Tìm hiểu sự phát triển của nền kinh tế braxin giai đoạn gần đây - Pdf 25

I – Sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế ở Braxin:
Giới thiệu các con đường phát triển theo quan điểm tăng trưởng và
phát triển kinh tế:
Có 3 con đường phát triển kinh tế khác nhau: nhấn mạnh tăng
trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng,công bằng xã hội; phát triển
toàn diện.
 Con đường nhấn mạnh tăng trưởng nhanh:
Các nước phát triển theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa
trướcđây thường lựa chọn con đường này. Chính phủ đã tập trung
chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ
qua các nội dung xã hội. Các vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội
và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư chỉ được đặt ra khi tăng
trưởng thu nhập đã đạt được một trình độ khá cao. Thực tế cho
thấy nhiều quốc gia thực hiện theo mô hình này đã làm cho nền
kinh tế rất nhanh khởi sắc, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân
năm rất cao. Tuy vậy, theo sự lựa chọn này, những hệ quả xấu đã
xảy ra: Một mặt, cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình
đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng găy gắt, các nội dung
về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm,
một số giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc và đạo đức,
thuần phong mỹ tục tốt đẹp của nhân dân bị phá hủy. Mặt khác
1
2
việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh trước mắt đã nhanh
chóng dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên quốc gia, hủy hoại môi
trường sinh thái, chất lượng tăng trưởng kinh tế không đảm bảo và
vi phạm những yêu cầu phát triển bền vững. Chính những hạn chế
này đã tạo ra lực cản cho sự tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn sau. Sự
phát triển kinh tế của các nước Braxin, Mehico, các nước OPEC và
kể cả Philipin, Malaysia, Indonesia đi theo sự lựa chọn này
 Mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng công bằng xã hội:

đòi dân chủ, chống độc tài, đòi cải thiện đời sống và bảo vệ chủ
quyền dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc của các tầng lớp nhân dân
Braxin đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Trước tình hình đó, đế quốc
Mỹ và các lực lượng phản động đại biểu cho giai cấp tư sản mại
bản và giai cấp địa chủ Braxin hết sức lo sợ và điên cuồng chống
lại. Âm mưu của chúng là thiết lập một chính quyền phản động độc
tài, đàn áp, khủng bố mọi phong trào dân chủ yêu nước tiến bộ,
buộc Braxin vào các kế hoach gây chiến xâm lược của Mỹ ở Tây
Bán Cầu. Các tập đoàn quân sự độc tài thay nhau cầm quyền:
Bran-cô(1964-1966), Xin-va(1966-1969), Mê-đi-xi(1969-1974) và
Giây-xen(từ tháng 3 năm 1974), để theo đuôi một đuờng lối đối nội
3
4
và đối ngoại cực kì phản động nhằm phục vụ quyền lợi của chủ
nghĩa đế quốc Mỹ và các tập đoàn tư bản Braxin.
Giới cầm quyền Braxin dựa vào sự ủng hộ của Mỹ, đã biến
Braxin thành một nhà nước với chính quyền tư sản mại bản, quân
phiệt, độc tài bao trùm cả nước với một lực lượng rất đông
đảo.Braxin mở rộng cửa đón tư bản nước ngoài trước hết là Mỹ
vào đầu tư,bóc lột tàn bạo và vơ vét thả cửa các nguồn tài nguyên
giàu có của đất nước.
Theo quan điểm tăng trưởng và phát triển kinh tế nhằm phục vụ
thiểu số(giới cầm quyền) đã loại trừ đa số( tầng lớp nhân dân). Kết quả:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng vấn đề bình đẳng công bằng xã hội
và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư bị bỏ qua.
II – Quá trình phát triển kinh tế Braxin theo con đường tăng trưởng
nhanh:
1. Giai đoạn phát triển từ năm 1960 đến 1980:
 Sự tăng trưởng nhanh về kinh tế:
Braxin là một trong những nước có trình độ phát triển nhất ở châu

6
nghiệp nặng, hóa chất, dầu thô … trị giá hàng nhập khẩu hàng năm
xấp xỉ trên dưới 3,5 tỷ Đô la.
Trong vòng từ năm 1966 đến năm 1976, nền kinh tế Braxin đã
có những thay đổi rõ rệt. tốc độ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân
như sau: từ 1959 đến 1969 trung bình năm tăng 5,9%; năm 1972
tăng 10.8%; năm 1973 tăng 11.4%; năm 1974 tăng chừng 9%.
Chính dựa trên các con số trên, giới cầm quyền Mỹ và Braxin
trong những năm 70 đã làm rùm beng lên về cái gọi là sự “thần kì
kinh tế của Braxin”, về “kiểu mẫu phát triển chủ nghĩa tư bản công
nghiệp Braxin”, về “hiện tượng kì lạ của nền văn minh nhiệt đới”

 Nếu chỉ căn cứ vào những chỉ số phát triển kinh tế trên đây thì thấy
có sự gia tăng khá nhanh chóng trong tổng sản phẩm quốc dân cũng như
trong nhiều lĩnh vực công nghiệp của Braxin. Nhưng thực chất của sự
thần kì đó không như các giới cầm quyền Braxin khẳng định; trong thực
tế nó đã gắn liền với những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối
với Braxin.
Trước hết sự gia tăng kinh tế trong những năm 70 của Braxin
không có gì là “ thần kì” là “hiện tượng kì lạ” không giải thích nổi,
nếu so sánh nó với nhiều nước Á, Phi và Mỹ la tinh khác về tốc độ
phát triển hoặc trình độ sản xuất công nghiệp. Nó càng không phải
là hiện tượng “ nhảy vọt đột biến” mà chỉ là nằm trong quá trình
công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu ở Braxin từ những
6
7
năm 30, hay nói đúng hơn từ nửa sau những năm 40 và đầu những
năm 50 với sự lớn mạnh của tầng lớp đại tư sản Braxin.
Điều chủ yếu của sự thần kì đó là các giới cầm quyền phản
động ở Braxin, nhất là các tập đoàn quân sự độc tài lên nắm chính

triệu; Nhật Bản 430 triệu; Canađa 362 triệu; Anh 349 triệu; Pháp
207 triệu. Tính đến năm 1969, ở Braxin có tới 498 công ty nước
ngoài và 36 chi nhánh nước ngoài hoạt động. 510 xí nghiệp lớn
nhất là thuộc tư bản nước ngoài. Các công ty nước ngoài đã thao
túng và kiểm soát những lĩnh vực kinh tế quan trọng, ảnh hưởng rất
to lớn đến sự phát triển kinh tế của Braxin. Theo báo cáo của Ngân
hàng trung ương Braxin năm 1970 thì 82,5% nền kinh tế Braxin
nằm trong tay tư bản nước ngoài. Riêng tư bản độc quyền Mỹ đã
chiếm 70,2% sản xuất công nghiệp, 90% ngành hóa chất dầu lửa,
67,8% giao thông vận tải, 55% dược phẩm và hầu như toàn bộ
ngành lắp ráp xe hơi, đóng tàu, sản xuất máy công cụ, xuất khẩu
nông phẩm và quặng. Năm 1971, 33,8% hàng xuất khẩu của
Braxin là của các công ty nước ngoài; năm 1973 tăng lên 43,3%;
8
9
trong khi hàng xuất khẩu của nhà nước giảm từ 27% xuống còn
15%. Các công ty tư bản nước ngoài nhất là Mỹ, chẳng những ráo
riết bành trướng dưới hình thức các công ty hỗn hợp câu kết với tư
bản bản xứ, mà còn xâm nhập cả vào khu vực kinh tế của nhà nước
Braxin.
Rõ ràng là sự “ thần kì” của nền kinh tế Braxin chính là sự gia
tăng thế lực của các công ty tư bản nước ngoài, trước hết là của Mỹ
cùng với sự tăng cường và mở rộng đầu tư kinh doanh của tư bản
Braxin. Hậu quả tất yếu của sự thần kì đó là Braxin ngày càng lệ
thuộc nặng nề vào chủ nghĩa tư bản đế quốc quốc tế, và nhân dân
Braxin bị bóc lột nặng nề hơn, cuộc sống của họ lại trở nên bi đát
và thảm hại hơn. Chính tờ báo MỸ bưu điện Oa- sinh-tơn (năm
1976) đã viết: “ những con số gần đây nhất cho thấy 80% những
người Braxin có lương thấp nhận được 27,5% tổng sản phẩm quốc
dân năm 1970, so với 35% trong những năm 60. Trong khi đó, số

Bắc vẫn sử dụng những phương tiện thô sơ trong sản xuất . Trong
khi đã bắt đầu xây dựng những nhà máy điện nguyên tử , bàn đến
10
11
sản xuất máy tính điện tử và cả việc chế tạo bom nguyên tử thì
39% số dân Braxin còn mù chữ ( một trong những tỉ lệ lạc hậu nhất
ở lục địa Nam Mỹ). Phần lớn trẻ em đến tuổi không được đi học và
chỉ có 1% số học sinh đi học là lên được tới đại học. Trong khi
những chương trình đồ sộ được đề ra như xây dựng đường xe điện
ngầm ở Xan pao lu, Ri-ô, đê Gia nây rô, Bằc cầu Ni-tê-roi qua vịnh
Gu-a-na-ba-ra, mở đường xuyên Amadôn dài 2290 km thì tình
trạng y tế lại hết sức khủng khiếp: 50 triệu dân Braxin mắc bệnh
giun sán, 6 triệu người mắc bệnh lao, 70% số dân không đủ chất
dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong cao nhất so với các nước khác ở Mỹ la
tinh. Tuổi thọ trung bình của Braxin năm 1976 chỉ là 37 tuổi, trong
khi ở Mỹ la tinh nói chung là 50, ở liên xô là 70. Trong khi Braxin
nổi tiếng với những thành phố vừa đông dân nhất châu Mỹ la tinh,
lại vừa rất hiện đại được liệt vào loại kiến trúc đẹp nhất thế giới với
những khu nhà chọc trời, những biệt thự, những khách sạn lộng
lẫy, thì Braxin cũng lại nổi tiếng với những khu nhà ổ chuột tạo
nên những vành đai nghèo khổ bao quanh các thành phố. Đó là nơi
cư chú của những người nghèo khổ nhất được dựng từ các tấm bìa,
các mảnh ván hòm và hoàn toàn không có những tiện nghi công
cộng tối thiểu. Hai phần ba số việc làm và ba phần tư số giá trị sản
lượng công nghiệp trong năm 1980 đều khu trú trong vùng Sudeste
và nếu cộng thêm cả vùng Sud nữa, thì cả hai khu vực này chiếm
11
12
86% tổng số việc làm và 89% tổng giá trị sản lượng công nghiệp cả
nước.

chính. Kinh tế mở mang đến một trình độ nhất định đều buộc phải bước
13
14
vào giai đoạn thu hẹp. Trong tình hình đó, đúng ra Brazil cần thực hiện
điều chỉnh kinh tế thông qua quá trình giảm tốc tăng trưởng. Nhưng lựa
chọn của chính phủ đương nhiệm lại là bằng con đường phát hành trái
phiếu vay nước ngoài, tuy việc làm này duy trì được tốc độ tăng trưởng
khá nhưng nó lại dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng chủ yếu là từ những
gánh nặng và trách nhiệm đi kèm các khoản vay và kết cục đẩy nền kinh
tế Brazil vào cuộc khủng hoảng trái phiếu vào thập kỷ 80 của thế kỷ 20.
Nhiều chuyên gia cho rằng, bước thăng trầm của kinh tế Brazil giai đoạn
này là một kinh nghiệm quý báu cho lần trỗi dậy mới này của kinh tế hiện
nay và đồng thời nó cũng là nguyên nhân quan trọng cho sự trỗi dậy ấy.
2. Brazil những năm từ 1980- 1994
Những năm 1980 là thời kì khó khăn của Brazil,do nước này đã
vay nợ nước ngoài rất nhiều trong những năm 70.Mức tăng chỉ số giá tiêu
dùng hàng năm là 400%.Tỷ lệ trao đổi đối với hàng xuất khẩu trong thập
niêm đó ở mức âm,tiền lương thực tế giảm trung bình 3%.Đồng tiền của
Brazil bị phá giá.Trong những năm 1990,nước này phát triển mô hình
kinh tế mở của tự do.Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế bị bãi bỏ
thông qua tư nhân hoá ngân hàng và các ngành thuộc sở hữu nhà nước.
Bảng số liệu về tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người:
14
15
Năm 198
4
198
5
198
6

256
8
247
7
28
36
Dưới đây là biểu đồ về GDP/người từ năm 1984-1993
Ta có bảng số liệu về tổng sản phẩm trong nước :
15
16
bảng số liêu về tốc độ tăng GDP
năm 1985 1986 1987 1990 1991 1992 1993 1994 1995
tốc
độ
tăng
GDP
8.3 7.7 7.1 -2.4 0.4 -0.9 4.2 5.8 4.2
16
17
Ta có tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát được cho dưới bảng sau:
. Tỉ lệ lạm phát ở Bra-xin, 1981 đến 1997
Năm Tỷ lệ Tỉ lệ lạm phát
1981 100%
1982 100%
1983 138%
1984 192%
17
18
1985 226%
1986 147%

4
1995
tỷ lệ
thất
nghiệ
p
2.4 3.6 3.8 3.0 3.7 - 6.5 5.3 5.1 4.6
Như vậy từ năm 1981-1994,tỷ lệ lạm phát của Brazil đều có xu hướng
tăng với tốc độ khá nhanh,tuy nhiên tù năm 1992- 1995,tỷ lệ thất nghiệp
và tỷ lệ lạm phát đã được giảm xuống.Điều này cho thấy chính sách của
Brazil có tác động tích cực tới nền kinh tế.
Sở dĩ từ năm 1992 đến nay,nền kinh tế phát triển khá ổn định vì nước này
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, phát triển một nền kinh tế khai mỏ
và xuất khẩu nông sản,buôn bán gỗ,kim cương…,sau đó là sự phát triển
của ngành công nghiệp chế tạo máy, luyện kim.Tuy vậy, sự bất bình đẳng
cũng được bộc lộ rõ ràng: năm 1994 có tổng dân số là 64 triệu dân nhưng
có tới 43% dân số và 2/3 số việc làm trong ngành công nghiệp chế biến.
Nghèo khổ tồn tại rõ rệt ở Favelas của Riode Janeiro, trong khi Saopaulo
lại tập trung nhiều giai cấp thượng lưu.
Nếu tính theo GDP bình quân đầu người ( theo sức mua tương đương )
thì: 20% người nghèo nhất của Brazil là 578 $,trong khi 20% những
người giàu nhất có GDP bình quân là 18563$( thời kỳ từ năm 1980-
1994).Chỉ số HDI năm 1990 là: 0.759 đứng thứ 60 trên thế giới,và năm
19
20
1994 là 0.786 đứng thứ 68. Trong khi: chỉ số vai trò của phụ nữ (GEM),
và chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) là:
Năm GEM GDI
1992 0.358 (xếp thứ
58)

21
22
trạng thâm hụt tài khoản vãng lai bắt đầu manh nha từ 1995 . Tới 1998 ,
thâm hụt tài khoản vãng lai lên tới con số chóng mặt : 4.2% GDP . Trong
năm thứ 2 liên tiếp , Brazil không còn nhận được các dòng tiền từ bên
ngoài bù đắp cho khoản thâm hụt này . Chính vì vậy , trong các năm 1997
và 1998 , chính phủ Brazil đã phải trích ngân sách ra để trang trải .
Tình trạng này kéo dài cho đến năm 2001 , nền kinh tế Brazil mới
tạm thời ổn định trở lại , tuy vậy cũng chỉ là dậm chân tại chỗ thậm chí ,
còn tụt lùi , 1 ví dụ minh chứng là Nền kinh tế Brasil tăng trưởng 4,4%
năm 2000, giảm xuống còn 1,3% năm 2001.
Năm 2002, những dự đoán rằng ứng cử viên tổng thống nhiều triển
vọng Luis Inácio Lula da Silva, sẽ từ chối thanh toán nợ, gây ra một cuộc
khủng hoảng niềm tin sâu sắc khiến nền kinh tế giảm sút tăng trưởng.
Tuy nhiên, khi đã trúng cử Lula tiếp tục theo đuổi các chính sách kinh tế
của người tiền nhiệm. Năm 2003, Tổng thống Lula đưa ra một chương
trình kinh tế kham khổ bằng cách kiểm soát lạm phát và tìm kiếm thặng
dư nhằm đưa tình trạng nợ nần của Brasil về mức ổn định . Có lẽ đây
cũng là lí do mà trong giai đoạn từ 2002-2005 , sự phát triển của Brazil là
không ổn định . Cụ thể : GDP 2002 đạt 2.7% , song tới năm 2003 lại chỉ
còn 1.1% , còn thấp hơn so với năm 2000 . Tới năm 2004 , GDP tăng đột
biến , từ 1.1% lên tới 5.7% . Nhìn vào các số liệu trong những năm này ,
ta có thể thấy được sự bấp bênh , không ổn định trong nền kinh tế Brazil
tại thời điểm này . Nó làm cho Mức tăng trưởng kinh tế của Brasil thấp
22
23
hơn các nước Mỹ Latinh khác và hai cường quốc mới nổi Ấn Độ , Trung
Quốc. Brasil đã tụt 11 bậc trong bảng Chỉ số Tăng trưởng Cạnh tranh của
diễn đàn kinh tế thế giới trong giai đoạn 2003 – 2005 .
Vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, cho nên năm 2005, GDP của

Theo nhiều nhà kinh tế nổi tiếng Brazil, chính sách lãi suất ấy
chẳng những không góp phần làm lành mạnh hoá hệ thống tài chính quốc
gia, mà còn là nguyên nhân giảm thu nhập kinh tế, không hấp dẫn các nhà
đầu tư trong nước, làm giảm (14,8%) vốn đầu tư vào phát triển kinh tế.
Mặc dù vậy, năm 2005, Chính phủ vẫn chỉ đạo Ngân hàng trung
ương hoạt động tốt, đến cuối năm nâng được dự trữ vàng và ngoại tệ lên
53,7 tỷ USD so với 52,7 tỷ USD năm 2004 - thu thuế đạt 35,91% GDP so
với 24,08% GDP năm 2004 và 23,06% GDP năm 2003. Số thu tuyệt đối
về thuế là 372,5 tỷ Real so với 352,5 tỷ Real năm 2004.
24
25
Tăng được như vậy (5,65%) một phần là do kinh tế năm 2005 phát
triển (GDP tăng 2,6%), phần khác là do chính sách thuế được chấp hành
nghiêm túc ở cả người thu thuế, lẫn người nộp thuế, đặc biệt phải nói đến
lĩnh vực các công ty công nghiệp - ở khu vực này năm 2005, thuế nộp
cho ngân sách nhà nước tăng 13,57%, đạt 12,9 tỷ Real so với 11,4 tỷ Real
năm 2004. Ngoài ra, so với năm 2004, năm 2005 thuế thu nhập cá nhân,
thuế bảo đảm xã hội (trích một phần lợi nhuận) nộp ngân sách liên bang
cũng tăng - tương ứng là 22,47% và 20,60%.
Đầu năm 2005 Brazil áp dụng Luật thuế chứng khoán thu vào những cổ
phiếu niêm yết, tiêu thụ ở các sở giao dịch chứng khoán. Mức thuế này là
0,005% tổng giá trị cổ phiếu tiêu thụ được.
Tăng thuế thu nộp ngân sách nhà nước là một trong những nhiệm vụ ưu
tiên hàng đầu của Chính phủ Brazil hiện nay để có tiền trả nợ nhà nước.
Nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà nước và sự chấp hành nghiêm túc các
luật thuế của dân cư và các doanh nghiệp, cho nên năm 2005, ngân sách
nhà nước lại bội thu, cao hơn năm trước, đạt 52,48 tỷ Real (tương đương
2,72% GDP), so với 46,34 tỷ Real năm 2004.
Vấn đề quan trọng trong năm 2005, theo kế hoạch của Chính phủ, là phải
giảm dần nợ nhà nước bằng các nguồn thu nội bộ nền kinh tế và từ nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status