Trang 1
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Vùng Tứ Giác Long Xuyên là nơi có nhu cầu dùng nước nhiều, đặc biệt là các
khu vực bị ảnh hưởng mặn, chua phèn. Nhiều hộ dùng nước cùng sử dụng chung
nguồn nước ngọt, luôn dẫn đến sự mâu thuẫn và mâu thuẫn này ngày càng trở nên
khốc liệt hơn. Như vậy một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải tìm giải pháp quản lý, vận
hành hệ thống công trình hiện nay như thế nào?; việc nghiên cứu và vận hành hệ
thống công trình và bổ sung một số công trình ra sao, phân bố các khu dân cư như thế
nào? Phân vùng, phân khu sản xuất nông nghiệp, Thủy sản ra sao?; bố trí các khu
công nghiệp và xử lý chất thải ra sao?; ở vị trí nào? Quản lý tài nguyên nước mặn,
ngọt như thế nào?, đặc biệt giải quyết được các mâu thuẫn về yêu cầu dùng nước
trong vùng.
Vì vậy kết quả của đề tài “Ứng dụng mô hình số trị nghiên cứu biện pháp
vận hành hợp lý hệ thống công trình Thuỷ lợi vùng Tứ Gác Long Xuyên”, sẽ đưa ra
được biện pháp vận hành thích hợp và khoa học cho hệ thống công trình, đồng thời
đưa ra được các bản đồ diễn biến mặn (về độ mặn cũng như diện tích xâm nhập mặn,
thời gian duy trì mặn về số lượng và chất lượng), của vùng Tứ Giác Long Xuyên, có
thể làm tài liệu tham khảo nhằm giúp các nhà quản lý tài nguyên nước thuận lợi trong
việc bố trí các công trình thuỷ lợi và lập quy hoạch sử dụng đất, theo hướng chuyển
đổi sản xuất, để đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất trong vùng Tứ Giác Long
Xuyên.
Việc đánh giá sự tác động của các yếu tố tự nhiên - xã hội cũng như hệ thống
kênh, rạch và các công trình, để đưa ra biện pháp vận hành hợp lý hệ thống công trình
phức tạp trong vùng ảnh hưởng triều và sự phát triển kinh tế trong vùng, là rất khó
khăn. Nhưng với việc áp dụng mô hình số trị trong luận văn, đã đưa ra 04 phương án
vận hành hệ thống công trình trong vùng TGLX. Từ kết quả tính toán của các kịch
bản trong mô hình số trị và các bản đồ diễn biến xâm nhập mặn của đề tài, có thể là
những lời gợi ý và đề xuất các giải pháp cho hiện tại và tương lai gần để các nhà quản
lý có thể lựa chọn phương án vận hành hệ thống công trình hợp lý nhất cho vùng
TGLX.
Trang 2
2.1.3 Mô hình DUFLOW 50
2.1.4 Mô hình ISIS 50
2.1.5 Mô hình HYDROGIS 50
2.1.6 Mô hình MIKE 11 51
2.1.7 Mô hình VRSAP 51
2.1.8 Mô hình SAL 51
2.2. PHÂN TÍCH LỰA CHỌN MÔ HÌNH TOÁN CHO LUẬN VĂN 52
2.2.1 Sơ bộ nhận xét các mô hình 52
2.2.2 Khả năng mô hình hóa của mô hình SAL: 52
2.3 CƠ SỞ LỰA CHỌN MÔ HÌNH SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 53
2.3.1 Cơ sở tính toán mô hình SAL 53
2.3.2 Một số khái niệm 53
2.3.3 Sơ đồ mạng lưới sông kênh 53
2.4. PHẦN TÍNH DÒNG CHẢY CỦA MÔ HÌNH SAL 54
Trang 3
2.5. MÔ PHỎNG TRAO ĐỔI NƯỚC QUA CỐNG ĐIỀU TIẾT MẶN 55
2.6.1. Sự thích nghi các mô hình của nước ngoài ở Việt Nam 56
2.6.2. Đánh giá về mô hình trong nước 56
2.7. SƠ ĐỒ CHO VÙNG TGLX 57
2.7.1. Sơ đồ 57
2.7.2. Bố cục sơ đồ gồm: 58
2.7.3 Sơ đồ TGLX chụp từ vệ tinh: 58
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHO CÁC PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG NƯỚC .59
3.1 PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ CÔNG TRÌNH 59
3.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của phương án bố trí công trình. 59
3.1.2 Các giải pháp bố trí công trình đã được đề suất: 60
3.1.3 Mô tả phương án như sau: 60
3.3 CÁC PHƯƠNG ÁN ÁP DỤNG MÔ HÌNH CỦA LUẬN VĂN 62
3.3.1 Mục tiêu và nhiệm vụ các phương án áp dụng mô hình: 63
3.3.2 Đề xuất giải pháp áp dụng mô hình: 63
Trang 4
KIẾN NGHỊ 92
97
Trang 5
MỞ ĐẦU
I. CƠ SỞ CHỌN ĐỀ TÀI
Vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX) thuộc Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) nằm ở phần hạ lưu sông Mekong, có diện tích tự nhiên khoảng 492.587 ha,
dân số 2.197.771 người, thuộc các tỉnh Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Đây là
một vùng kinh tế phát triển của ĐBSCL, việc định hướng phát triển của vùng nhất
thiết phải được quan tâm.
Vùng có chế độ thủy văn điển hình của ĐBSCL:
Ngập lụt vào mùa lũ từ tháng VII đến tháng XI từ (0,5 đến 3,0m)
Xâm nhập mặn từ phía biển Tây vào mùa khô
Ảnh hưởng nước chua phèn vào đầu mùa mưa.
Hiện nay nông nghiệp với lúa là cây trồng chính và là ngành sản xuất chủ yếu
trong khu dự án, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đang chuyển đổi từ thế
độc canh sang đa dạng hóa sản phẩm để đạt được sự phát triển bền vững và lợi nhuận
cao. Cho đến nay, để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống nhân dân, nhiều
công trình thủy lợi đã được xây dựng, như:
Hệ thống công trình, cống, đập để kiểm soát lũ tràn từ phía biên giới Campuchia;
Hệ thống đê và cống ngăn xâm nhập mặn ven biển Tây;
Hệ thống kênh tưới tiêu;
Hệ thống đường giao thông và các khu dân cư vượt lũ.
Vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, bị ảnh hưởng
bởi xâm nhập mặn, phương thức khai thác nguồn nước phía thượng lưu, dao động
thủy triều biển Tây và biển Đông, đã vậy hệ thống công trình trong vùng chưa có
được một quy trình vận hành thích hợp để phát huy hiệu quả nên luôn phải đối
diện với những mâu thuẫn về dùng nước với sự phát triển kinh tế của của vùng.
Do nền kinh tế ngày càng phát triển theo chiều hướng kinh tế thị trường, trước
Chế độ vận hành hệ thống hiện nay là khi cần nước mặn cho nuôi tôm, các cống
đầu mối ven biển tây được mở ra. Để kiểm soát mặn, nhân viên kỹ thuật đo độ mặn tại
các vị trí khống chế và báo về cho các trung tâm quản lý và trên cơ sở đó, việc vận
hành cống được điều chỉnh. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm sao hỗ trợ cho công tác
quản lý và vận hành cống để phục vụ các ngành sản xuất một cách tốt nhất.
Để phân cách nước mặn và nước ngọt tại các khu vực có xen lẫn diện tích nuôi
tôm và trồng lúa, người ta đã phải dùng các đập tạm thời. Đây là các đập đất được đắp
Trang 7
hay dỡ bỏ mỗi khi cần thiết, tốn rất nhiều công sức. Đã có một vài nơi ứng dụng vật
liệu composit họặc các biện pháp công trình cố định chi phí thấp như xà lan đánh
chìm.
- Cần vận hành các cống ven biển sao cho vừa kiểm soát mặn đáp ứng yêu cầu sản
xuất thủy sản ở phần phía nam QL80 của vùng TGLX đồng thời đảm bảo đủ nước
ngọt cho vùng sản xuất lúa ổn định ở phần phía Đông bắc của TGLX;
- Cần có dự báo chất lượng nước (mặn, chua, và phù sa).
Một vấn đề nữa cần được xem xét là hiện nay các phương án xây dựng hệ thống
công trình của vùng TGLX và hệ thống kiểm soát mặn của khu vực này có làm ảnh
hưởng đến các hoạt động sản xuất của vùng hay không?
1.1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Để hạn chế và kiểm soát các tác động xấu từ lũ lụt, phèn, mặn, trong vùng
TGLX nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều các công trình kiểm soát
lũ, tưới tiêu, ngăn mặn được xây dựng. Xong từ trước đến nay việc xem xét khả năng
vận hành hệ thống công trình trong vùng, chưa được quan tâm tương xứng với tầm
quan trọng của vấn đề này. Vì vậy việc ứng dụng tin học xem xét khả năng vận hành
hệ thống công trình trong vùng Tứ Giác Long Xuyên là một việc làm cần được quan
tâm nhiều hơn. Một trong các công cụ mạnh, kinh tế và nhanh chóng trong “việc xem
xét khả năng vận hành hợp lý hệ thống công trình vùng TGLX’’ là mô hình số trị. Cho
đến nay mô hình loại này đang được áp dụng rộng rãi cho các dự án phát triển ở
ĐBSCL.
1.1.4 Quy trình vận hành công trình:
của nước chua phèn trong thời gian đầu mùa mưa (tháng V(VI) do nước phèn từ các
khu ruộng đổ vào kênh và sự lan truyền phèn theo dòng chảy thuỷ triều. Vì vậy, ngoài
việc điều tiết mặn ngọt, tác động tiêu úng xổ phèn đầu mùa mưa của các phương án
vận hành công trình cũng cần phải được đánh giá để chọn lựa phương án thích hợp
nhất.
Như vậy: Việc nghiên cứu quy trình vận hành hệ thống công trình để nhằm
đưa ra biện pháp điều tiết tài nguyên nước hợp lý giúp các cơ quan, các nhà quản lý
chỉ đạo giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu nước cho dân sinh, nông nghiệp, công
nghiệp và thủy sản trong vùng.
Trang 9
II. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CHỌN.
Vùng Tứ Giác Long Xuyên đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện, theo các
mức độ khác nhau. Tiêu biểu là các nghiên cứu sau:
Nghiên cứu tiền khả thi vùng Ba Thê-Tri Tôn, năm 1990 - 1993, do viện
QHTLMN thực hiện, với sự trợ giúp của công ty NEDECO
Quy hoạch kiểm soát lũ ĐBSCL, từ năm 1994-1998, do viện QHTLMN, các
tỉnh liên quan thực hiện và đã được Chính phủ phê duyệt ngày 21/6/1999. Trong
nghiên cứu này, đã đề xuất các giải pháp về lũ cho toàn đồng bằng, trong đó có vùng
TGLX.
Dự án nghiên cứu tiền khả thi vùng Rạch Giá - Hà Tiên, năm 1997-1998, do
Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền nam thực hiện.
Nghiên cứu tiền khả thi các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX, năm 1998-
1999, do viện QHTLMN thực hiện và đã được chính phủ phê duyệt. Qua dự án này,
hàng loạt công trình kiểm soát lũ đã được xây dựng, phục vụ cho việc phát triển kinh
tế xã hội.
- Điều tra diễn biến tác động công trình thủy lợi đến môi trường vùng ven biển
Rạch Giá – Hà Tiên, từ năm 2002 đến 2004, do viện QHTLMN thực hiện.
- Nghiên cứu điển hình vùng Tứ giác Long xuyên với sự trợ gúp của DANIDA
sử dụng bộ mô hình MIKE11 (2004-2005)
hành hệ thống công trình thuỷ lợi trong vùng một cách hợp lý, giúp các nhà quản lý có
thể lựa chọn giải pháp và ra quyết định thích hợp nhằm nâng cao tính hiệu quả của các
công trình trong vùng và quyết mâu thuẫn trong việc sử dụng nước cho nông nghiệp,
thuỷ sản, dân sinh và công nghiệp
2. Ý nghĩa về kinh tế và xã hội
Xem xét sự ảnh hưởng của các vấn đề ngập lụt, sự xâm nhập mặn, chua phèn
vào các khu canh tác, các khu dân cư của khu đô thị, khu dân cư của khu công
nghiệp… Đề xuất biện pháp vận hành hệ thống công trình trong vùng giải quyết được
mâu thuẫn dùng nước và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới .
3. Tính mới của luận văn
- Sử dụng mô hình toán như một công cụ, trong việc nghiên cứu và lựa chọn đề
xuất giải pháp quản lý vận hành hệ thống công trình cũng như quản lý tài nguyên
nước.
4. Tính thực tế của luận văn
- Đề tài luận văn có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc đề xuất và kiến nghị
phương pháp quản lý tài nguyên nước một cách tổng hợp, xem xét ảnh hưởng của các
yếu tố lũ, mặn, chua phèn tới các hoạt động phát triển của vùng TGLX.
- Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các sở, ban ngành của các tỉnh thuộc vùng
TGLX và đồng bằng sông Cửu Long trong việc quản lý vận hành hệ thống công trình
thủy lợi và quy hoạch tài nguyên nước (Nông nghiệp, dân sinh, Thuỷ sản, công
nghiệp, thuỷ lợi, tài nguyên môi trường)
IV. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
- Mở đầu;
- Chương 1: Tổng quan đặc điểm Kinh tế – Xã hội ;
- Chương 2: Mô hình số trị và chất lượng nước;
- Chương 3: Ứng dụng mô hình số trị cho hệ thống công trình vùng TGLX;
- Chương 4: đề xuất các giải pháp cho hệ thống công trình vùng TGLX;
- Kết luận và kiến nghị;
- Tài liệu tham khảo; Phụ lục, bản đồ và hình vẽ;
Trang 12
1.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình đồng bằng khá bằng phẳng (trừ vùng Bảy Núi, Hòn Sóc, Ba Hòn, Hà
Tiên), có dạng lòng chảo. Địa hình dốc đều từ Đông Bắc - Tây Nam, dọc kênh Vĩnh
Tế và ven sông Hậu là các giải đất cao (1,0 ÷ 2,0m ) và thấp dần đến bờ biển Tây ( từ
0,25÷1,0m ) tạo thành một đồng trũng có dạng hở. Cao độ trung bình từ 0,8 ÷1,2m.
Phân bố địa hình theo cao độ.
1.1.3 Đặc điểm địa chất – Thổ nhưỡng
1.1.3.1 Thổ nhưỡng.
Vùng TGLX có 6 nhóm đất là: nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất
phèn, nhóm đất than bùn, nhóm đất phù sa cổ và nhóm đất trên sản phẩm phong hóa
đá, trong đó vùng ngập nước chiếm 5 nhóm có nguồn gốc thủy thành đa dạng.
!
"
#
$
%
&
-
.
/
*
3
.
4
2
5
6
;
6
*
.
<
=
#
?
1
#
A
!
7
9
B
C
9
B
@
"
/
10°24'00"
10°24'00"
10°34'30"
10°34'30"
10°45'00"
10°45'00"
104°31'30"
104°31'30"
104°42'00"
104°42'00"
104°52'30"
104°52'30"
105°3'00"
105°3'00"
105°13'30"
105°13'30"
105°24'00"
105°24'00"
0I 9:%
0I8J
0IK
LM
CHó DÉN
;DEEN-O&PEQ/E
;DE/R E9N@
;DE&P6EST
;DE&PE Q/E
;DE&-U
;DE&-U?E2S/K
Các tầng Pleiscene và Miocene sâu từ 50 ÷ 120 m, có nơi 400 m thường thấy
nhiều ở vùng TGLX. Chất lượng nước tương đối tốt, trữ lượng phong phú.
Tầng Miocene: Mực nước thủy chuẩn của tầng nước ngầm này thường cao hơn
mặt đất, chất lượng nước rất tốt với nồng độ khoáng hoá nhỏ hơn 1g/l, nhiệt độ nước
ngầm trong tầng này thường từ 35 ÷ 40 độ C.
1.1.4.1 Phân vùng thuỷ văn:
Việc phân vùng thuỷ văn dựa vào 3 vấn đề chính như điều kiện tự nhiên (tình
hình mưa và phân bố mưa, tình hình lũ và diễn biến lũ), tình hình sử dụng nguồn nước
và điều kiện biên.
a- Điều kiện tự nhiên:
Dựa vào đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, nguồn nước, trong đó nguồn
nước mặt là chính.
Trang 15
b- Tình hình sử dụng nguồn nước:
- Tình hình cấp nước trong mùa kiệt.Tình hình ngập lũ.Tình hình tiêu
thoát.Tình hình chất lượng nước (phù sa, chua phèn).
c- Điều kiện biên:
Ranh giới là trục lộ giao thông, sông rạch lớn, các kênh trục và ảnh hưởng của
các điều kiện này đến thuỷ chế của mỗi vùng.
Hình 1.3: Bản đồ phân vùng thuỷ văn năm 2005 vùng TGLX
d- Phân vùng:
Nước mặt của vùng hình thành nên 4 khu vực khác nhau:
Vùng A: Nguồn nước chính từ sông Hậu thông qua các kênh trục nội đồng.
tình hình tiêu thoát phụ thuộc vào lũ thượng nguồn, mưa nội đồng và sự biến đổi địa
hình trong vùng. Hướng tiêu chính dọc theo kênh trục về phía Kiên Giang, phần còn
lại tiêu ra sông Hậu.Vùng này có thể chia làm 3 khu A1, A2, A3.
Vùng B: Xa sông chính, điều kiện dẫn nước tưới và sinh hoạt cho nhân dân rất
khó khăn. Chua cục bộ và chua ngoại lai, chua cục bộ là chính.
Vùng này có thể chia làm 2 khu: khu B1 (TGHT) phần đất thuộc phía Bắc kênh Tri
giờ nắng bình quân ngày vào mùa khô khỏang 7h/ngày, mùa mưa khỏang 6h/ngày
• Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình năm : 75÷85%, độ ẩm trung bình các
tháng mùa khô 78%, các tháng mùa mưa 85,5%.
• Chế độ bốc hơi: Lượng bốc hơi nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ, tốc
độ gió, áp suất không khí, độ ẩm… Lượng bốc hơi hàng năm tương đối lớn và có sự
Trang 17
phân hóa theo mùa rõ rệt. Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche là 1.000 đến 1.3000
mm/năm .
• Chế độ mưa: Mưa phân bố theo 2 mùa: mùa mưa từ giữa tháng V đến cuối
tháng XI,chiếm 90% lượng mưa năm, mùa kiệt từ tháng XII đến tháng IV . Lượng
mưa tần suất 75% các trạm chính ở vùng TGLX .
• Gió bão: Trong muà khô thường có các đợt gió mạnh, hiện tượng gió chướng
khi theo hướng dọc sông kênh từ ngoài vào trong làm tăng khả năng tải mặn truyền
vào, tuy nhiên điều quan trọng là nó làm dâng mực nước vùng cửa sông tạo nên sự
giảm lưu lượng chảy ra và làm độ mặn tăng lên và đẩy mặn xâm nhập vào đồng sâu
hơn.
1.1.6 Đặc điểm thủy văn
Chế độ thủy văn dòng chảy vùng TGLX chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính
sau: chế độ thủy triều biển Đông, chế độ thủy triều biển Tây, lũ thượng nguồn sông
Mekong và chế độ mưa nội vùng.
a. Sông rạch tự nhiên
Đáng kể chỉ có sông Giang Thành có một số nhánh, những nhánh khác nối
tiếp với kênh Vĩnh Tế tại Hòa Khánh đổ ra đầm nước mặn Đông Hồ. Ngoài ra còn có
các sông rạch tự nhiên khác như: rạch Tam Bản, rạch Tà Xăng
b. Chế độ thủy triều biển Đông
Triều biển Đông thuộc dạng bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lần
triều lên và hai lần triều xuống, biên độ dao động lớn (300 ÷350 cm), mực nước chân
triều biến động cao (160 ÷300 cm) nhưng mực nước đỉnh triều biến động ít (80 ÷100
cm). Một chu kỳ triều trung bình duy trì 15 ngày gồm 1 kỳ triều cường và hai nửa kỳ
triều kém. Trong năm, mực nước trung bình có xu thế cao hơn vào khoảng từ tháng
Nguồn: Viện Quy họach Thủy lợi Miền Nam
Hình 1.4: Bản đồ giáp nước mùa kiệt năm 2005 vùng TGLX
Trang 19
d. Chế độ lũ sôngMekong: Hàng năm, vào cuối tháng V, mực nước sông Mekong bắt
đầu gia tăng và đạt giá trị cao nhất vào tháng VIII÷IX ở thượng lưu, tháng IX , X ở hạ
lưu. Mực nước giảm mạnh đến cuối tháng XII. Lũ thượng nguồn sông Mekong chi
phối dòng chảy trên sông Hậu và gây ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ dòng chảy của
vùng TGLX.
e. Chế độ mưa nội vùng
Chế độ mưa nội vùng ở TGLX có tác động đáng kể đến xu thế dòng chảy của
vùng, đặc biệt là vào mùa mưa, với lượng mưa chiếm khoảng 95% lượng mưa năm đã
tạo nên một dòng chảy do mưa trên tòan vùng rất lớn. Vào mùa khô, rất ít mưa nên
yếu tố dòng chảy do mưa không đáng kể.
Tóm lại:
Các yếu tố tự nhiên của vùng còn gây nhiều khó khăn làm hạn chế đến mức độ
phát triển kinh tế trong vùng như sau:
Vùng TGLX là vùng có nguồn nước ngọt phong phú, dồi dào nhưng trong mùa
lũ bị ảnh hưởng bởi độ ngập lũ sâu và thời gian ngập lũ kéo dài, tác động nghiêm
trọng đến thời vụ canh tác và năng suất cây trồng.
Vùng bị ảnh hưởng bởi hai nguồn triều khác nhau: Từ sông Hậu theo các kênh
rạch vào nội đồng và nguồn triều từ Biển Tây mang nước mặn ảnh hưởng tới. Do hai
nguồn triều ngược chiều, lệch pha, lại khác nhau về cường độ dẫn tới hiện tượng giáp
triều, lòng dẫn các kênh mương bị bồi lấp nhanh, rất khó khăn trong việc tiêu thoát và
dẫn nước ngọt .
Đất phèn với một diện tích lớn 65,59% diện tích tự nhiên của khu vực là một
khó khăn rất lớn cho phát triển kinh tế của TGLX khi mà nông nghiệp được xác định
là một mũi nhọn kinh tế hàng đầu.
1.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI
1.2.1 Hiện trạng dân số, phân bố dân cư.
• Dân số toàn vùng đến năm 2005 xem chi tiết xem [Bảng 1.12]:
1.2.3. Đời sống, thu nhập
• Nguồn lao động khá dồi dào, tỷ lệ lao động chiếm khoảng 58% dân số. Đại bộ
phận hoạt động trong ngành sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Lao động nông lâm ngư
nghiệp chiếm khoảng 70%.
• Vào các giai đoạn gieo sạ, thu hoạch, cần nhiều công lao động nên thường thiếu
lao động, nhưng ở các thời kỳ nông nhàn thì thừa lao động.
• Thu nhập chính là nông nghiệp, các thu nhập khác chỉ chiếm khoảng 10 ÷ 30%
tổng thu nhập. Nhìn chung thu nhập của nhân dân còn thấp. Tỷ lệ khá và giàu chiếm
khoảng 20 ÷ 30%, nghèo khoảng 15 ÷ 25%.
1.3. TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC
1.3.1 Các yếu tố tự nhiên:
1.3.1.1 Tình hình hạn hán, lũ lụt
a. Tình hình hạn hán
Hàng năm mùa khô kéo dài 5 tháng (tháng XII(IV), việc đáp ứng nhu cầu nước cho
sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt khó khăn tạo nên tình trạng hạn hán khá phổ biến:
Trang 21
Mùa khô mưa rất ít nhưng lại có độ bốc hơi cao nhất tình trạng hạn càng trở
nên căng thẳng hơn.
Nguồn nước sinh hoạt của dân trong mùa khô khó khăn hơn rất nhiều so với
mùa mưa do một hoặc nhiều nguyên nhân: nguồn nước nhiễm mặn, ô nhiễm chất thải
tăng, nguồn nước ngầm khai thác còn ít chưa đáp ứng yêu cầu, phương tiện trữ nước
sinh hoạt còn hạn chế …
b. Tình hình lũ lụt
Vùng TGLX là vùng hàng năm bị ngập lụt nghiêm trọng. Lũ lụt vừa là nguồn
tài nguyên nhưng cũng chính là nguồn gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng.
Lũ vừa là nguồn lợi, nhưng cũng lại là thiên tai, lũ gây không ít khó khăn đến tình
hình sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân vùng dự án.
Lũ lụt hàng năm tác động rất lớn đến hệ thống công trình, nhà cửa đặc biệt là
làm sạt lở, bồi lắng kênh mương, bờ bao và các cống bộng. Làm giảm hiệu quả của hệ
thống công trình tưới.
Tháng XII 26,5 8,7 25,3 45,4
Nguồn: Viện Quy họach Thủy lợi Miền Nam
- Do vùng TGLX có hệ thống cống ngăn mặn dọc Biển Tây nên lưu lượng ra
rất nhỏ (chủ yếu là các cửa chưa có cống như sông Giang Thành, Rạch Giá - Long
Xuyên…).
- Lưu lượng vào ổn định do các kênh phía sông Hậu rất thẳng và lớn. Lưu
lượng vào lớn nhất là kênh Rạch Giá - Long Xuyên, kênh Vĩnh Tế, kênh Tri Tôn,
kênh Ba Thê và kênh Cái Sắn.
Kết quả phân phối nước ngọt vào vùng TGLX các tháng mùa kiệt năm 2005
trong [Bảng 1.14]:
So sánh lưu lượng cung cấp và lưu lượng yêu cầu thấy rằng trong các tháng
mùa kiệt ( I, II, II và IV) khả năng đáp ứng tưới của vùng TGLX như sau:
- Tháng I: Lượng nước tưới xấp xỉ yêu cầu tưới do có nguồn nước dự trữ trên
đồng ruộng sau mùa lũ bổ sung.
- Tháng II: thiếu khoảng 2m
3
/s, chủ yếu ở khu vực ven biển Tây.
- Tháng III: Là tháng khó khăn nhất, lưu lượng nước tưới bị thiếu hụt khỏang
37,6 m3/s, khả năng cung cấp nước chỉ đạt khỏang 82% yêu cầu. Các vùng thiếu nước
lớn nhất là vùng có địa hình cao, vùng ven biển và TGHT làm giảm năng suất cây
trồng.
- Tháng IV: Lượng nước tưới đủ cấp theo nhu cầu do bắt đầu có mưa sớm bổ
sung.
- Các tháng XI và XII lượng nước tưới từ nguồn về không đủ tưới, nhưng khả
năng tưới không khó khăn do có lượng nước trữ sau mùa lũ bổ sung.
Trang 23
Nguồn: Viện Quy họach Thủy lợi Miền Nam
Hình 1.5: Bản đồ hướng dòng chảy mùa kiệt năm 2005 vùng TGLX
1.3.1.3 Tình hình diễn biến môi trường nước.
a. Nước biển ven bờ.
trí trên tuyến biên giới, nội đồng và các trung tâm dân cư, các đô thị. (Nguồn Trung
tâm chất lượng Nước và Môi truờng - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam).
Ngoài tác động tự nhiên, nguồn nước mặt trong vùng cũng chịu ảnh hưởng rất
lớn từ các hoạt động sản xuất của con người tới nguồn nước trong kênh mương bị tác
động bởi nước thải sinh hoạt của các khu dân cư sống ven kênh. Các cụm công nghiệp
trong vùng chủ yếu là các ngành chế biến thuỷ sản, nông sản, vật liệu xây dựng …sử
dụng công nghệ xử lý thiết bị cũ kỹ, lạc hậu hoặc có thiết bị nhưng vẫn xả thải trực
tiếp, không qua xử lý đặc biệt vào mùa khô dòng chảy nhỏ, hệ thống cống hoạt động
không hiệu quả nên dẫn đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước càng trầm trọng hơn.
c. Tình hình nước mưa :
Nước mưa ở vùng TGLX là một nguồn nước có chất lượng nước tốt, có thể sử
dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
d. Tình hình nước ngầm:
Nguồn nước ngầm tại TGLX nói chung không dồi dào. Nhìn chung điều kiện
địa chất thủy văn của Tứ Giác Long Xuyên không thuận lợi cho việc khai thác nước
ngầm tập trung với quy mô lớn, hầu hết các phân vị đều chứa nước mặn. Vì vậy khả
năng cung cấp nước ngầm cho sinh hoạt là hết sức khó khăn.
e. Ảnh hưởng của thủy triều biển Tây và sự lan truyền mặn
Trang 25
Nguồn xâm nhập mặn vào vùng TGLX tập trung từ phía biển Tây, khu vực ven
biển từ Rạch Giá đến Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang). Thủy triều vịnh Thái Lan đa dạng và
phức tạp, riêng thủy triều ven biển Tây Việt Nam ưu thế thuộc về nhật triều. Vùng
biển Kiên Giang là vùng nhật triều không đều nhưng diễn biến khác nhau giữa các
vùng. Theo số liệu nhiều năm cho thấy từ Mũi Cà Mau tới Hà Tiên mức độ triều
không đều có khác nhau. Tại Rạch Giá thường có bán nhật triều (2 lần triều lên và 2
lần triều xuống trong ngày). Khu vực về phía Hà Tiên, mũi Cà Mau và ra khơi tính
chất thiên về nhật triều với số ngày tăng dần. Trong tháng chủ yếu có một lần triều
cường và một lần triều kém.
Trước năm 1997, thủy triều biển Tây xâm nhập vào vùng ven biển Kiên Giang
qua các sông Cái Lớn, Cái Bé, Cái Sắn, kênh Rạch Giá, Vàm Răng, Luỳnh Quỳnh,