ĐỀ CƯƠNG MÔN NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT
1. Nêu khái niệm, trình bày bản chất và phân tích các vai trò của pháp luật XHCN. Liên
hệ thực tiễn?
Trả lời:
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện
ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện,
kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm duy trì trật tự xã
hội.
Khái niệm pháp luật XHCN: Pháp luật XHCN là hệ thống các quy phạm pháp luật thể
chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của Nhân dân, được Nhà nước ban
hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội theo định hướng XHCN.
Bản chất XHCN: Từ khái niệm trên ta thấy, bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng
được thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội như các kiểu pháp luật đã và đang tồn tại. Nhưng,
sự biểu hiện của các bản chất đó có những điểm khác với bản chất pháp luật nói chung, đó là:
- Trong xã hội – xã hội chủ nghĩa, pháp luật là sản phẩm của hoạt động nhà nước và xã
hội chủ nghĩa – nhà nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, pháp luật xã
hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân.
- Cũng như nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ có tính giai
cấp công nhân mà còn có tình nhân dân, tính dân tộc. Ở Việt Nam, bản chất này của pháp luật
là do bản chất nhà nước và mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” quy định. Mục tiêu đó không chỉ là nguyện vọng của riêng giai cấp
công nhân mà còn là nguyện vọng của toàn thể nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đó là hiện
thực, bởi vì hơn ở đâu hết, trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay ở nước ta, lợi
ích dân tộc cơ bản là thống nhất. Vì vậy, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta không chỉ là sự lựa chọn của giai cấp công nhân, mà là sự lựa chọn của toàn thể nhân
dân lao động Việt Nam. Cũng chính bởi thế, pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng chính là sự thể
chế hóa đường lối của Đảng CS Việt Nam thành pháp luật nhà nước.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng mang tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Bất kỳ pháp luật
nào cũng có tính cưởng chế - tức là tính bắt buộc đối với người thực hiện. Tuy nhiên pháp luật
xã hội chủ nghĩa có bản chất nhân đạo sâu sắc. Pháp luật xã hội chủ nghĩa một mặt nghiêm
- Đối với sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, làm cho đượng lối đó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung
trên quy mô toàn xã hội. Đồng thời, pháp luật là phương tiện để Đảng kiểm tra đương lối của
mình trong thực tiễn.
2
- Đối với nhà nước, pháp luật là cơ sở pháp lý tổ chức và phương thức hoạt động của
chính mình (dựa vào các luật như: Luật tổ chuwcxs HĐND và UBND, Luật tổ chức Quốc Hội,
Chính phủ…), là sự ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá
nhân, công dân, là phương tiện quản lý có hiệu lực đối với mọi mặt đời sống xã hội. Pháp luật
là phương tiện chứa đựng trong đó sự kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế, giữa tập trung
và dân chủ, giữa năng động, sáng tạo với kỉ cương, kỉ luật. Do đó, khi thực hiện các chức năng
của mình, nhà nước không thể không sử dụng pháp luật.
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, pháp luật là cơ sở pháp lý bảo đảm cho nhân dân
tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội của
mình. Pháp luật thể chế hóa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Nhân dân dực vào pháp luật để phản ứng, đấu tranh với các hành vi
làm quyền, cưởng chế ngoài quy định của pháp luật.
Tóm lại, pháp luật là phương tiện thiết lập các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của
toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo cho hệ thống hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp.
Ba là, vai trò của pháp luật đối với đạo đức và tư tưởng:
- Đối với đạo đức, các nguyên tắc căn bản của đạo đức được thể chế hóa thành các quy
phạm pháp luật. Do vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo vệ và phát triển đạo đức xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ tính công bàng, chủ nghĩa nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người.
Ví du: Đạo đức truyền Đạo đức truyền thống: Con cái phải biết hiếu thảo cha mẹ.
- Quy tắc đạo đức trên đã được nâng lên thành quy phạm pháp luật tại điều 35 của Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000: “Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, báo hiếu với
cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống
tốt đẹp của gia đình”.
2. Nêu khái niệm về nguyên tắc tổ chức, hoạt động nhà nước XHCN. Phân tích nguyên
tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức và các hoạt động của nhà
nước XHCN. Liên hệ thực tiễn.
5