i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên tại Viện Quản trị Kinh doanh –
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã truyền đạt, cung cấp những kiến thức bổ ích,
mang tính thực tiễn cao trong suốt quá trình học tập tại Viện. Tôi cũng xin chân
thành cảm ơn đến các anh chị em đồng nghiệp Công ty Tài chính TNHH MTV
Công nghiệp tàu thủy đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình làm luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS. Vũ Duy Hào,
giảng viên trường Đại học kinh tế quốc dân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả
Trần Tiến Thành
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
Phụ lục 1 113
TÓM TẮT LUẬN VĂN 118
ii
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNTT
CTTC
:
:
Công nghiệp Tàu thủy
Công ty Tài chính
CV : Cho vay
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
QLRRTD : Quản lý rủi ro tín dụng
cầu tín dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển.
Trong những năm qua hoạt động tín dụng đã đạt được những thành tựu
không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Các định chế
tài chính nói chung đã quan tâm hơn đến việc kiểm soát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng,
tập trung vào các hiệu quả của hoạt động tín dụng. Quy trình tín dụng được thực
hiện gần hơn với chuẩn mực quốc tế… Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong
tổng dư nợ của các đinh chế này vẫn còn ở mức cao hơn so với khu vực và trên thế
giới. Vai trò của việc hạn chế rủi ro trong các định chế này chưa lớn, chưa phù hợp
với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập.
Trong khi đó, hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và hội nhập thị trường tài
chính quốc tế nói riêng là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất
kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển hiện nay. Thị trường tài chính mở rộng
phạm vi hoạt động, gần như không biên giới, vừa tạo điều kiện tăng cường hợp tác,
vừa làm sâu sắc thêm quá trình cạnh tranh. Việt Nam cũng thuộc xu thế đó, đang
tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế và khu vực. Tuy nhiên
do mới được hình thành còn khá non trẻ cho nên thị trường tài chính Việt Nam cũng
như các định chế tài chính trong nước tỏ ra yếu kém hơn so với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
CTTC TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy (VFC) cũng không nằm ngoài xu
thế phát triển đó. Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, VFC đang từng bước khẳng
định được vị thế của một trung gian tài chính trong đại gia đình hơn 200 thành viên
của Vinashin, trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh trọng tâm, đóng
góp trên 50% doanh thu hàng năm cho VFC. Từ năm 2005, hoạt động tín dụng của
1
VFC phát triển mạnh mẽ, được mở rộng về cả doanh số cho vay và số lượng khách
hàng. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng còn cao, đặc biệt là rủi ro tín dụng tiềm ẩn từ các
khoản cho vay từ nguồn ủy thác đặt ra yêu cầu bức thiết với công tác hạn chế rủi ro
tín dụng tại VFC. Bên cạnh đó, đứng trên góc độ nhà lãnh đạo của VFC, việc hạn
chế rủi ro tín dụng sẽ giúp cho họ có định hướng tốt hơn cho chiến lược phát triển
của toàn Công ty và đưa ra những quyết định phù hợp.
tổng hợp. Mục đích phỏng vấn nhằm tìm ra định hướng, chỉ tiêu cần đạt được của
Số liệu thứ
cấp, được thu
thập qua các
kênh:
Tổng hợp, phân tích,
đánh giá những kết
quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân.
Đề tài nghiên cứu liên
quan từ sách, báo, tạp
chí, luận văn,
internet…
Báo cáo, quy
trình, quy định
của VFC
Đề xuất giải pháp để khắc
phục những hạn chế
Số liệu sơ cấp , được thu
thập qua việc phỏng vấn
các vị trí lãnh đạo
Các mục tiêu VFC
cần phải đạt được đến
năm 2015
3
Công ty.
4.3. Phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp và phương
pháp thống kê.
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan
Đã có rất nhiều nghiên cứu về việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các CTTC. Tổng
cần có những giải pháp phù hợp.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của CTTC trong Tập đoàn
kinh tế.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại CTTC TNHH
MTV Công nghiệp Tàu thủy.
- Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại CTTC TNHH MTV Công
nghiệp Tàu thủy.
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1. Khái quát về Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1.1.1. Hoạt động của Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm về Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
TĐKT là khái niệm dùng để chỉ một tổ chức kinh tế quy mô lớn, tiềm lực về
kinh tế tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, hoạt động trong nhiều lĩnh vực với phạm vi
rộng trong lãnh thổ một quốc gia hoặc nhiều quốc gia, trong đó có một Công ty mẹ
nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và
chiến lược phát triển. TĐKT là một tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có
chức năng liên kết nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và
tối đa hoá lợi nhuận.
Theo điều 1 nghị định số 81/2008/NĐ-CP ngày 29 tháng 07 năm 2008 về
việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng
10 năm 2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của CTTC thì CTTC là loại
hình tổ chức phi Ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và
các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính ,
tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật nhưng không
được làm dich vụ thanh toán, dịch vụ tiền gửi dưới một năm.
* Phát hành chứng chỉ nợ: Đó là giấy nhận nợ của Công ty, nó sẽ phát hành loại này
khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn.
- Vay từ các tổ chức tín dụng: Các CTTC có thể vay các nguồn vốn từ các TCTD
theo những điều kiện nhất định. Tùy theo cơ chế hoạt động mà vay các hình thức
như: vay mượn trực tiếp, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư từ các TCTD để cho vay các
dự án phát triển.
7
- Vay từ tâp đoàn: Theo hình thức này, các tập đoàn với uy tín của mình đưa ra
phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn rồi chuyển chúng cho CTTC vay.
Hoạt động tín dụng:
- Cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu của các CTTC để tạo lợi nhuận. Hoạt
động này rất đa dạng, phong phú, bao gồm:
* Nếu căn cứ vào thể thức cho vay, bao gồm: Tín dụng ứng trước, thấu chi,
chiết khấu thương phiếu.
* Nếu căn cứ vào đối tượng, hoạt động cho vay gồm: Cho vay theo ngành
nghề, cho vay tiêu dùng, cho các tập đoàn và thành viên vay, cho các tổ chức tín
dụng khác vay.
- Bảo lãnh: là việc CTTC cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp
đồng khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu
bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.CTTC
không bảo lãnh việc bên đối tác có thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình cho bên
thụ hưởng hay không mà chỉ đảm bảo sự thanh toán trong phạm vi số tiền trong
giấy bảo lãnh. Bảo lãnh là sự đảm bảo cho bên thụ hưởng trong trường hợp nếu
những hoạt động được chỉ rõ trong hợp đồng không được thực hiện vì bất kỳ lí do
nào thì bên thụ hưởng sẽ được quyền hưởng tiền đền bù.
- Cho thuê tài sản: Đó là hình thức mà theo đó, khách hàng có thể sử dụng tài
sản vào mục đích nhất định. Đáng chú ý là: nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa
của người cho thuê sẽ bán lại tài sản này cho người đi thuê chậm nhất là khi kết thúc
hợp đồng thì gọi là cho thuê tài chính; nếu không có thì gọi là cho thuê hoạt động.
- Bao thanh toán: Hoạt động này gần giống chiết khấu thương phiếu nhưng
này, phục vụ mục đích mua sắm, tiêu dùng. Hầu hết các khoản cho vay đều được trả
góp định kỳ. Loại cho vay này thường là các món nhỏ với lãi suất cao hơn lãi suất
Ngân hàng để giảm thiểu rủi ro.
- CTTC bán hàng: Cung cấp tín dụng gián tiếp cho người tiêu dùng để mua
sắm các loại hàng do Công ty mẹ hay một nhà sản xuất nào đó bán ra. CTTC này mua
lại khoản nợ của người mua hàng từ người bán hàng và thu nợ người mua hàng.
- CTTC thương mại: Mua những khoản tiền phải thu hoặc chiết khấu các
khoản phải thu của doanh nghiệp. Các khoản phải thu này là vốn lưu động phí dịch
9
vụ chưa thu tiền. Ngoài cách này, các CTTC còn cung cấp các loại hình như: Cho
thuê thiết bị, cho thuê tín dụng,…
Phân loại theo loại hình sở hữu CTTC bao gồm: CTTC TNHH MTV (là
CTTC có chủ sở hữu là một thành viên), CTTC TNHH hai thành viên trở lên (là
CTTC có chủ sở hữu từ 2 thành viên trở lên), CTTC Cổ phần (là CTTC sở hữu theo
hình thức góp vốn cổ phần).
Căn cứ theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ
phân chia CTTC thành các loại: CTTC Nhà nước, CTTC cổ phần, CTTC trực thuộc
các Tổ chức tín dụng, CTTC liên doanh và CTTC 100% vốn nước ngoài
1.1.3. Đặc điểm của Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
(Theo TS. Phan Thị Thu Hà, TS. Nguyễn Thị Thu Thảo (2002), Ngân hàng thương
mại quản trị và nghiệp vụ, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội)
Về mục đích thành lập: CTTC trong TĐKT được thành lập nhằm mục đích
điều hoà vốn và đáp ứng nhu cầu về vốn để phục vụ cho đầu tư và phát triển của
Tập đoàn; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập
đoàn và phục vụ chiến lược phát triển của Tập đoàn.
Về loại hình sở hữu: CTTC trong TĐKT có thể là Công ty 100% vốn thuộc
sở hữu của Tập đoàn hoặc cũng có thể là Công ty sở hữu hỗn hợp trong đó Tập
đoàn nắm giữ số vốn góp chi phối.
Về nội dung hoạt động: CTTC trong TĐKT thực hiện đầy đủ các chức năng,
nhiệm vụ của một CTTC, trong đó chú trọng tới các chức năng, nhiệm vụ đáp ứng
quản lý vốn tập trung, thống nhất, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi, điều hành vốn kịp thời, linh hoạt. Mặt khác, việc hình thành CTTC sẽ giúp
cho các đơn vị thành viên trong Tập đoàn giảm bớt được sự phụ thuộc quá nhiều
về vốn vào hệ thống NHTM.
Việc hình thành các CTTC trong TĐKT góp phần tạo điều kiện giúp Tập
đoàn mở rộng lĩnh vực hoạt động, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, giảm thiểu
11
rủi ro và tìm kiếm những nguồn lợi nhuận mới từ những ngành nghề có khả năng
sinh lợi cao, đồng thời giúp Tập đoàn quản lý, sử dụng một cách tối ưu các nguồn
vốn thông qua việc đảm bảo vốn được đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề, dự án
theo đúng định hướng phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao từ đó góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn. Các CTTC trong các TĐKT trên thế giới
đang ngày càng giữ vị trí quan trọng đối với TĐKT không chỉ vì đem lại mức lợi
nhuận ngày càng lớn mà còn vì những đóng góp cho sự phát triển chung của toàn
Tập đoàn.
1.2. Rủi ro tín dụng của Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1.2.1. Hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính
( Theo TS. Phí Trọng Hiển - Tạp chí ngân hàng, (Số chuyên đề năm 2005)
1.2.1.1. Đặc điểm hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính
Hoạt động tín dụng đối với các Tổ chức tín dụng nói chung
Tín dụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả cho vay và đi vay, là hoạt động
chủ yếu của Ngân hàng và các thể chế tài chính. Tín dụng là hoạt động tài trợ của
TCTD cho khách hàng và khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động tín
dụng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của các TCTD, tạo nguồn lợi nhuận
lớn nhất và cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Có thể khẳng định rằng,
những thành tựu đạt được của hệ thống Ngân hàng tài chính cho đến nay có sự
đóng góp quan trọng của hoạt động tín dụng, thể hiện vai trò chủ lực trong kinh
doanh. Không dừng lại ở đó, tín dụng còn là hoạt động khởi tạo để khách hàng
sử dụng các dịch vụ khác như thanh toán trong nước, thanh toán xuất nhập khẩu,
mua bán ngoại tệ…
vốn nước ngoài. Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập CTTC liên doanh
hoặc 100% vốn nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm
trước thời điểm nộp đơn.
Trong khi Ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công
chúng thì CTTC huy động vốn chủ yếu từ nội bộ Tập đoàn và nhóm công ty. Vì thế
rủi ro xảy ra đối với các CTTC chủ yếu là do nội bộ Tập đoàn hay nhóm công ty
13
gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là
minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thị khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Một trong những hạn chế của CTTC so với các tổ chức Ngân hàng là không
được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi cá nhân. Tuy vậy, các CTTC hiện nay
đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ
nhận ủy thác quản lý vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn,…cho cả
ngắn hạn, trung và dài hạn. Những dịch vụ này đã giúp CTTC thực hiện được các
dịch vụ tương tự như một Ngân hàng thương mại.
Có thể thấy lợi ích CTTC mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn. Chính vì
thế mà Việt Nam hiện nay, các Tập đoàn lớn thường có ít nhất một CTTC. CTTC là
công cụ để Tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi
nhất. Trong phạm vi nội bộ Tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn
bó, CTTC có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành
viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ
CTTC có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trong
trong nội bộ Tập đoàn.
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản trong hoạt động tín dụng giữa một CTTC và
một Ngân hàng thương mại chính là nguồn vốn huy động. Điểm khác biệt này liên
quan đến việc sử dụng nguồn để cấp tín dụng cho khách hàng cũng như kiểm soát
danh mục theo kỳ hạn.
1.2.1.2. Quy trình hoạt động tín dụng
Ý nghĩa của việc thiết lập quy trình tín dụng: Đảm bảo hoạt động cấp tín
dụng diễn ra thống nhất, khoa học, tạo cơ chế giám sát hiệu quả, hạn chế, phòng
đảm bảo khả năng thu nợ.
Bước6: Thanh lý hợp đồng tín dụng
1.2.2. Rủi ro tín dụng tại Công ty Tài chính
1.2.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro theo cách hiểu thông thường là những biến cố không mong đợi khi
xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của tổ chức tín dụng, giảm sút lợi nhuận
thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn
thành một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro là một yếu tố khách quan cho
15
nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện
của chúng cũng như những tác hại do chúng gây nên.
Rủi ro tín dụng: Có thể hiểu một cách đơn giản Rủi ro tín dụng (RRTD) là
khoản lỗ tiềm tàng vốn có được phát sinh khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Hay
theo như Timothy W.Koch thì RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và
thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán
chậm trễ hơn.
Theo Quy định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành theo Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước: “Rủi ro
tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng” được coi là khả năng
xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Như vậy có thế thấy, các cách hiểu về RRTD là tương đối đồng nhất, nó có
nội dung cơ bản là:
- RRTD khi người đi vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp
đồng, bao gồm cả gốc và lãi. Sự sai hẹn này có thể là trễ hẹn hoặc không thanh toán.
- RRTD sẽ dẫn tới tổn thất về tài chính, tức là làm giảm thu nhập ròng và
giảm giá trị thị trường của vốn. Trường hợp xấu có thể dẫn đến thua lỗ, mức độ cao
hơn là dẫn tới phá sản.
Hiện nay, hầu hết các Công ty Tài chính ở Việt Nam được thành lập để phục vụ
đã tập trung cho vay quá mức đối với Công ty Minh Phụng, kết quả khi Công ty
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch Rủi do danh mục
Rủi ro nội tại Rủi ro tập
trung
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro bảo
đảm
Rủi ro lựa
chọn
17
Minh Phụng phá sản đã gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng.
Rủi ro giao dịch (Transaction rish): là một hình thức của rủi ro tín
dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và
xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro liên quan đến việc ra quyết định
cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng, phát sinh do sai sót ở các khâu đánh
giá, thẩm định và xét duyệt khi cho vay hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ ở khâu
theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay hoặc do sơ hở ở khâu đảm bảo và
những cam kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi
ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ:
- Rủi ro lựa chọn xảy ra khi đánh giá, thẩm định, phân tích tín dụng diễn ra
không tốt dẫn đến lựa cho dự án cho vay không hiệu quả, gây tổn thất cho TCTD.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ (rủi ro tác nghiệp): là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt
động cho vay, như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho
việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay có vấn đề; cán bộ tín dụng
làm sai quy chế cho vay…
gạch men, đường cát, vải, quần áo, mỹ phẩm là những ví dụ tiêu biểu cho tình
hình hàng lậu ở nước ta.
Ngoài ra, sự thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý, công khai đã
dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành. Nền kinh tế thị trường tất
yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để
đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn đến sự
chuyển dịch vốn từ ngành này sang ngành khác. Nếu để sự cạnh tranh phát triển
một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ dẫn đến sự gia
tăng quá đáng vốn đầu tư ở một số ngành, gây khủng hoảng thừa, lãng phí tài
nguyên quốc gia.
- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi:
Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều luật và các văn bản hướng
dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Song, việc triển khai
19
vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và gặp phải nhiều vướng mắc. Như việc
cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản luật đều có quy định: "Trong
trường hợp khách hàng không trả được nợ, ngân hàng thương mại có quyền xử lý
tài sản đảm bảo nợ vay", nhưng trên thực tế các TCTD không làm được điều này vì
ngân hàng là tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có
chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để
xử lý hoặc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để tòa án xử lý theo con đường tố tụng
Hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống từ NHNN cũng
cần phải luôn cải thiện, nâng cao chất lượng và nhất là nắm bắt kịp tốc độ cải tiến
công nghệ mới của các TCTD hiện nay. Việc thanh tra tại chỗ là phương pháp quản
lý nhanh nhất và hiệu quả nhất nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro trong
hoạt động tín dụng của các TCTD. Nếu thanh tra ngân hàng chỉ hoạt động một cách
thụ động, không cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu, để khi hậu quả
nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp thì rủi ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn trong toàn
hệ thống là rất lớn.
Hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động tương
vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được
thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng có lúc, có nơi công
việc kiểm tra nội bộ của các TCTD hầu như chỉ tồn tại trên hình thức.
Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đạo đức của
cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín
dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha
hoá về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì nguy hiểm khi được bố trí trong
công tác tín dụng.
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các TCTD thường có thói quen
tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình
kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi TCTD cho vay thì khoản vay cần
phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ thu hồi được vốn. Theo dõi nợ
là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và
của TCTD nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ
các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và TCTD nhằm tìm
21