MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
VÀ PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG 7
I.THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 7
I.1Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ và thị trường bán lẻ: 7
I.1.1Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ: 7
I.1.2Khái niệm và đặc điểm của thị trường bán lẻ 8
I.2Cấu trúc thị trường bán lẻ 10
I.3Vai trò của thị trường hàng hóa bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân 14
II. CÁC PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 16
2.1. Các phương thức thâm nhập thị trường quốc tế 16
2.1.1.Xuất khẩu 16
2.1.2. Dự án chìa khóa trao tay 18
2.1.3. Cấp giấy phép 19
2.1.4. Nhượng quyền thương mại 21
2.1.5. Chi nhánh sở hữu toàn bộ 24
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định phương thức thâm nhập thị trường
26
2.2.1Các yếu tố chuyên biệt của nước lựa chọn 28
2.2.3.Các yếu tố chuyên biệt của doanh nghiệp 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP CỦA CÁC TẬP ĐOÀN
BÁN LẺ NƯỚC NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM 33
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM 33
1.1. Khái quát về thị trường bán lẻ Việt Nam 33
1.1.1 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng 33
1.1.2. Chủ thể tham gia vào thị trường bán lẻ 34
1.1.3 Hàng hóa lưu thông trên thị 37
1.1.4 Các hệ thống phân phối bán lẻ 37
1.2 Phân tích thị trường bán lẻ Việt Nam dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự
lựa chọn phương thức thâm nhập 41
1.3 Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam 73
1.3.1 Môi trường cạnh tranh trở nên khắc nghiệt hơn 73
1.3.2 Nguy cơ bị mất thị phần và bị thâu tóm 75
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ 76
2.1 Nhóm giải pháp từ phía Chính phủ Việt Nam 76
2.1.1 Xây dựng quy hoạch tổng thể cơ sở bán lẻ trên toàn quốc 76
2.1.2 Hoàn thiện các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động phân phối
bán lẻ 77
2.1.3 Hoàn thiện môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong lĩnh vực phân phối bán lẻ theo hướng đảm bảo sự phát triển của
doanh nghiệp trong nước 79
2.1.4 Có các biện pháp hỗ trợ hợp lý các doanh nghiệp trong nước 81
2.2 Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp Việt Nam 82
2.2.1 Tăng quy mô nguồn vốn và khả năng thu hút vốn 82
2.2.3Khắc phục tính thiếu chuyên nghiệp 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thâm nhập thị trường theo
26
Hình 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thâm nhập thị trường 27
Hình 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thâm nhập thị trường 28
Hình 4: Phân loại thị trường bán lẻ Việt Nam 37
Biểu đồ 5: Tổng hợp sự gia tăng số lượng và doanh thu của các loại hình
67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành bán lẻ Việt Nam 33
Biểu đồ 2: Độ rủi ro quốc gia 45
Biểu đồ 3: Đánh giá tiềm năng thị trường các nước trên thế giới 46
Biểu đồ 4: Cơ cấu mức thu nhập của người dân Việt Nam 48
Biểu đồ 5: Dự báo chi tiêu cho tiêu dùng 2008-2012 49
chuyện như Masan Mart sẽ là phổ biến hay những câu chuyện ngược lại sẽ được
nhắc đến nhiều hơn? Liệu các doanh nghiệp trong nước sẽ hành động như thế nào
trước làn sóng ngoại nhập đó?
Để trả lời những câu hỏi này tác giả chọn đề tài “Chiến lược thâm nhập của các tập
đoàn nước ngoài vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Cơ hội và thách thức đối với các
doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài khóa luận.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những phân tích về thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian 1999-
2010 nội dung bài khóa luận sẽ làm rõ những vấn đề sau:
• Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thị trường bán lẻ và các phương
thức thâm nhập thị trường thế giới.
• Đánh giá tổng quan thị trường bán lẻ Việt Nam và phân tích sự lựa chọn
phương thức thâm nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam.
• Nêu ra cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trước sự
thâm nhập của các tập đoàn nước ngoài từ đó đưa ra giải pháp cho sự phát triển của
các doanh nghiệp trong nước.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tiễn lựa chọn phương thức thâm nhập thị
trường Việt Nam của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài do quy mô bài khóa luận và
trình độ người viết có hạn không thể nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn đó là chiến
lược thâm nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài vào thị trường Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu dựa trên các phân tích, đánh giá định lượng
và định tính thông qua một số phương pháp nghiên cứu nhu: phương pháp so sánh,
phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp-phân tích, biểu đồ để làm sáng tỏ,
phong phú thêm lý luận nhằm giải quyết những nhiệm vụ đã đề ra.
5.Kết cấu của bài khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, khóa luận được kết cấu
thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thị trường bán lẻ và phương thức thâm nhập
với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và
bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc gia đình. Nhà bán lẻ
là người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ có rất nhiều hình thức để tiến hành
hoạt động bán lẻ như bán hàng trực tiếp, qua điện thoại , qua máy bán hàng tự động
hay bán hàng trực tuyến.
Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của bán lẻ
như sau:
• Hàng hóa được mua với mục đích tiêu dùng , không mang tính thương
mại do đó hàng hóa đã được trao đổi không còn cơ hội để quay lại thị trường.
Đồng thời người mua hàng cũng là người tiêu dùng cuối cùng. Đây chính là đặc
điểm cơ bản nhất của bán lẻ.
• Khách hàng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng. Thông
thường đối với hoạt động bán lẻ, người bán hàng không có quá trình thăm dò nhu
cầu trước khi tiếp xúc với người tiêu dùng. Khách hàng có khả năng tài chính, có
động cơ mua hàng cụ thể và có quyết định tương đối độc lập.
• Hàng hóa đa dạng và phong phú: Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp
nhiều loại hàng hóa khác nhau, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa
tăng cường hiệu quả kinh doanh trong từng kỳ. Trong các cửa hàng chuyên doanh,
tùy theo từng chủng loại sản phẩm, nhà sản xuất còn đa dạng hóa thành nhiều mặt
hàng có kích cỡ, chất lượng, màu sắc, kiểu dáng… khác nhau để khách hàng có
nhiều sự lựa chọn của khách hàng.
I.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường bán lẻ
Trước khi làm rõ khái niệm về thị trường bán lẻ, tôi xin được đưa ra khái
niệm về thị trường.
Trong kinh tế chính trị học “ thị trường là lĩnh vực lưu thông, ở đó hàng hóa
thực hiện được giá trị của mình tạo ra trong lĩnh vực sản xuất”. Định nghĩa này
muốn khẳng định một điều là giá trị của hàng hóa chỉ có thể thực hiện được thông
qua hoạt động trao đổi, hoạt động trao đổi ấy được diễn ra trong quá trình lưu
thông – một trong những khâu của quá trình tái sản xuất xã hội.
Trong Marketing khái niệm về thị trường cũng dựa trên nền tảng là sự trao
phong phú về chủng loại cũng như nhãn hiệu. Thị trường bán lẻ là nơi diễn ra các
hoạt động phục vụ mục đích tiêu dùng cuối cùng của người mua hàng do đó để
thỏa mãn được nhu cầu rất đa dạng và rất lớn của người tiêu dùng đòi hỏi một số
lượng rất lớn hàng hóa và phong phú về mặt chủng loại. Khác với các công ty sản
xuất chỉ kinh doanh một vài chủng loại của một vài nhóm sản phẩm, các công ty
bán lẻ lại kinh doanh tập hợp các mặt hàng khác nhau của rất nhiều nhãn hiệu hàng
hóa khác nhau để khách hàng có thể thoải mái lựa chọn tùy theo sở thích của mỗi
người.
I.2 Cấu trúc thị trường bán lẻ
Từ cách hiểu về thị trường bán lẻ là nơi mà người mua và người bán tác động
lẫn nhau, trao đổi với nhau ta có thể phân loại thị trường bán lẻ thành hai nhóm
chính đó là thị trường hữu hình và thị trường vô hình. Trong thị trường hữu hình,
người mua và người bán gặp gỡ , trao đổi trực tiếp với nhau ở các địa điểm cung
cấp hàng hóa, dịch vụ hữu hình như các chợ, đại lý, siêu thị, trung tâm thương mại
Trong thị trường vô hình, người mua và người bán không trực tiếp gặp gỡ nhau mà
thông qua các tiến bộ của công nghệ thông tin như internet, điện thoại… và địa
điểm cung cấp hàng hóa dịch vụ cũng là những địa điểm vô hình như các trang web
mua bán trên mạng điển hình như ebay.com, amazon.com, enbac.com… Hình thức
mua bán qua mạng trên thế giới đã phát triển từ rất lâu nhưng ở Việt Nam chỉ mới
nổi lên trong những năm gần đây với tốc độ phát triển rất nhanh chóng và đã hình
thành thị trường bán lẻ vô hình rất sôi động, phong phú với đầy đủ các loại mặt
hàng. Ưu điểm nổi bật của thị trường này đó chính là tốc độ giao dịch lớn và chi phí
mua hàng thấp. Nhược điểm của thị trường này đó là thiếu độ tin cậy do người mua
và người bán không trực tiếp gặp gỡ nhau và rủi ro do bảo mật thông tin còn rất lớn.
Thị trường bán lẻ vô hình hiện nay đang thu hút sự chú ý mạnh mẽ của các nhà bán
lẻ tuy nhiên thị trường bán lẻ hữu hình vẫn đóng vai trò lớn khó lòng thay thế. Do
đó, trong khuôn khổ bài khóa luận tôi xin đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc của thị trường
bán lẻ hữu hình.
Bộ phận chính của thị trường bán lẻ hữu hình là các tổ chức bán lẻ có quy mô
như trung tâm mua sắm, đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng bách hoá, cửa hàng tiện lợi,
các chức năng quản lý chiến lược, chuẩn bị nguồn hàng, cung ứng hàng hóa, quyết
định chính sách bán hàng - giá cả, được tập trung vào doanh nghiệp điều hành,
các cửa hàng chủ yếu chỉ thực hiện nhiệm vụ bán hàng. Dựa vào việc thu mua hàng
loạt với khối lượng lớn và phân phối tập trung, áp dụng tiêu chuẩn chung, phát triển
nhanh thương hiệu với quy mô phân phối mở rộng, có sức mạnh đàm phán với các
nhà cung ứng hàng hóa, nên có thể giảm được chi phí lưu thông, tăng cường năng
lực cạnh tranh của tất cả các thành viên trong chuỗi. Cấu tạo của một chuỗi cửa
hàng gồm 3 thành phần chính: Doanh nghiệp mẹ, trung tâm phân phối và các cửa
hàng thành viên.Tùy theo phương thức liên kết, các chuỗi cửa hàng được phân lọai
theo chuỗi cửa hàng thông thường; chuỗi cửa hàng nhượng quyền; chuỗi cửa hàng
tự nguyện.
Siêu thị là một đơn vị bán lẻ, có diện tích bán hàng từ 400 m
2
trở lên, bán các
loại lương thực, thực phẩm, kể cả hàng tươi sống (hoa quả, rau, thịt, ) cũng như
các hàng hóa khác phục vụ nhu cầu hàng ngày và tiêu dùng ngắn ngày của khách
hàng ở các khu dân cư; hàng hóa được trưng bày trên giá, bán hàng theo phương
thức tự phục vụ hoặc tự phục vụ là chủ yếu, tách biệt cửa ra và cửa vào, thực hiện
thanh toán tập trung. Căn cứ vào cơ cấu chủng loại hàng hóa kinh doanh, có các
siêu thị tổng hợp và siêu thị thực phẩm.
Đại siêu thị: là loại hình bán lẻ thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm một lần của
khách hàng, bao gồm các siêu thị và những cửa hàng tổng hợp và chuyên doanh, có
kho hàng, bãi đỗ xe lớn; việc vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa được tối ưu hóa. Đây là
loại hình bán lẻ có sức cạnh tranh mạnh về giá cả dựa vào tính kinh tế nhờ quy mô
và hiện đại hóa. Địa điểm kinh doanh thường ở khu vực ngoại vi hoặc ở các khu
trung tâm thương mại của thành phố.
Trung tâm mua sắm: là cơ sở bán lẻ tập trung do chủ đầu tư xây dựng theo
quy hoạch, trong đó có bố trí nhiều loại hình bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ăn uống, giải
trí, làm đẹp, ngân hàng, du lịch , có siêu thị hoặc cửa hàng bách hóa, chợ chuyên
doanh, làm hạt nhân, đáp ứng nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí, thể thao, của
Thị trường bán lẻ giúp giải quyết sự khác biệt và không trùng lặp về không
gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Trong nền kinh tế, có sự khác biệt
giữa không gian sản xuất và tiêu dùng do nhiều người sản xuất tại nhiều địa điểm
khác nhau, nhiều người tiêu dùng ở nhiều nơi khác nhau. Thị trường bán lẻ giải
quyết vấn đề khác biệt về mặt không gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng.
Về mặt thời gian, vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian với nhu cầu tiêu
dùng sản phẩm nên phải dự trữ hàng hóa, hơn nữa nhiều hàng hóa sản xuất mang
tính thời vụ còn tiêu dùng xảy ra quanh năm hoặc ngược lại, thị trường bán lẻ tạo
ra sự phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua hoạt động lưu trữ
Thứ hai: Thị trường nói chung là sống còn đối với sản xuất và kinh doanh ,
mục đích của sản xuất hàng hóa là để bán, để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu
dùng. Nói riêng đối với thị trường bán lẻ thì nó quyết định sự tồn tại của người sản
xuất cũng như các nhà bán lẻ. Thị trường cung cấp cho doanh nghiệp những thông
tin cần thiết để tiến hành hoạt động sản xuất và phân phối về nhu cầu thị trường, thị
trường cần cái gì, số lượng bao nhiêu. Từ đó nhà sản xuất và nhà bán lẻ cung cấp
cho thị trường những hàng hóa mà thị trường cần và các doanh nghiệp sẽ nhận lại
được từ thị trường số tiền tương ứng với giá trị hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp
đã cung cấp. Bởi thế mà vai trò của thị trường bán lẻ đối với nhà sản xuất cũng như
nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng, thị trường còn là còn sản xuất và phân phối, mất
thị trường thì mọi hoạt động sản xuất cũng như kinh doanh đều ngưng trệ.
Thứ ba: Thị trường bán lẻ phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc
giữa các vùng các miền tạo thành thể thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhờ
có sản xuất và kinh doanh hàng hóa nói chung và kinh doanh hàng hóa bán lẻ nói
riêng mà hàng hóa có thể có mặt trên bất kỳ thị trường nào, ở bất cứ nơi đâu.
Thứ tư: Với thị trường hàng hóa bán lẻ là nơi cuối cùng định ra giá cả, số
lượng hàng hóa được giao dịch để phục vụ mục đích tiêu dùng cho xã hội. Do đó
nhà nước có thể căn cứ vào những thông tin mà thị trường bán lẻ cung cấp để điều
tiết, hướng dẫn sản xuất và kinh doanh.
Thứ năm: Thị trường hàng hóa bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh
mức sống của dân cư trong xã hội. Thị trường hàng hóa bán lẻ được xem như “
doanh, hợp đồng chìa khóa trao tay, nhượng quyền thương mại, chi nhánh sở hữu
toàn bộ, liên minh chiến lược; hay những phương thức mới như sử dụng mạng
interner, chi nhánh quốc tế, nhà phân phối quốc tế và mua tài sản nước ngoài. Mỗi
phương thức có những đặc điểm và các ưu nhược điểm khác nhau đòi hỏi các doanh
nghiệp cần phải hiểu rõ để có sự lựa chọn tốt nhất khi tiến hành mở rộng ra thị
trường quốc tế. Trong cuốn “ Kinh doanh quốc tế” Charles W.L. Hill đã đưa ra khái
niệm về sáu phương thức thâm nhập được áp dụng phổ biến bao gồm: xuất khẩu,
hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng sử dụng bản quyền, nhượng quyền thương
mại, liên doanh và chi nhánh sở hữu toàn bộ.
2.1.1.Xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang
quốc gia khác. Xuất khẩu được xem là phương thức thâm nhập thị trường nước
ngoài ít rủi ro và chi phí thấp. Theo phương thức này thì doanh nghiệp có thể lựa
chọn một trong hai phương thức đó là xuất khẩu trực tiếp hoặc xuất khẩu gián tiếp.
Phương thức xuất khẩu trực tiếp là doanh nghiệp bán hàng trực tiếp cho khách
hàng ở thị trường nước ngoài. Phương thức này thường áp dụng đối với các công ty
có kinh nghiệm quốc tế , sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Phương
thức này sẽ đem lại lợi nhuận cao nếu nắm bắt đươc nhu cầu thị trường, thị hiếu của
khách hàng , nhưng ngược lại nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thông tin về thị
trường thế giới và đối thủ cạnh tranh thì rủi ro trong phương thức này không phải là
ít.
Phương thức xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của
công ty ra nước ngoài thông qua trung gian. Các trung gian xuất khẩu có thể là đại
lý, công ty kinh doanh xuất khẩu, đại lý vận tải. Phương thức này thường áp dụng
cho các công ty chưa có nhiều kinh nghiệm về thị trường, khách hàng , chưa thông
thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu.
Ưu điểm:
Thứ nhất, ưu điểm đầu tiên khi áp dụng phương thức thâm nhập này đó là
doanh nghiệp có thể giảm thiểu các chi phí cho việc tiến hành kinh doanh, sản xuất
ở nước ngoài do doanh nghiệp không phải chịu những chi phí xuất khẩu trung gian
phương thức thâm nhập này được xem là một hình thức thu lợi nhuận cao từ những
tài sản công nghệ.
Thứ hai, phương thức này đặc biệt rất hữu ích tại những đất nước mà đầu tư
trực tiếp bị giới hạn bởi các quy tắc của chính phủ để bảo hộ các doanh nghiệp
trong nước nên không cho phép các doanh nghiệp nước ngoài đặt chi nhánh tại
nước sở tại.
Thứ ba, phương thức này được xem là ít rủi ro tại những đất nước có nền
chính trị và môi trường kinh tế không ổn định bởi một số phương thức khác như
liên doanh hay thành lập chi nhánh sở hữu toàn bộ đòi hỏi sự đầu tư trong dài hạn
buộc các doanh nghiệp phải thích ứng với nền chính trị biến động và nhiều rủi ro
kinh tế khác.
Nhược điểm:
Tuy nhiên, phương thức này cũng tồn tại ba nhược điểm chính. Thứ nhất là
doanh nghiệp không thu được lợi ích dài hạn từ các dự án chìa khóa trao tay ở nước
ngoài. Thứ hai, doanh nghiệp thực hiện dự án chìa khóa trao tay vô tình tạo ra đối
thủ cạnh tranh ở nước ngoài và đó chính là các khách hàng nhận dự án. Thứ ba,
công nghệ của các doanh nghiệp là một nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh. Khi bán
công nghệ đó thông qua các dự án chìa khóa trao tay thì đồng thời doanh nghiệp
cũng đang bán đi lợi thế cạnh tranh của mình cho đối thủ cạnh tranh tiềm năng .
2.1.3. Cấp giấy phép
Cấp giấy phép là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó công ty
bán giấy phép sẽ trao cho bên mua giấy phép quyền sử dụng các tài sản vô hình mà
họ đang sở hữu trong một thời gian xác định. Để đổi lại, bên mua giấy phép phải trả
tiền bản quyền cho bên bán giấy phép. Số tiền này thường được tính trên cơ sở
doanh thu bán hàng và trả theo kỳ vụ hoặc trả một lần. Các tài sản vô hình có thể
bao gồm bản quyền sáng chế, phát minh, công thức, thiết kế, phương pháp, chương
trình, nhãn mác, sản phẩm và tên gọi sản phẩm đã được đăng ký.
Ưu điểm:
Thứ nhất, công ty sử dụng hợp đồng sử dụng giấy phép để hỗ trợ cho việc mở
rộng hoạt động của mình ra thị trường quốc tế. Hầu hết các hợp đồng sử dụng giấy
là nền tảng tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp đa quốc gia và tất cả các
doanh nghiệp này đều muốn kiểm soát được công nghệ đó sử dụng như thế nào.
Phương thức này có thể khiến doanh nghiệp mất đi sự quyển soát đó một cách
nhanh chóng.
2.1.4. Nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại được xem là một phương thức đặc biệt của hình
thức chuyển nhượng quyền sử dụng bản quyền, trong đó bên nhượng quyền không
chỉ bán những tài sản vô hình (trong trường hợp nhượng quyền thương mại thường
là nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh) mà bên nhận quyền còn phải tiến hành tổ chức
hoạt động kinh doanh theo cách thức mà bên nhượng quyền quy định trong hợp
đồng. Tương tự như phương thức hợp đồng sử dụng bản quyền, bên nhượng quyền
cũng sẽ nhận được một khoản phí, thường tính theo phần trăm dựa trên doanh thu
của bên nhận quyền. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên
nhận quyền trong quá trình kinh doanh. Phương thức này thường được sử dụng với
những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trong khi phương thức hợp đồng sử dụng
bản quyền lại sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất.
Ưu điểm:
Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là hình thức có thể kết hợp tối đa những
lợi thế so sánh của cả hai bên để nâng cao tính cạnh tranh cho sản phảm hàng hóa
hay dịch vụ và như vậy tạo khả năng thành công lớn hơn khi thực hiện. Cả hai bên
có thể khai thác những lợi thế của nhau để phục vụ cho kết quả kinh doanh kể cả
những lợi thế vô hình như uy tín của bên nhượng quyền, vị trí cửa hàng của bên
nhận quyền.
Thứ hai, nhượng quyền thương mại là phương thức có thể nói là tối ưu hóa về
chi phí. Doanh nghiệp sử dụng phương thức này có thể giảm thiểu được hàng loạt
các yếu tố chi phí như chi phí xây dựng văn phòng, nhà máy, chi phí chuyên chở,
chi phí cho nhân viên mà vẫn có thể cùng một lúc thâm nhập vào nhiều thị trường,
mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
Thứ ba, phương thức này có thể hạn chế khá nhiều những rủi ro kinh doanh
của nước lựa chọn do doanh nghiệp không phải kinh doanh trực tiếp trên thị trường
Thứ hai đó là doanh nghiệp sử dụng hình thức này được chia sẻ những chi phí
và rủi ro để thâm nhập vào thị trường nước ngoài , tạo ra một cộng đồng trách
nhiệm trong quá trình điều hành hoạt động của công ty với đối tác ở nước sở tại.
Thứ ba của phương thức đó là khi tham gia vào liên doanh, công ty sẽ dần dần
học hỏi được kinh nghiệm, nắm bắt được nhu cầu thị trường, phát hiện ra các đối
thủ cạnh tranh, thiết lập quan hệ trực tiếp với khách hàng ở thị trường nước ngoài,
tạo tiền đề cho việc thành lập chi nhánh sở hữu toàn bộ của mình tại nước ngoài.
Một ưu điểm khác của phương thức này là ở một số nước thì liên doanh được xem
là phương thức duy nhất để thâm nhập vào thị trường nước đó.
Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm thì các phương thức này cũng tồn tại một số nhược
điểm.
Thứ nhất, tiến hành liên doanh đồng nghĩa với việc phải chia sẻ lợi nhuận với
đối tác nước ngoài.
Thứ hai, những khác biệt trong văn hóa kinh doanh và quản lý giữa các doanh
nghiệp thành viên sẽ dẫn đến bất đồng như khó đi tới sự đồng thuận để tạo thành
một chiến lược kinh doanh chung cho toàn công ty, mục tiêu kinh doanh của các
bên có thể trái ngược nhau, từ đó gây ra những rắc rối trong phối hợp và kiểm soát
hoạt động của liên doanh. Nhược điểm này thường xảy ra trong những trường hợp
liên doanh 50/50 vốn nên để khắc phục được doanh nghiệp nên nắm phần vốn lớn
hơn để giành quyền giải soát.
Thứ ba, khi tham gia liên doanh thì doanh nghiệp phải trao một phần kiểm
soát về quản lý, tài sản, công nghệ… cho doanh nghiệp đối tác của mình. Khi kiến
thức của doanh nghiệp đối tác tăng lên đủ để tự mình kinh doanh và họ không muốn
phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài nữa mà muốn tự mình kinh doanh dẫn đến
liên doanh sẽ dẫn tới đổ vỡ. Nguy cơ tương tự cũng hoàn toàn có thể xảy ra đối với
doanh nghiệp trong nước đó là các doanh nghiệp nước ngoài muốn chấm dứt liên
doanh để thành lập chi nhánh sở hữu toàn bộ cho chính mình.
2.1.5. Chi nhánh sở hữu toàn bộ
Đây được xem là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua
nhuận mà không phải san sẻ với một đối tác khác như các phương thức liên doanh.
Thứ ba, việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động ở các thị trường khác nhau còn giúp cho
công ty nâng cao khả năng phối hợp toàn cầu, thực hiện lợi thế quy mô, lợi thế vị trí
và hỗ trợ cạnh tranh giữa các thị trường. Phương thức này đặc biệt có lợi đối với các
công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu. ( đọc lại lý thuyết về chiến lược toàn cầu của
công ty)
Nhược điểm:
Thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua phương thức thành lập chi nhánh
sở hữu toàn bộ là phương thức mất nhiều chi phí nhất và phải đối mặt với rủi ro cao
nhất do doanh nghiệp phải chịu toàn bộ chi phí và rủi ro vì không được chia sẻ với
doanh nghiệp nào khác cả. Đây là phương thức mà các công ty, tập đoàn có khả