máu sau thời kỳ mn kinh thờng là dấu hiệu ra máu bất thờng chiếm
10% ở những bệnh nhân trên 55 tuổi. Ra máu sau thời kỳ mn kinh thờng là
dấu hiệu thứ phát của những tình trạng polyp niêm mạc TC, quá sản niêm mạc
TC, UXTC dới niêm mạc, ung th niêm mạc TC
1.2.7. Khối u buồng trứng ở ngời bệnh lớn tuổi, không nghĩ đến ung th.
Những trờng hợp bệnh lý này do bệnh lý kèm theo mặc dù TC thờng
không to nhng cũng gặp khó khăn hơn nếu thực hiện cắt TC và phần phụ qua
đờng ÂĐ do khối u phần phụ làm cản trở sự đi xuống âm đạo của TC. Chỉ
định phơng pháp phẫu thuật cho bệnh lý này chiếm u thế là đờng bụng khi
tuổi ngời bệnh cao thờng kèm theo bệnh lý chống chỉ định PTNS.
1.3. Các phơng pháp cắt tử cung
Hiện có 3 phơng pháp cắt TC chủ yếu là CTCĐB, CTCĐÂĐ và CTCNS.
Trong đó CTCNS chia thành 3 loại nhỏ: CTCĐÂĐ có nội soi hỗ trợ mà không
bao gồm buộc động mạch TC. Phẫu thuật CTCNS khi bao gồm cả thắt, cắt
động mạch TC qua NS. Phẫu thuật CTCNS toàn bộ khi không có thành phần
nào đợc đa qua đờng ÂĐ, vòm âm đạo đợc khâu hoàn toàn bằng NS.
12
Cắt tử cung là một phẫu thuật nhằm cắt bỏ TC ra khỏi cơ thể. phẫu thuật cắt
1.3.1.3. Thái độ xử trí phần phụ
Xử trí phần phụ trong phẫu thuật cắt TC gồm: cắt 2 phần phụ, không cắt
phần phụ hoặc cắt một phần phụ.
Trong phẫu thuật cắt TC, việc cắt bỏ hoặc bảo tồn 2 phần phụ tùy thuộc
vào tuổi của ngời bệnh và tình trạng bệnh lý của phần phụ [3].
Vấn đề để lại phần phụ hay cắt bỏ phần phụ trong phẫu thuật cắt TC đợc
nhiều thầy thuốc phụ khoa quan tâm. Theo Phan Trờng Duyệt tùy theo từng
trờng hợp chỉ định cắt TC để lại hai phần phụ hoặc cắt cả hai phần phụ. Chỉ
định cắt phần phụ nên cân nhắc thận trọng, đặc biệt đối với phụ nữ trẻ, hoặc
đang tuổi sinh đẻ [7]. Khi cắt cả hai phần phụ ở phụ nữ cha mn kinh sẽ gây
mn kinh cỡng bức dẫn đến những rối loạn về thần kinh, nội tiết, thể dịch.
Theo Raju quan điểm bảo tồn ít nhất là một phần phụ đặc biệt những
ngời bệnh còn trẻ, còn nguyện vọng sinh đẻ [72].
Tác giả Farquhar kết luận rằng cắt tử cung có liên quan đến sự xuất hiện
mn kinh sớm và cắt kèm theo một buồng trứng cũng liên quan đến biểu hiện
mn kinh sớm hơn nữa [48].
1.3.2. Các phơng pháp phẫu thuật cắt tử cung
1.3.2.1. Cắt tử cung qua nội soi:
Trờng hợp CTCNS đầu tiên trên thế giới vào năm 1989 đợc thực hiện
bởi Reich là nhà phẫu thuật phụ khoa ở Hoa Kỳ [20], [22], [73]. Đây là
phơng pháp phẫu thuật phụ khoa có nhiều u điểm, đặc biệt là có thể quan
sát kỹ về giải phẫu, dễ dàng tiếp cận quan sát ÂĐ và trực tràng, có thể cầm
máu tốt hơn giúp giảm lợng máu mất trong phẫu thuật. Ngời bệnh cũng đỡ
đau nhiều sau mổ vì tránh phải rạch rộng thành bụng, rút ngắn thời gian nằm
viện, hồi phục nhanh, đặc biệt tỷ lệ nhiễm khuẩn thành bụng rất thấp [20],
14
[29], [63], [65], [73]. Kỹ thuật CTCBP đợc đánh giá là một phẫu thuật xâm
nhập tối thiểu.
PTNS trong những thập kỷ qua đ phát triển khá mạnh ở nhiều nớc, bắt
- Kích thớc TC
- Độ di động của TC
- Tình trạng bệnh lý của phần phụ
- Có tổn thơng ác tính và tổn thơng nghi ngờ không
- Cổ tử cung có sa không
- Tính chất đi xuống âm đạo của tử cung
- Âm đạo chật hẹp hay rộng ri
+ Chống chỉ định CTCNS
- Bệnh lý không cho phép bơm hơi vào khoang phúc mạc hoặc không cho
phép thông khí tốt trong gây mê (hen phế quản, lao phổi, khí phế thũng, bệnh
tim bẩm sinh, bệnh van tim, suy tim, tăng huyết áp, thiếu máu nặng, tiểu
đờng có biến chứng, Basedow, rối loạn đông máu )
- Kích thớc TC quá to ngăn cản việc tiếp cận động mạch TC.
TC quá to, tuỳ theo kinh nghiệm của từng PTV mà không chỉ định cho các
trờng hợp UXTC to ở các mức độ khác nhau. Theo Switala không chỉ định phẫu
thuật cho những trờng hợp TC có trọng lợng trên 500g [81].
- Dính lan toả ổ bụng và tiểu khung do viêm, LNMTC, tiền sử mổ cũ
dính nhiều
- Sa các cơ quan trong tiểu khung (phải tiến hành CTCĐÂĐ).
- Ung th buồng trứng [17], [20], [73].
+ Ưu điểm của cắt tử cung qua nội soi:
Hiện nay CTCNS là phơng pháp phẫu thuật với nhiều u điểm có thể
thay thế cho phẫu thuật CTCĐB khi đủ điều kiện cho phép.
Tránh đợc đau nhiều, mất máu ít hơn.
16
Thời gian nằm viện ngắn.
Có tính thẩm mỹ vì không phải rạch rộng thành bụng nh đờng bụng.
Giảm lợng thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau sau mổ.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn thành bụng hoặc dính ruột sau mổ thấp.
- Tai biến do chọc trocar
Tai biến do chọc trocar đó là vết thơng mạch máu lớn nh: động mạch
và tĩnh mạch chủ, động mạch tĩnh mạch chậu, mạch máu mạc treo ruột, thủng
ruột, tổn thơng bàng quang.
- Tai biến trong mổ
Tai biến gây mê.
Tai biến tràn khí.
Chảy máu nhiều, tổn thơng hệ tiết niệu: bàng quang, niệu quản.
Tổn thơng hệ tiêu hóa nh thủng ruột.
- Biến chứng sau mổ
Tổn thơng hệ tiết niệu: rò bàng quang-âm đạo, rò niệu quản-âm đạo,
rò niệu quản-bàng quang-âm đạo, hẹp, đứt niệu quản.
Tổn thơng hệ tiêu hóa nh liệt ruột, thủng ruột sau mổ.
Chảy máu, tụ máu mỏm cắt ÂĐ do nhiễm khuẩn và hoại tử mỏm cắt.
Nhiễm khuẩn thành bụng.
Viêm phúc mạc hoặc nhiễm khuẩn huyết sau mổ [9], [14], [17], [73].
1.3.2.2. Phẫu thuật cắt tử cung đờng âm đạo
Phẫu thuật CTCĐÂĐ đợc mô tả đầu tiên vào những năm 120 sau công
nguyên bởi Soranus. Năm 1879, Czerny đ khôi phục lại kỹ thuật này, nhng
phải đến năm 1889, nhờ sự nỗ lực của Koeberle mới đợc chấp nhận đây là
phẫu thuật hiện đại. Sự lựa chọn giữa phẫu thuật CTCĐÂĐ hay CTCĐB còn
nhiều vấn đề cần tranh luận kể từ khi Langen Back thực hiện CTCĐÂĐ đợc
cải tiến lần đầu tiên vào năm 1813 [72].
18
Đến những năm 1880 - 1902, Doyen, Segnond, Richelot, Fauvre tiếp tục
cải tiến một số thì trong phẫu thuật này, qua nhiều lần cải tiến ngày nay
phơng pháp CTCĐÂĐ hiện đại đ đợc nhiều PTV chấp nhận và đ mang lại
kết quả tốt hơn cho ngời bệnh [27].
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong y học, đặc biệt là gây mê, các
dụng rộng ri từ năm 1999 đến nay, gần đây kỹ thuật này đ đợc thực hiện
tại các bệnh viện tuyến tỉnh.
Tuy kỹ thuật CTCĐÂĐ mới đợc triển khai trong nớc nhng cũng có
nhiều tổng kết đợc ghi nhận. Nguyễn Đình Tời và Đỗ Minh Thịnh ở
BVPSTƯ [27], Trơng Quang Vinh tại Bệnh viện Trung ơng Huế [31], và
Đoàn Thị Bích Ngọc đ tổng kết tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng [18] đều
kết luận CTCĐÂĐ là phẫu thuật an toàn, hậu phẫu ít biến chứng, chi phí ít,
đợc ngời bệnh chấp nhận.
+ Điều kiện CTCĐÂĐ
- Không có triệu chứng viêm nhiễm đờng sinh dục, nếu có phải điều trị
ổn định hết viêm nhiễm.
- Đủ sức khoẻ chịu đựng, không nên chỉ định trên ngời quá già yếu,
hoặc có bệnh lý kết hợp nặng.
- âm đạo đủ rộng (rộng hơn 2 khoát ngón tay ở vùng đỉnh).
- Kích thớc tử cung không quá lớn (dới 280g tơng ứng thai 12 tuần).
- Không có hiện tợng dính trong tiểu khung do các nguyên nhân phẫu
thuật cũ, viêm nhiễm mạn tính.
- Bệnh lý giới hạn ở tử cung hoặc cổ tử cung.
+ Chống chỉ định CTCĐÂĐ
- Kích thớc tử cung lớn hơn tử cung mang thai 12 tuần.
20
- Tử cung di động hạn chế, biết là có dính vùng tiểu khung.
- Bệnh lý của các cơ quan kế cận nh vòi tử cung, buồng trứng.
- Khoang âm đạo không đủ rộng.
- Không thể tiếp cận đợc động mạch tử cung do kích thớc tử cung
trong mối liên quan với kích thớc tiểu khung.
- Tiền sử có điều trị rò âm đạo bằng phẫu thuật.
- Ung th tử cung, ung th cổ tử cung đ xâm nhiễm.
- Không thể có t thế ngời bệnh thuận lợi cho mổ đờng âm đạo ví dụ
ngừng tim, ngừng thở, tắc mạch vành. Tử vong sau mổ thờng do chảy máu,
nhiễm khuẩn, nhồi máu phổi [58].
1.3.2.3. Phẫu thuật cắt tử cung đờng bụng
Phẫu thuật CTCĐB đợc nêu lên năm 1853 bởi Walter Burham ở Lowell.
Đến năm 1897 J.L.Fauvre thực hiện CTCBP và năm 1900 H.A.Kelly đ áp
dụng CTCBP của tử cung có nhân xơ. Sau này nhiều nhà phẫu thuật đ tiến
hành phẫu thuật CTCTP và lấy tên họ đặt cho cách phẫu thuật nh:
Phẫu thuật CTCTP của Kelly-Segnond đợc áp dụng khi phần phụ 1 bên
bị dính nhiều, phải cắt từ bên không dính hoặc dính ít trớc để dễ dàng bóc
tách bên bị dính.
Phẫu thuật CTCTP của Doyen là CTCTP từ dới lên trên bắt đầu bằng thì
cắt âm đạo, đợc áp dụng trong trờng hợp 2 phần phụ bị dính nhiều, khó
khăn khi bóc tách từ trên xuống.
Phẫu thuật CTCTP tiếp sau CTCBP áp dụng trong các trờng hợp nhân xơ
làm TC quá to mà không bóc nhân xơ đợc để giảm bớt khối lợng TC. Trong
bệnh lý ung th phụ khoa phẫu thuật CTCTP kèm hai phần phụ, mạc nối lớn và
vét hạch chậu hai bên (phẫu thuật Wertheim) [7].
CTCĐB là một kỹ thuật kinh điển mà một bác sĩ phụ khoa bình thờng ở
tuyến huyện có thể thực hiện đợc, ngoài ra nó có thể khắc phục đợc những
nhợc điểm của CTCĐÂĐ và CTCNS khi khó khăn, thất bại hoặc có chống
22
chỉ định nh TC quá to, dính nhiều ổ bụng do viêm, tiền sử mổ bụng cũ hay
LNMTC nặng hoặc có bệnh nội khoa kèm theo thì đây là đờng phẫu thuật
đợc áp dụng. Đặc biệt trong ung th phụ khoa đây vẫn là đờng mổ cha
thay thế đợc. Chiếm tỷ lệ cao nhất trong các phơng pháp CTCĐB vẫn là một
phơng pháp thông dụng có thể áp dụng rộng ri không cần yêu cầu cao về
dụng cụ trang thiết bị và trình độ PTV.
+ Ưu điểm của CTCĐB
Không cần đầu t lớn về trang thiết bị cũng nh đào tạo PTV, thuận lợi
chằng dễ gây tổn thơng.
Động tác phẫu thuật gây động chạm nhiều
- Tổn thơng tái phát: u xơ tái phát ở mỏm cắt xảy ra khi CTCBP trên tử
cung có nhân xơ mà không cắt hết nhân xơ.
Theo Dơng Thị Cơng, tỷ lệ tử vong sau mổ cắt tử cung là 1/10000,
viêm tắc tĩnh mạch 0,5%, chảy máu sau mổ 0,2%, nhiễm khuẩn tiết niệu 20%,
rò niệu đạo bàng quang hiếm gặp [3].
Ngoài các tai biến trên, theo một số tác giả, việc phẫu thuật cắt TC còn
gây ảnh hởng tới tâm lý của ngời phụ nữ và gây hiện tợng mn kinh cỡng
bức, có biểu hiện bốc hoả và suy giảm tình dục.
Đây là những biến chứng chung mà các phơng pháp cắt TC có thể gặp
ở các mức độ khác nhau.
1.4. Chỉ định cắt tử cung và lựa chọn phơng pháp phẫu thuật
cắt tử cung trong các bệnh phụ khoa lành tính.
1.4.1. Các chỉ định cắt tử cung do bệnh phụ khoa lành tính chủ yếu
U xơ tử cung
Polyp buồng tử cung
Quá sản niêm mạc tử cung
Sa sinh dục