BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thanh Sơn THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC YERSIN ĐÀ LẠT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ HẠNH NGA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
THƯ
VIỆN
CBQL, GV
Điểm trung bình của cán bộ quản lý, giảng viên
ĐTB
SV
Điểm trung bình của sinh viên
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GVCN Giảng viên chủ nhiệm
HS Học sinh
P Mức xác xuất
SD Độ lệch tiêu chuẩn
SV Sinh viên
TNCS HCM Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TS Tần số
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong trường Đại học, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sinh viên chính là nhiệm vụ học
tập, bằng các hoạt động học tập, người học tự hình thành và phát triển nhân cách của mình, không
ai có thể làm thay được, mặc dù trong quá trình học tập có sự hướng dẫn, giúp đỡ của người dạy.
Và trường Đại học có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi về quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp
đỡ… để giúp người học có thể hoàn thà
nh tốt nhất nhiệm vụ học tập.
Quy chế Công tác học sinh, sinh viên [7, tr. 2] được ban hành theo Quyết định số
42/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 13 tháng 08 năm 2007 đã xác định công tác quản lý hoạt động học
tập của học sinh, sinh viên là một trong những công tác trọng tâm ở trường đại học. Đây là công tác
hướng vào thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có năng
lực cao về chuyên môn, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, bản lĩnh chính trị vững vàng,
động này. Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động
học tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học
chuyên ngành Quản lý Giáo dục.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt, từ
đó, đề xuất một số giải phá
p góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động học tập theo
học chế tín chỉ.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý của Hiệu trưởng trường Đại học Yersin Đà Lạt.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tá
c quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt đã chú trọng
đến việc tạo điều kiện cho sinh viên hiểu rõ, nắm vững về nội quy, quy chế học tập, mục tiêu,
chương trình đào tạo của Trường.
Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động học tập vẫn còn hạn chế ở các mặt:
– Quản lý việc giáo dục mục đích, động cơ học tập cho sinh viên;
– Quản lý kế hoạch
, nội dung, phương pháp học tập của sinh viên;
– Quản lý cơ sở vật chất, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động
học tập của sinh viên.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động học tập.
5.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học
Yersin Đà Lạt.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động học
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Nhằm thu thập thông tin thông qua việc trao đổi,
xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lý, giảng viên và một số chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực
giáo dục và đào tạo.
6.2.3. Nhóm phương pháp toán thống kê
Xử lý kết quả điều tra và số liệu thu được bằng các phương pháp thống kê toán học thông qua
phần mềm SPSS for Window.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1. Về đối tượng khảo sát
Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt.
7.2. Về mặt nội dung
Đề tài tập trung làm
rõ thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học
Yersin Đà Lạt ở các mặt: quản lý hoạt động học tập trên lớp và quản lý hoạt động tự học của sinh
viên. Đề tài không đề cập đến mặt quản lý hoạt động học tập trê
n lớp của giảng viên.
8. Đóng góp của đề tài nghiên cứu
8.1. Đề tài góp phần làm sáng tỏ thực trạng hoạt động học tập và thực trạng quản lý hoạt động
học tập của sinh viên trường Đại học Yersin Đà Lạt.
8.2. Xây dựng hệ thống các giải pháp giúp công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên
trường Đại học Yersin Đà Lạt có thể đón đầu, phù hợp với quản lý hoạt động học tập the
o học chế
tín chỉ.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
Các nhà giáo dục trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về hoạt động học tập của học sinh,
sinh viên dựa trên những cơ sở thuyết tâm lý, thuyết giáo dục khác nhau. Phần lớn những nghiên
cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động học tập đối với sự phát triển tư duy cũng như
1946) [44, tr. 10] đã chỉ ra phương pháp tự học để nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn.
N.A.Rubakin đặc biệt chú trọng đến việc đọc sách. Ông khẳng định: hãy mạnh dạn tự mình đặt câu
hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời – đó chính là phương pháp tự học.
Năm 1996, hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI đã gửi UNES
CO bản
báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn” [44, tr. 10], báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề của giáo
dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách học cần phải
được dạy cho thế hệ trẻ.
Trong cuốn sách Cách mạng học tập (1999), Cordon Dryden và Jeannette Vos [44, tr. 12] đã
đề ra công thức MASTER để hướng dẫn người học phát huy năng lực học tập của bản thân (M:
Mind set for success, A: Acquire knowledge, S: Search out the meaning, T: Trigger the m
emory, E:
Exhibit, R: Reflect how to learn).
Hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng đã được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới
nghiên cứu để đưa ra những khái niệm và cơ chế của hoạt động học tập. Có thể kể ra những nhà
tâm lý học tiêu biểu nghiên cứu về lĩnh vực này như: Pavlov, Watson, Thorndike, Skiner, J. Piaget,
Ghestalt, Benjamin Bloom, X. L. Vưgốtxki, A.N. Léonchiev…
Hầu hết các nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục đều c
ho rằng: giáo dục ở thế kỷ XXI đã
có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo những con người có năng lực tự quyết
định. Trong tương lai gần, mỗi người học sẽ phải có đủ các phẩm chất: tự học (self learning), tự tổ
chức (self organizing), tự quyết định (self defining) và tự phát triển (self developing) [11, tr. 87].
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhiều nhà giáo dục đã tiến hành nghiên cứu hoạt động học tập của học sinh,
sinh
viên, trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp học tập hiệu quả, vị trí, tầm quan trọng
và cách thức tiến hành tự học đạt kết quả…
Chủ tịch Hồ Chí Minh [1, tr. 90 – 91] – tấm gương sáng ngời về tự học – đã khuyên chúng ta
“Phải biết tự động học tập”, “Lấy tự học làm cốt”, “Phải nê
u cao tác phong độc lập suy nghĩ và
62] đã chỉ rõ “… Từng bước … bảo đảm điều
kiện và định hướng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển phong
trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên. Nâng cao
năng lực tự học và thực hành cho học sinh”.
Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 15 tháng 06 năm 2007 [11] đã khẳng định
“Phải đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một
chiều, nặng lý thuyết,
ít khuyến khích tư duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự
giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học”.
Định hướng về vấn đề tự học còn được quy định tr
ong Luật giáo dục 2005 [15]: “Phương
pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện
cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực
nghiệm, ứng dụng”.
Bên cạnh vấn đề tự học còn có nhiều tác giả nói về dạy cách học và hướng dẫn phương phá
p
học tập hiệu quả như: Cuốn sách “Học và dạy cách học” do Nguyễn Cảnh Toàn [50] chủ biên;
cuốn sách “Phương pháp học tập hiệu quả” của Đỗ Linh và Lê Văn [34]; cuốn sách “Học tập cũng
cần chiến lược” của Joe Landsberger [28]; cuốn sách “Phương pháp học tập siêu tốc” của Bobbi
Deporter & Mike Hernacki [13]… Nhìn chung, các tác phẩm này đều đưa ra những cách thức,
phương pháp giúp người học đạt được hiệu quả cao khi tiến hành hoạt động học tập.
Vấn đề học tập, tự học của học
sinh, sinh viên cũng đã được một số tác giả chọn làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ:
– Về hoạt động học tập của sinh viên trong các trường Đại học, cao đẳng có các đề tài như:
“Công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh” của Đinh Ái Linh [35]; “Thực trạng quản lý học tập đối với sinh viên ngành
Tiểu học ở trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long”
của Trà Thị Quỳnh Mai [39]; “Một số biện pháp
quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên xô [29, tr. 7], 1997, quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định
của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện chương trình, mục đíc
h hoạt động.
C.Mác [31, tr.3] đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những
hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ
chế sản x
uất... Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng”.
Theo F.W. Taylor [24, tr. 12], người đưa ra học thuyết quản lý theo khoa học, thì “Quản lý là
biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất”.
H. Koontz [
24, tr. 12] thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối
hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc [55, tr. 13] khái niệm quản lý theo quan điểm hoạt
động của một tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đíc
h của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục
tiêu của tổ chức”.
Bùi Minh Hiền [24, tr. 12] định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Trần Kiểm [29, tr. 8] cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc
huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối c
ác nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài
lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu, nhằm đạt mục đích của tổ chức
với hiệu quả cao nhất”.
Từ những khái niệm
trên có thể thấy rằng thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến và được
hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhâ
n
dân, của đất nước”.
Theo Trần Kiểm [29, tr. 36], khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp
độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng
có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống. Nhưng, trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống
con, tương ứng với hệ thống c
on này có hoạt động quản lý vi mô. Sự thực, việc phân chia quản lý
vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối… Điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải xác
Chủ
thể
quản
lý
Khách
thể
quản
lý
Đối
tượng
quản
lý
Mục tiêu
quản lý
định chủ thể quản lý đang ở cấp độ nào. Từ đó mới thấy được mối tương quan trên dưới, vĩ mô và
vi mô.
Theo F.G. Panatrin [35, tr. 17] thì “Quản lý giáo dục là tác động một cách có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu
của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hòa ở thế hệ trẻ”.
Nguyễn Ngọc Quang [
Vậy, quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh,
hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường.
Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi tập trung làm rõ các mặt công tác quản lý của
trường Đại học. Trường đại học có mục tiêu là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức,
có ý thức phục vụ nhâ
n dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình
độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời đại ngày nay, trường đại học đang ngày càng phát triển nhanh và mạnh cho phù
hợp với yêu cầu của thời đại và thực tiễn phát triển của đất nước (số lượng giảng viên, sinh viên
ngày càng đông, cơ sở vật chất ngà
y càng nhiều, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục – đào
tạo ngày càng phong phú, đa dạng...), do đó, yêu cầu quản lý, lãnh đạo nhà trường ngày càng cao
và chặt chẽ nhằm làm tăng sức mạnh của các tổ chức, cá nhân trong nhà trường.
Hiệu trưởng quản lý, lãnh đạo nhà trường theo nguyên tắc tập trung trên cơ sở phát huy rộng
rãi sự tham gia dân chủ của cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên toàn trường, thực hiện sự
phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị trong trường.
Giúp việc cho Hiệu trưởng c
ó các phòng, khoa cùng thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của
nhà trường:
– Phòng Đào tạo có chức năng, nhiệm vụ sắp xếp lịch học tập (thời khóa biểu), tổ chức giảng dạy
và thi cử cho sinh viên, quản lý điểm của sinh viên, tổ chức cho sinh viên thi tốt nghiệp, bảo vệ luận
văn tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp cho sinh viê
n.
– Phòng Công tác Sinh viên có chức năng tiếp nhận thí sinh trúng tuyển nhập học, theo dõi,
đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của sinh viên; phân loại, xếp loại sinh viên cuối mỗi học kỳ hoặc
năm học, khóa học; tổ chức thi đua, khen thưởng cho tập thể và cá nhân đạt thành tích cao trong
học tập và rèn luyện; xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm quy chế, nội quy; tổ chức tư vấn học
tập, nghề nghiệp, việc
làm cho sinh viên; phối hợp với gia đình sinh viên để quản lý hoạt động học
tập, rèn luyện của sinh viên.
Hoạt động có một số đặc điểm sau:
– Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng: Đối tượng của hoạt động là cái con
người làm ra, cần chiếm lĩnh. Trong hoạt động học tập, sinh viên cần chiếm lĩnh cá
c tri thức khoa
học, biến thành vốn sống, vốn hiểu biết và phát triển nhân cách của bản thân. Vì vậy, tri thức là đối
tượng của hoạt động học tập.
– Hoạt động bao giờ cũng có tính chủ thể: Chủ thể của hoạt động chính là người thực hiện
hoạt động. Chủ thể có khi là một người, có khi là một số người. Ví dụ: giáo viên là chủ thể của
hoạt động dạy học, học sinh là chủ thể của hoạt động học tập. Tính c
hất có chủ thể hoạt động trước
hết biểu hiện trong tính tích cực của chủ thể. Trong quá trình vươn tới đối tượng hoạt động, con
người buộc phải huy động toàn bộ sức mạnh cơ bắp hoặc sức mạnh tinh thần, trí tuệ của mình,
buộc phải huy động cao độ để chiếm lĩnh nó. Tính chủ thể trước hết bao hàm tính tích cực, tính tích
cực phát triển tới đỉnh cao thành tính chủ động, say mê.
– Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: Trong hoạt động lao động, người ta dùng
công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động. Công cụ lao động giữ vai trò trung gian giữa
chủ thể và đối tượng lao động, tạo ra tính chất gián tiếp trong hoạt động lao động.
– Hoạt động ba
o giờ cũng mang tính mục đích: Trong mọi hành động của con người, tính mục
đích nổi lên rất rõ rệt. Hoạt động của con người khác xa với hành vi của động vật ở chỗ nó luôn có
ý thức và có mục đích. Mục đích của hoạt động thường tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hay
gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
1.2.3. Khái niệm về hoạt động học tập – tự học của sinh viên
Phạm Văn Đồng [
1, tr. 102] cho rằng “Ở đại học chủ yếu là học phương pháp. Nếu anh tự vũ
trang được một phương pháp vững vàng thì anh dùng nó suốt đời, vì anh phải học mãi mãi”.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [50, tr. 71] thì “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại,
trong đó, chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng c
ách thu
nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình…”.
đậm sắc thái cá nhân, biểu hiện ở tự xác định mục tiêu chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn
thành các nhiệm vụ tự học cụ thể đặt ra trong ra trong từng giờ học, buổi học; tự xác định nội dung,
nhiệm vụ, lựa chọn phương pháp tự học, sử dụng phương tiện tự học hợp lý, phù hợp với bản thân;
tự kiểm t
ra, đánh giá, tự điều chỉnh việc học của bản thân.
Trong hoạt động học tập ở bậc đại học, sinh viên không thể chỉ có năng lực nhận thức thông
thường mà cần phải tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cở sở khả năng
tư duy độc lập, sá
ng tạo phát triển mức độ cao. Dưới vai trò chủ đạo của giảng viên, sinh viên
không nắm máy móc những chân lý có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận những chân lý đó với óc
phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu, mở rộng…
Hơn nữa, trong quá trình học đại học, sinh viên còn tham gia tìm kiếm chân lý mới, đó là hoạt động
nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ thấp đến ca
o tùy theo chương trình các bộ môn.
1.2.4. Khái niệm quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Từ những khái niệm về “quản lý”, khái niệm “hoạt động học tập của sinh viên” như đã phân
tích trên đây, có thể hiểu rằng: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là quá trình tác động có
mục đích của chủ thể quản lý (cán bộ quản lý, giảng viên mà đứng đầu là Hiệu trưởng)
lên đối
tượng quản lý (người học) bằng các hoạt động cụ thể như: Thay đổi nhận thức về việc học, dạy
cách học, xây dựng tập thể lớp học, tổ chức và quản lí hoạt động học, tạo điều kiện cho việc học,
phối hợp quản lí hoạt động học… Nhằm đào tạo sinh viên thành những con người phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể khẳng định rằng, mọi hoạt động trong trường đại học đều hướng đến mục đích là tạo r
a
môi trường và điều kiện thuận lợi nhất giúp cho sinh viên học tập đạt kết quả tốt nhất. Hoạt động
học tập của sinh viên trong trường đại học có những đặc điểm
sau:
Trước hết, hoạt động học tập của sinh viên vừa là lĩnh hội những tri thức, khái niệm mới, vừa
tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi, tính tích cực sáng tạo. Tính chủ động nhận thức là sự sẵn
sàng tâm lý hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức – học tập, nó vừa là năng lực, vừa là phẩm c
hất
tự tổ chức hoạt động học tập cho phép người học tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt
động học tập của mình. Qua đó, cho phép người học học tập sự sẵn sàng tâm lý nhằm hoàn thành
những nhiệm vụ nhận thức – học tập.
Thực tế đã chứng minh những sinh viê
n có kết quả học tập tốt, có kiến thức chuyên môn vững
vàng thường là những sinh viên rất chủ động, tích cực, tự giác trong hoạt động học tập của mình.
Họ tích cực sử dụng thời gian rảnh rỗi để tìm tòi, nghiên cứu, đào sâu kiến thức chuyên môn, học
thêm những tri thức cần thiết cho tương lai hoặc họ tham gia vào các hoạt động rèn luyện nhân
cách của bản thân. Còn những sinh viên có kết quả học tập thấp thường bị động, thiếu tính tự giác,
tích cực trong hoạt động học tập, họ thường sử dụng thời gian rảnh rỗi để vui chơi, tụ tập bạn bè,
tham gia vào các hoạt động không bổ ích.
Từ đó, công tác quản lý hoạt động học tập của trường đại học cần phải tập trung tra
ng bị cho
sinh viên động cơ học tập đúng đắn, cung cấp cho sinh viên những kỹ năng, phương pháp tự học
ngay từ đầu khóa học như: kỹ năng xác định nội dung tự học hợp lý, khoa học; kỹ năng xây dựng
kế hoạch học tập phù hợp với bản thân… Chính những điều này giúp cho sinh viên tự học đạt hiệu
quả cao.
Để việc tự học có hướng dẫn đạt hiệu quả cao thì đối với nhà quản lý giáo dục phải tuân thủ
nghiêm
ngặt những điều sau đây: Một là, phải tuyển sinh cho được những người học được chương
trình đào tạo. Hai là, phải lo tạo động lực cho người học, giúp người học có sức chiến thắng các
khó khăn, nhất là ở giai đoạn ba
n đầu. Ba là, không được làm gì để cho tư tưởng ỷ lại phát sinh ở
họ, đặc biệt thi cử phải nghiêm túc để chặn đứng ở họ hi vọng được chiếu cố, được châm chước.
Bốn là, tạo được những điều kiện tối thiểu (nhất là tài liệu giáo khoa) cho người học.
Thứ ba, học ở bậc đại học, vấn đề căn bản, qua
n trọng nhất là phải tìm được phương pháp học
40, tr. 371]: “Động cơ học tập của học viên là cái mà việc học của họ
phải đạt được để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nói ngắn gọn, học viên học vì cái gì thì cái đó chính
là động cơ học tập của học viên”.
Như vậy, để có động cơ học tập, trước hết phải có đối tượng ở bên ngoài c
hủ thể, có giá trị đối
với chủ thể và làm nảy sinh ở chủ thể nhu cầu cần chiếm lĩnh nó. Khi nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng
đó được cá nhân ý thức, sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động. Động cơ
luôn gắn liền với nhu cầu, mong muốn của cá nhân, nói khác đi, nhu cầu, mong muốn chính là
những yếu tố bên trong quan trọng nhất để hình thành động cơ.
Hoạt động học tập của sinh viên có tính độc lập ca
o và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này
càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ học tập nói chung, động cơ tự
học nói riêng. Giống như động cơ hoạt động, động cơ học tập cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt
đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu phải hoà
n thành nhiệm vụ học tập, khẳng định mình, mong muốn thành
thạo nghề nghiệp tương lai… cho tới cấp độ cao là thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao tri
thức. Nguồn gốc động cơ học tập của sinh viên có thể xuất phát từ bên ngoài, tức là do yêu cầu của
nhà trường, gia đình và xã hội. Đồng thời, có thể xuất phát từ bên trong, tức là từ nhu cầu nhận
thức, nhu cầu mong muốn có ích cho xã hội, từ xu hướng, hứng thú, thế giới qua
n, niềm tin… của
sinh viên.
Do đó, công tác giáo dục mục đích, động cơ học tập cho sinh viên trong trường đại học cần
phải tập trung thực hiện một số công việc sau:
– Nâng cao nhận thức của sinh viên về mục tiêu đào tạo của từng chuyên ngành: Phổ biến và
hướng dẫn sinh viên về mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo của ngành học nga
y từ đầu khóa
học.
– Tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục mục đích, lý tưởng sống và giáo dục truyền thống
cho sinh viên.
– Tổ chức các buổi nói chuyện nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của sinh viên trong thời
– Chú trọng việc tạo ra môi trường học tập tích cực, thân thiện, giúp đỡ nhau học tập trong
sinh viên.
1.3.3. Hướng dẫn sinh viên xác định nội dung học tập phù hợp
Nội dung học tập là cái mà người học tác động vào nó, phải tiếp nhận và làm việc với nó
trong quá trình học tập. Ở mức độ chung nhất, nội dung học tập là toàn bộ kinh nghiệm của xã hội
đã được sáng tạo và tích lũy từ trước tới thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, không thể chuyển toàn bộ
và nguyên xi khối kinh nghiệm xã hội đã c
ó vào nội dung học tập mà phải chọn lọc trong đó những
yếu tố cốt lõi và xác lập logic sư phạm, chuyển hóa chúng thành nội dung học tập trong mỗi quá
trình dạy học cụ thể.
Nội dung học tập cần trang bị cho thế hệ trẻ được cấu trúc thành 03 loại học vấn sau đây:
– Học vấn phổ thông là những tri thức khoa học phổ biến về tự nhiê
n, xã hội và tư duy; tri
thức về phương pháp tiếp cận chúng. Những tri thức này tạo cơ sở khoa học hình thành thế giới
quan và những phẩm chất nhân cách của người học; giúp người học cơ sở cần thiết để tham gia
hoạt động lao động xã hội hoặc tiếp thu học vấn nghề nghiệp.
– Học vấn kỹ thuật tổng hợp là những tri thức cơ bản về nguyê
n tắc của mọi quá trình sản
xuất và kỹ năng sử dụng các công cụ sản xuất phổ thông.
– Học vấn nghề bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trong một lĩnh vực lao
động chuyên nghiệp.
Đối với sinh viên, những kiến thức được giảng viên giảng dạy trên lớp rất ít mà chỉ m
ang tính
chất hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, do đó, sinh viên phải tự học, tự tìm tòi, đọc thêm sách, tài liệu
tham khảo để tăng cường kiến thức.
Để có thể quản lý được nội dung học tập của sinh viên, hướng cho nội dung học tập phù hợp
với mục tiêu, yêu cầu đào tạo; mục tiêu, yêu cầu môn học, nhà trường phải tổ chức các lớp học,
buổi hội thảo hướng dẫn sinh viê
n cách xác định nội dung học tập hợp lý, khoa học, có tác dụng bổ
trợ cho ngành nghề chuyên môn. Trong đó tập trung vào hai phần cơ bản, đó là:
o gồm:
– Hướng dẫn tri thức về phương pháp học tập: Hướng dẫn người học nắm vững các phương
pháp học tập ở bậc đại học và vận dụng sáng tạo từng phương pháp vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể
và phù hợp với từng sinh viên.
– Hướng dẫn các thao tác học tập như: nghe giảng bài; đọc giáo trình, tài liệu; ghi chép bài
giảng; trao đổi; làm việc theo nhóm
…
Việc hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên được thực hiện bằng cách tổ chức các lớp
học, các buổi hội thảo chuyên đề về hướng dẫn phương pháp học tập ở bậc đại học cho sinh viên
ngay từ khi mới vào trường, hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, phương pháp làm việc theo
nhóm, phương pháp nghe giảng bài, phương pháp ghi chép bài giảng của giảng viên…
1.3.5. Hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch học tập
Kế hoạch
học tập là bảng phân chia nội dung học tập theo thời gian một cách hợp lý, khoa học
dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ học tập và khả năng của bản thân sinh viên nhằm đạt được các mục tiêu
đào tạo hoặc các mục tiêu của môn học.
Việc xây dựng một kế hoạch học tập đối với sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định
sự thành công hay thất bại của việc học. Xây dựng được một kế hoạch học tập hợp lý, khoa học sẽ
góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.
Kỹ năng xây dựng kế hoạch học tập bao gồm các giai đoạn như sau:
– Liệt kê và ghi ra những công việc cần làm
,
– Tự xây dựng kế hoạch học tập theo từng tuần, tháng, học kỳ, năm học,
– Sắp xếp, phân phối thời gian hợp lý cho những nhiệm vụ học tập, ưu tiên cho những nhiệm
vụ quan trọng,
– Xác định thời gian phải hoàn thành công việc,
– Tự kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và rút kinh nghiệm.
Do đó, trường đại học cần hướng dẫn sinh viê
n xây dựng kế hoạch học tập bằng cách tổ chức
hướng dẫn sinh viên cách lập kế hoạch học tập phù hợp với năng lực của bản thân, cách sắp xếp