đề cương ôn thi môn nhà nước và pháp luật cho học viên trung cấp chính trị - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Trình độ trung cấp chính trị
Câu 1: Phân tích khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của Hệ thống chính trị Việt Nam.
I. Khái niệm hệ thống chính trị và đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam.
1.Khái niệm HTCT: Có nhiều quan điểm khác nhau về Hệ thống chính trị:
- Theo quan điểm tuyệt đối hóa vai trò kinh tế thì Hệ thống chính trị là một chỉnh thể gồm các tổ chức
thể hiện bản chất, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền.
- Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý
nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó. Hệ thống này bao gồm Nhà nước, các Chính đảng, các Nghiệp
đoàn và các tổ chức chính trị khác - trong đó Nhà nước là yếu tố cơ bản, trung tâm.
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực
chính trị trong xã hội.
- Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị
- xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư
tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó…
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực
chính trị trong xã hội. Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được
chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó.
- Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm nhà nước, các đảng
chính trị, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau nhằm tác
động vào mọi mặt của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với
lợi ích của chủ thể cầm quyền.
- Trên quan điểm hệ thống cấu trúc như trên có thể xem Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức
chính trị xã hội hợp pháp bao gồm cả các tổ chức do giai cấp cầm quyền lập nên và các tổ chức do giai cấp
khác lập nên theo quy định của pháp luật. Các Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị hợp pháp cùng quan
hệ qua lại trong sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó để chi phối quá trình kinh tế xã hội nhằm bảo vệ, duy
trì và phát triển chế độ xã hội đương thời, bảo đảm quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền xã hội.
- Hệ thống chính trị Việt Nam là tổng thể các thể chế chính trị bao gồm Đảng CSVN, NN CHXHCN
VN, Mặt trận TQVN, 5 đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Mình, Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt

+ Sự thống nhất ở nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là tập trung dân chủ.
+ Sự thống nhất của hệ thống tổ chức ở từng cấp, từ Trung ương đến địa phương, với các bộ phận hợp
thành.
- Tính rộng khắp: HTCT VN được điều hành và tổ chức hoạt động thông suốt trên khắp 63 tỉnh thành
phố.
- Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân
Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị ở Việt Nam. Đặc điểm này khẳng định hệ thống
chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống
chính trị, có các tồ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội
(như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác). Do vậy, hệ thống chính trị không đứng trên xã
hội, tách khỏi xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ
phận của xã hội, gắn bó với xã hội. Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị với xã hội chính là Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện trên các yếu tố:
+ Đây là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền.
+ Nhà nước là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
+ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp
nhân dân.
+ Hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân. Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là
phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
- Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị
+ Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp,
tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống
chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Do vậy, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản
chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc.
+ Lịch sử nền chính trị Việt Nam là cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền và bắt đầu từ mục tiêu
giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Các giai cấp, dân tộc đoàn kết trong đấu tranh giành và bảo vệ
nền độc lập dân tộc, hợp tác để cùng phát triển. Sự tồn tại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là thành
viên quan trọng của hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng tăng cường sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc.
+ Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trong bản chất của từng tổ chức thuộc

bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính
trị - xã hội.
Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động
quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ
b. Nhà nước:
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của
nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã
hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của
giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy
đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ
chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có
quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về
đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp.
Chủ tịch nước là Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam về đối nội và đối ngoại. (Điều 101 Hiến pháp 1992)
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước
Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp.
Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ quan được lập ra
trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi
pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác.
Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án

nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 5 tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội
Cựu chiến binh Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và
bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ
cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể
hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với
cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát
huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi
ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững
và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá
trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Cơ sở phân cấp
theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thị trấn. Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng,
Hội đồng Nhân dân xã, phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường và các tổ chức
chính trị-xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến
binh xã, phường, thị trấn… Tất cả các tổ chức trên đều có vị trí, vai trò và nhiệm vụ được quy định trong Luật
Tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta.
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân

4
Câu 2: Trình bày các đặc trưng, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCNVN. Nêu phương
hướng đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta?
1. Khái niệm theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI:Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng

công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Tại Hiến pháp 1992 xác định rõ: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; Chủ tịch nước là người
đứng đầu Nhà nước; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất;Toà án nhân dân tối cao là cơ quan
xét xử cao nhất; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan cùng với Tòa án nhân dân thực hành quyền tư pháp. Như
vậy điều hiển nhiên là mỗi một cơ quan nêu trên đều có chức năng riêng, quyền hạn riêng và có mối quan hệ
lẫn nhau.
Tuy nhiên cần thấy rằng, hoạt động lập hiến, lập pháp chi phối mạnh, trực tiếp tới hoạt động hành pháp
và tư pháp, vì vậy Quốc hội luôn ở một vị trí quan trọng đặc biệt. Qua nghiên cứu các quy định của Hiến pháp
1992 và các Luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở nước ta, đều nhận thấy sự phân công,
phân nhiệm về quyền hạn, nhiệm vụ chức năng giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được xác định.
Sự xác định này cũng chưa giải quyết được căn bản những nhu cầu của việc xây dựng một bộ máy chính quyền
thật sự có hiệu quả, đáp ứng các đòi hỏi của đất nước.
Dù sao trong một mức độ nào đó, sự phân công giữa các chế định quyền lực tối cao trong việc thực
hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được thực hiện. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và lập pháp.
Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án thực hiện quyền tư pháp. Sự phân công quyền lực nhà nước
giữa các cơ quan của Nhà nước trong hiện nay ở nước ta không mang tính tuyệt đối. Bởi lẽ Quốc hội ngay bên
cạnh hoạt động lập pháp còn thực hiện một số nhiệm vụ hành pháp, Chính phủ bên cạnh hoạt động hành pháp
còn tham gia tích cực vào nhiệm vụ lập pháp của Quốc hội (xây dựng các dự án Luật). Tòa án bên canh nhiệm
vụ xét xử cũng còn tham gia vào hoạt động lập pháp Giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các quyền này. Hiến pháp đã quy định cho Quốc
hội là cơ quan có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước nhưng chưa có những
5
quy định về việc kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các nhánh quyền lực nhà
nước. Lần đầu tiên tại Đại hội lần thứ XI của Đảng mới đưa ra vấn đề kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà
nước gữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
c. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường
pháp chế XHCN.
Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp
chế ”. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật là nguyên tắc có tính hiến định xác lập các cơ
sở chủ yếu điều chỉnh các quan hệ cơ bản trong xã hội giữa công dân với công dân, giữa công dân với Nhà

phải quy định rõ chế độ trách nhiệm và các hình thức xử lý nghiêm đối với cán bọ, công chức, viên chức có
nhũng hành vi về qun liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và xử lý nghiêm minh những hành vị này
không kể người đó là ai, giữ chức vụ cao hay thấp. Có như vậy mới xây dựng được bộ máy nhà nước trong sạch
vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả.
đ. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công,
phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước. Nguyên tắc này pháp huy được trí tuệ tập thể trong chỉ đạo điều hành công việc của các cơ quan nhà
nước, tránh được việc các cá nhân lạm quyền gây nên tác hại xấu. Trong hoạt động của bộ máy nhà nước cần
có sự phân công phân cấp một cách hợp lý rõ ràng giữa các cấp các ngành bên cạnh đó gắn với chế độ chịu
trách nhiệm cho cá nhân tổ chức đã được phân cấp. Tuy nhiên sự phân cấp cần phải có sự chỉ đạo thống nhất
của Trung ương, sự kiểm tra giám sát chặt chẽ của Trung ương, tránh tình trạng phân công, phân cấp rồi buông
lỏng dẫn đến tự do vô tổ chức, bản vị, cục bộ địa phương, ngành xâm hại đến lợi ích chung của đất nước, của
nhân dân. Có thể nói trên đây là những quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN được
thể hiện trong Đại hội XI của Đảng là cơ sở để nhà nước ta hoàn thiện các thể chế để xây dựng nhà nước trong
thời gian tới, trước hết là cơ sở cho việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 sắp tới./.
3. Các yêu cầu với việc xây dựng NNPQ XHCNVN
6
- Bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN: Bảo đảm NN thực sự của dân, do dân và vì dân. Cơ cấu tổ
chức và cơ chế hoạt động của NN phải bảo đảm tất cả quyền lực.
- Xây dựng NN có đủ năng lực kinh tế, quản lý xã hội hiệu quả, phát huy đươck tiềm năng của dân tộc,
tiếp thu hợp lý những thành tựu KHKT, công nghệ mới của thế giới và tinh hoa văn hóa của nhân loại.
- Xây dựng NN có bộ máy tinh gọn, cơ cấu hợp lý, có quy chế làm việc khoa học, bảo đảm việc kiểm
tra, giám sát và điều hành được hoạt động của XH, cũng như hđ của bản thân bộ máy NN.
- Xây dựng NN thực hiện đảm bảo bằng pháp luật: Hoạt động trên cơ sở pl, thực hiện quản lý XH bằng
pháp luật. Giữ vững kỷ cương NN và trật tự XH, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc thành quả
cách mạng.
- Xây dựng NN có đội ngũ cán bộ trong sạch, có trách nhiệm với dân, có bản lĩnh chính trị, đảm bảo yêu
cầu quản lý. Đồng thời loại trừ đi những bệnh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, vi phạm quyền làm
chủ của nhân dân.

các chức năng kinh tế cũng như xã hội và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, với
các tổ chức; qua đó bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của Nhà nước, bảo đảm phục vụ lợi ích
nhân dân, bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như thực hiện tốt các cam kết quốc tế.
Nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với điều kiện nước ta hiện tại cần phải sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp 1992 cho phù hợp với tình hình mới.
Hai là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Qua nhiều kỳ đại hội Đảng và nhiều hội nghị trung ương, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
ngày càng rõ về lý luận và thực tiễn. Từ đó tổ chức và hoạt động của cả bộ máy nhà nước nói chung, từng hệ
thống cơ quan nhà nước nói riêng đã từng bước được kiện toàn, đổi mới phù hợp hơn, hoạt động hướng tới hiệu
lực, hiệu quả cao hơn, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém. Vì vậy, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của
bộ máy nhà nước ta là điều hết sức cần thiết.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng xác định rõ hướng đổi mới trong tổ chức và hoạt động của tất
cả các hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước:
7
Đối với Quốc hội, hoàn thiện cơ chế bầu cử để bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu của nhân
dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, hướng tới hoạt động có hiệu quả, nhất là nâng cao chất
lượng công tác xây dựng pháp luật và thực hiện tốt chức năng giám sát của Quốc hội, bảo đảm đúng quy định
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân cả nước, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan
duy nhất thực hiện quyền lập pháp và thực hiện chức năng giám sát tối cao của Nhà nước.
Đối với chế định Chủ tịch nước cần xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm thể hiện vai trò nguyên
thủ quốc gia cũng như mối quan hệ của Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp.
Đối với Chính phủ hướng đến xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh,
được tổ chưc tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt là sắp xếp các cơ quan hành chính nhà nước
theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, đồng thời đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhà nước, nhất là
cải cách thủ tục hành chính hướng đến một nền hành chính gọn nhẹ, tiện lợi, phù hợp với cơ chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đối với các cơ quan tư pháp bảo đảm sự trong sạch, tính vững mạnh, hướng đến bảo vệ công lý, tôn
trọng và bảo vệ quyền con người ngày càng được đầy đủ. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, lấy hoạt động xét xử của
toà án làm trọng tâm, coi trọng đổi mới và kiện toàn các tổ chức bổ trợ tư pháp; gắn nâng cao trình độ chuyên

ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”.
Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 quy định “Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp
trên”.
b. Vai trò.
Như vậy, với vị trí pháp lý mà Hiến pháp quy định thì HĐND phải thực hiện hai vai trò. Vai trò thứ nhất
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương) và vai trò thứ
hai là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Hai vai trò này không độc lập
tuyệt đối mà có sự đan xen thể hiện qua hai chức năng của HĐND
c. Chức năng:
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa
phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả
nước.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của
Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.
Tại Điều 120 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và
pháp luật ở địa phương;…”.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND thì HĐND không chỉ chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương mà còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên (trong đó có
cơ quan hành chính cấp trên).
Như vậy, HĐND có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, tuy nhiên các
quyết định đó là để đề ra các biện pháp triển khai thực hiện pháp luật, bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Hiến
pháp và pháp luật ở địa phương và phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan Nhà nước cấp trên về việc triển
khai thực hiện pháp luật. Mặc dù không có văn bản nào xác định rõ nhưng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và

2. Bản chất pháp luật XHCN
1. Pháp luật XHCN mang tính nhân dân sâu sắc.
- Nội dung của nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nông dân, tầng lớp trí thức và những người
lao động khác chiếm tuyệt đại đa số trong bộ phận dân cư trong xã hội. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với
kiểu pháp luật bóc lột- kiểu pháp luật chỉ phản ánh ý chí của giai cấp thống trị chiếm thiểu số dân cư.
- Pháp luật XHCN đưa người dân lao động từ thân phận tôi đòi, làm thuê, lệ thuộc trong xã hội cũ trở
thành những chủ nhân chân chính của xã hội mới, ghi nhận chủ quyền nhân dân, quy định một cách rộng rãi các
quyền tự do dân chủ cho công dân, tạo ra sự đảm bảo cho sự thực hiện quyền đó.
2. Pháp luật XHCN khẳng định đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng, khuyến khích
các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vào trong nước.
3. Pháp luật XHCN tuy mang tính cưỡng chế nhưng tính cưỡng chế đó đã chứa đựng những nội dung
mới, khác với các kiểu pháp luật bóc lột.
- Trong pháp luật XHCN cũng có những quy định bắt buộc, cấm đoán, dự liệu những biện pháp cưỡng
chế song do nội dung của pháp luật XHCN phù hợp với lợi ích, nhu cầu của đại đa số nhân dân nên nhìn chung
nó được thực hiện một cách tự giác.
- Về căn bản cưỡng chế được đặt ra đối với người vi phạm pháp luật và nó được tiến hành trong sự kết
hợp chặt chẽ với giáo dục, thuyết phục, trên cơ sở giáo dục thuyết phục.
4. Pháp luật XHCN có phạm vi điều chỉnh rộng. Không những nó quy định những vấn đề như tổ chức
quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà còn điều chỉnh cả lĩnh vực trực tiếp tổ chức,
quản lý lao động như: định mức lao động, thống kê, kiểm tra
5. Pháp luật XHCN liên hệ mật thiết với các quy phạm xã hội khác, đặc biệt là các quy tắc đạo đức, tập
quán và các quy phạm của các tổ chức xã hội.
- Các tư tưởng và các quy tắc đạo đức tiến bộ luôn là cơ sở cho pháp luật XHCN . Đến lượt mình, pháp
luật lại củng cố và truyền bá các giá trị đạo đức đó. Giữa pháp luật XHCN và các tư tưởng, quy tắc đạo đức có
điều gì mâu thuẫn thì điều đó phải được giải quyết trên cơ sở đạo đức.
- Pháp luật XHCN bảo vệ những tập quán truyền thống tiến bộ. Mặt khác, nó cũng ngăn cản, hạn chế và
loại trừ những tập tục lạc hậu ( như tảo hôn, đa thê )
- Pháp luật có quan hệ mật thiết với các quy phạm của các tổ chức xã hội nhất là Nghị quyết, điều lệ của
Đảng cộng sản. Đường lối chính sách của Đảng là một trong những cơ sở của pháp luật. Mặt khác, pháp luật

quyền lực của nhà nước.
Thực tiễn đã chỉ ra rằng khi chưa có một hệ thống pháp luật về tổ chức đầy đủ và đồng bộ, phù hợp làm cơ sở
cho việc củng cố và hoàn thệin bộ máy nhà nươc thì dễ dẫn đến tình trang trùng lặp, chồng chéo, thực hiện
không đúng chức năng, thẩm quyền của một số cơ quan nhà nước, bộ máy nhà nước sẽ cồng kềnh hoạt động
kém hiệu quả.Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên
tắc và quy định của pháp luật.
- Thứ hai, Đối với Đảng cộng sản Việt Nam:
+ Pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng làm cho đường lối đó có hiệu
lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội.
+ Pháp luật cũng là phương tiện để Đảng kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của
mình đối với xã hội. Ví dụ: Thông qua đường lối mở cửa của Đại hội VI chúng ta thấy chủ trương trên là đúng
đắn đã thúc đẩy kinh tế phát triển đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế.
- Thứ ba, Đối với các tổ chức chính trị - xã hội: Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để bảo đảm cho các tổ
chức này tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội.Ví dụ: Trong phiên họp của Chính phủ khi bàn vế
các vấn đề liên quan thì phải mời các tổ chức có liên quant ham gia.
d. Vai trò của pháp luật đối với đạo đức: Pháp luật sẽ là cơ sở để bảo vệ và bảo đảm cho đạo đức xã hội
chủ nghiã phát triển, củng cố các chuẩn mực luân lý tiến bộ, sự công bằng xã hội.
đ. Vai trò của pháp luật đối với tư tưởng: Pháp luật làm cho tư tưởng của con người trong xã hội được
thống nhất hơn.
e. Pháp luật với quá trình hội nhập quốc tế.
Pháp luật góp phần tạo dựng các quan hệ xã hội mới, tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các
mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.
Mối quan hệ giữa PL và PC:
- PL và Pc là 2 hiện tượng pháp lý khác nhau, độc lập tưong đối với nhau, nhưng có mối liên hệ phổ
biến mật thiết với nhau, tác động qua lại.
- PL là cơ sở của PC, nhưng có PL chưa hẳn đã có PC vì PL đã có hiệu lực thi hành nhưng mọi người
không thực hiện nghiêm chỉnh thì sẽ ko có PC.
- Ngược lại có PL nhưng PL ấy ko đồng bộ, ko kịp thời, ko phản ánh đc ĐK khách quan của những ĐK
KT-XH ko thể hiện đc ý chí, nguyện vọng của ND thì PC sẽ ko đc chấp nhận.
- PL chỉ có hiệu lực thực sự khi dựa trên cơ sở vững chắc của PC.

bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động để điều chỉnh các quan hệ XH theo định hướng nhất định.
2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật là cơ cấu bên trong, là các bộ phận hợp thành của quy phạm
pháp luật.
Trong khoa học pháp lý có hai quan điểm về cấu trúc của quy phạm pháp luật.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: quy phạm pháp luật bao gồm ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài.
Quan điểm thứ hai cho rằng bất kỳ quy phạm pháp luật nào cũng chỉ gồm hai bộ phận: những điều kiện
tác động của quy phạm pháp luật và hậu quả pháp lý. Hậu quả pháp lý có thể là phần quy định và cũng có thể là
phần chế tài.
Phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm thứ nhất.
a. Giả định: Là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có
thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác
động của quy phạm pháp luật đó.
- Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể nào ở vào những điều kiện, hoàn cảnh
đó.
Ví dụ: “người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm về an toàn giao thông
đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gật thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì
bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6
tháng đến 5 năm” (khoản 1, Điều 202 Bộ luật hình sự 1999), bộ phận giả định của quy phạm là: “người nào
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính
mạng hoặc gật thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”.
Trường hợp khác, “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con
chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của
vợ chồng” (khoản 1, Điều 63 Luật hôn nhân gia đình 2000), bộ phận giả định của quy phạm là: “con sinh ra
trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó; con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và
được cha mẹ thừa nhận ”.
Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân nào? Khi nào? Trong
những hoàn cảnh, điều kiện nào?
- Giả định của quy phạm pháp luật có thể giản đơn (chỉ nêu một hoàn cảnh, điều kiện), ví dụ: “Người
có quốc tịch Việt Nam là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là công dân Việt
Nam)” (khoản 1, Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998); hoặc có thể phức tạp (nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều

- Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Hậu quả sẽ như thế nào nếu vi phạm pháp
luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
- Các biện pháp tác động mà nhà nước nêu ra trong chế tài pháp luật rất đa dạng, đó có thể là:
+ Thứ nhất, những biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tới trách nhiệm
pháp lý. Loại chế tài này gồm có:
Chế tài hình sự: Áp dụng các hình phạt (tù có thời hạn, tử hình,…)
Chế tài hành chính: Phạt vi phạm (tước giấy phép lái xe, phạt tiền, )
Chế tài dân sự: Phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại,…
Chế tài kỷ luật: khiển trách, buộc thôi việc,…
+ Thứ hai, chế tài có thể chỉ là những biện pháp chỉ gây ra cho chủ thể những hậu quả bất lợi như đình
chỉ, bãi bỏ các văn bản sai trái của cơ quan cấp dưới, tuyên bố hợp đồng vô hiệu và các biện pháp khác (tuyên
bố hợp đồng mua bán đất vô hiệu buộc các bên phải trả cho nhau tình trạng ban đầu, tuyên bố văn bản dưới luật
trái với luật,…)
- Chế tài quy phạm pháp luật có thể là cố định hoặc không cố định.
+ Chế tài cố định là chế tài quy định chính xác, cụ thể biện pháp tác động cần phải áp dụng đối với chủ
thể vi phạm quy phạm pháp luật đó.
+ Chế tài không cố định là chế tài không quy định các biện pháp tác động một cách dứt khoát hoặc chỉ
quy định mức thấp nhất và mức cao nhất của biện pháp tác động.
Ví dụ: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật
từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải
tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm” (khoản 1, Điều 106 Bộ luật hình sự 1999).
Việc áp dụng biện pháp nào? mức độ bao nhiêu là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng lựa
chọn cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của vụ việc cần áp dụng.
- Cần phải nói thêm rằng, ngoài những biện pháp tác động gây hậu quả bất lợi cho chủ thể, nhà nước xã
hội chủ nghĩa còn dự kiến cả các biện pháp tác động khác mang tính khuyến khích để các chủ thể tự giác thực
hiện pháp luật (biện pháp khen thưởng cho chủ thể có thành tích trong việc thực hiện pháp luật).
Ví dụ: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, người tố cáo có
công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng theo quy định của
pháp luật ” (Điều 95 Luật khiếu nại tố cáo 1998), biện pháp tác động ở đây là: “thì được khen thưởng theo quy
định của pháp luật ”.

Có hiệu lực pháp lý thấp hơn văn bản của Chủ tịch nước.
5. Thủ tướng Chính phủ: + Quyết định
+ Chỉ thị
Sử dụng quá trình điều hành Chính phủ.
6. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ: + Quyết định
+ Chỉ thị
+ Thông tư
Giới hạn trong phạm vi của 1 bộ, hoặc cùng các bộ, ban ngành, tổ chức xã hôi cùng thực hiện một vấn
đề chung.
7. Hội đồng thẩm phán TANDTC: + Nghị quyết
8. Viện trưởng VKSNDTC: + Quyết định
+ Chỉ thị
+ Thông tư
9. HĐND: + Nghị quyết.
10. UBND: + Quyết định
+ Chỉ thị
Hệ thống VBQPPL ở Việt Nam theo Hiến pháp 1992 và luật ban hành VBQPPL bao gồm:
- Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, Nghị quyết.
- Văn bản do UBTVQH ban hành: Pháp lệnh, Nghị quyết.
- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thi hành VBQPPL của Quốc hội và
UBTVQH:
+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
+ Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
+ Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
+Nghị quyết, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng VKSNDTC.
+ Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị- xã hội.
- Văn bản do HĐND, UBND để thi hành VBQPPL của Quốc hội, UBTVQH và văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên. Văn bản do UBND ban hành còn để thi hàng Nghị quyết của HĐND cùng cấp.

xử lý theo pháp luật.
1. Khái niệm pháp chế XHCN: Pháp chế XHCN là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội,
trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức
xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi vi phạm
pháp luật đều bị xử lý theo các quy định của pháp luật.
Nội dung của pháp chế XHCN:
- Pháp chế XHCN là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
- Pháp chế XHCN là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội.
- Pháp chế XHCN là nguyên tắc trong xử sự của công dân.
Ý nghĩa của pháp chế: pháp chế là điều kiện cơ bản để phát huy dân chủ.
2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp chế XHCN
- Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật.
- Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc.
- Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật phải
hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả.
- Nguyên tắc phải chịu trách nhiệm pháp lý bắt buộc khi vi phạm pháp luật (theo 4 loại vi phạm: Hình
sự, Hành chính, dân sự và vi phạm kỷ luật)
- Không tách rời pháp chế với văn hóa và văn hóa pháp lý.
3. Các biện pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
a. Ý nghĩa :
Tăng cường pháp chế XHCN trong cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay là nhằm thực hiện những mục tiêu của
công cuộc đổi mới về phát triển kinh tế, dân chủ hóa đời sống xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền, của dân,
do dân và vì dân, bảo đảm xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Cho
nên việc tăng cường nền pháp chế trong công cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện nay là nhiệm vụ vừa cấp bách,
vừa lâu dài. Tăng cường pháp chế XHCN là vấn đề mang ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt.
- Đối với nhân dân : tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện, biện pháp bảo đảm quyền dân
chủ của nhân dân, bởi vì các quyền dân chủ của công dân chỉ có thể được pháp luật quy định và được pháp luật
bảo vệ.
- Đối với nhà nước : nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, hiệu lực quản lý nhà nước được thể hiện
ở chổ pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất trong toàn xã hội

chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ. Trong số các văn bản hiện hành có nhiều văn bản chồng chéo với nhau
hoặc đã lỗi thời. Công tác tập hợp hoá và pháp điểm hoá pháp luật tiến hành còn chậm.
Nghị quyết Đại hội XI đã nhấn mạnh rằng: “Xây dựng đồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực
hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật,….đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp, đổi mới tư duy và
quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật. Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoàn thiện cơ chế để
tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Điều 12 hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Để tạo tiền đề cho pháp chế XHCN, phải đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
bao gồm:
Một là thể chế hoá kịp thời đường lối chính sách của Đảng thành pháp luật;
Hai là quá trình xây dựng pháp luật phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của các điều kiện kinh tế xã
hội ở thời điểm tồn tại của nó và công tác xây dựng pháp luật phải nhạy bén và khoa học;
Ba là phải có kế hoạch xây dựng phù hợp với mỗi giai đọan và mang tính khả thi cao, trong từng giai đọan
cần có trọng tâm, trọng điểm để ban hành các văn bản kịp thời đối với sự phát triển của các quan hệ XH. Đồng
thời cần tránh khuynh hướng chủ quan nóng vội muốn có ngay hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, từ đó dẫn đến
tình trạng pháp luật xa lạ với nhu cầu của XH; hoặc khuynh hướng bảo thủ trì trệ không thấy hết những nhân tốt
mới điều kiện mới, không nhận thức đúng vai trò của pháp luật dẫn đến chờ đợi hoặc dùng những biện pháp
khác để dẫn đến quan hệ XH.
Để thực hiện tốt các vấn đề này, Quốc hội phải đổi mới tiêu chuẩn đai biểu Quốc hội (am hiểu Hiến
pháp, pháp luật, nghị quyết và thực tiễn cuộc sống), tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách của Quốc hội,
bảo đảm đổi mới điều kiện làm việc của đại biểu Quốc hội trong hoat động lập pháp, có chiến lược xây dựng
pháp luật lâu dài, toàn diện, bảo đảm cơ chế giám sát, kiểm tra trước, sau của việc ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật, tăng cường chất lượng của cán bộ hoạt động lập pháp và lập quy, bảo đảm tính dân chủ rộng
rãi, thủ tục dễ dàng hơn trong hoạt động lập pháp, lập quy.
- Ba là tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội: Tổ chức thực hiện pháp luật
là biện pháp đặc biệt quan trọng để tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta hiện nay. Biện pháp này gồm nhiều
hoạt động nhằm bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện, cụ thể là:

án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành trong thời gian Quốc hội không họp.
+ Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính nhà nước.
- Năm là tăng cường đấu tranh, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm pháp luật,
bảo đảm mọi vi phạm pháp luật không thoát khỏi bị xử lý. Bảo đảm nguyên tắc mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật. Xử lý đúng người đúng tội trước pháp luật, không thể xảy ra trường hợp bao che. Đẩy mạnh
cuộc đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng trong cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, xã hội.
- Sáu là tăng cường các hoạt động hỗ trợ tư pháp, giải quyết kịp thời các khiếu nại tố cáo của công
dân
Về công tác này, Nghị quyết ĐH IX đã xác định rõ một số giải pháp, đổi mới cụ thể như :
Một là cải cách, kiện toàn và nâng cao hoạt động của các cơ quan tư pháp theo nguyên tắc : nâng cao
tinh thần trách nhiệm, làm tốt các công tác điều tra, bắt giam, giữ, truy tố, xét xử, không để xảy ra những trường
hợp oan sai.
Hai là Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát chung mà tập trung làm tốt chức
năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Ba là sắp xếp lại hệ thống Tòa án nhân dân, phân định thẩm quyền một cách hợp lý
Bốn là tổ chức lại các cơ quan điều tra theo nguyên tắc gọn đầu mối, có sự chỉ đạo tập trung thống nhất;
Kiện toàn cơ quan thi hành án và thành lập cảnh sát tư pháp; cải cách và kiện toàn các cơ quan bổ trợ tư pháp,
cơ quan quản lý hành chính tư pháp.
Kết luận :
“Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức” có vai trò hết sức quan trọng và cấp thiết
nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân - một trong những nhiệm vụ cơ
bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Hiểu rõ và làm tốt những biện
pháp tăng cường pháp chế, coi trọng giáo dục và nâng cao đạo đức xã hội mà Đảng và nhà nước đã xác định
chính là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay
20
Câu 13: Trình bày nội dung pháp luật thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Nội dung này được quy định trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Ban hành ngày
20/04/2007 cuả UBTV QH gồm 6 chương và 28 điều
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
8. Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định
của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.
9. Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp
thu.
10. Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân
do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.
11. Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
Điều 6. Hình thức công khai
1. Những nội dung quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh này được công khai bằng các hình thức sau đây:
a) Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã;
b) Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;
c) Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân.
2. Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai quy định tại khoản 1 Điều
này; thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 32 của Luật phòng, chống tham nhũng.
2. Nội dung nhân dân bàn và quyết định.
Điều 10. Nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công
trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần
kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật.
21
Điều 13. Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết
1. Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
2. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
3. Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.
Điều 11. Hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
1. Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh này bằng
một trong các hình thức sau đây:
a) Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
2. Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.
Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status