Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN NHÓM
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TIẾN TRÌNH CHỐNG ĐÔ LA HÓA Ở VIỆT NAM
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Thành viên nhóm:
Trần Việt Hùng
Phạm Quang Hưng
Lớp:
Cao học 21H
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
MỤC LỤC
Nhóm 3 _ Cao học 21H 1
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1. Khái niệm về Đô la hóa: 4
2. Phân loại: 4
3. Tác động của đô la hóa đến nền kinh tế 5
3.1 Tác động tích cực 5
3.2 Tác động tiêu cực: 6
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC : 9
1, Campuchia: 9
2, Trung Quốc: 10
3, Một số nước khác: 10
III. THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH HẠN CHẾ ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 11
1. Diễn biến tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam qua các năm 11
tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ.
2. Phân loại:
Đô la hóa có thể được chia làm 3 loại: chính thức, bán chính thức và không
chính thức.
- Đô la hóa chính thức: là khi ngoại tệ trở thành đồng tiền hợp pháp duy nhất
được lưu hành. Nếu một quốc gia thực hiện Đô la hóa chính thức có nghĩa là quốc
gia đó đơn phương lấy đô la Mỹ hoặc một ngoại tệ mạnh nào đó làm phương tiện
thanh toán, tích trữ tài sản, và làm thước đo giá trị thay cho đồng bản tệ. Lúc này,
đồng ngoại tệ thay thế hoàn toàn cho nội tệ trong mọi chức năng của tiền tệ. Một số
quốc gia thực hiện đô la hóa chính thức: Panama, Ecuador, Zimbabwe…
- Đô la hóa bán chính thức: là việc trong nền kinh tế có hệ thống lưu hành
chính thức song song hai loại tiền: đồng ngoại tệ và đồng nội tệ. Chính phủ các nước
này không chính thức công nhận đô la hóa bằng việc dùng đô la Mỹ hoặc một ngoại
tệ mạnh khác thay cho bản tệ, nhưng cho phép khu vực kinh tế bị đô la hóa tồn tại
song song với khu vực kinh tế sử dụng bản tệ. Đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành
hợp pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng,
nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày.
Ví dụ về quốc gia có đô la hóa bán chính thức là Campuchia, Argentina…
- Đô la hóa không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi
trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Ở những
Nhóm 3 _ Cao học 21H 4
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với
việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô
la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước. Việt Nam được xếp vào
nhóm đô la hóa không chính thức.
3. Tác động của đô la hóa đến nền kinh tế
Bất kỳ hiện tượng kinh tế nào cũng có tính 2 mặt. Do đó việc đô la hóa cũng có
những tác động tiêu cực và tích cực nhất định, ảnh hưởng thậm chí là không nhỏ đến
Đô la hóa có thể giúp người ta dự đoán tỷ giá hối đoái dễ dàng hơn. Đối với
những nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi thuộc khu vực sử dụng đồng đô la sẽ giúp
cho họ giảm được những bất ổn trong mua bán và đầu tư quốc tế nảy sinh do biến
động tỷ giá giữa đồng nội tệ và các đồng tiền ngoài khu vực, làm giảm rủi ro tỷ giá,
và do đó, thúc đẩy thương mại quốc tế; điều này lại góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
- Ngoài ra, đô la hóa thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và
phi chính thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động
cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường bất hợp pháp sang thị trường hợp pháp.
- Mặt khác, đô la hóa cũng giúp cho đồng tiền có khả năng tự do chuyển đổi
hoàn toàn ở những nước mà tiền tệ chưa có khả năng chuyển đổi.
3.2 Tác động tiêu cực:
Khi bị đôla hóa, nền kinh tế trong nước phụ thuộc rất lớn vào đồng đô la, đặc
biệt là hệ thống tài chính. Sự ổn định của hê thống tài chính liên quan chặt chẽ vào
đồng đô la. Điều này dẫn tới việc một cuộc khủng hoảng kinh tế bên ngoài có thể
ảnh hưởng nặng nề tới hệ thống tài chính của nước mà có hệ thống tài chính dựa
trên hai đồng tiền. Đô la hóa sẽ làm cho các nước rất khó phản ứng thành công với
các bất ổn, biến động từ bên ngoài vì đã mất đi một công cụ hữu hiệu chống sốc là
chính sách tiền tệ. Điều này làm cho các nền kinh tế đô la hóa dễ bị tổn thương bởi
Nhóm 3 _ Cao học 21H 6
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
các cú sốc ngoại lai và thậm chí còn làm giảm tăng trưởng. Sau đây là những ảnh
hưởng xấu đến nền kinh tế:
- Đô la hóa làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ. Chính sách tiền
tệ của ngân hàng trung ương không phát huy được hiệu quả, bị mất tính độc lập và
chịu nhiều ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng
hoảng kinh tế, cụ thể:
Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó
dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu
thông kém chính xác và kịp thời.
Ở trong các nước đô la hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định.
- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ. Trong trường hợp đô la
hóa chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ do
nước Mỹ quyết định. Trong khi các nước đang phát triển và một nước phát triển như
Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăng
trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những chính sách
tiền tệ khác nhau.
- Hệ thống ngân hàng bị đô la hóa được coi là nguyên nhân của những cuộc
khủng hoảng tài chính trong 2 thập kỷ qua. Một hệ thống như thế này sẽ có rủi ro
cao về thanh khoản và khả năng chi trả. Rủi ro về khả năng chi trả phát sinh bởi sự
khác biệt về đồng tiền huy động và cho vay. Các ngân hàng với một lượng vốn lớn
bằng ngoại tệ có được từ huy động tiền gửi ngoại tệ của công chúng trong nước
buộc phải tìm cách cho vay một phần trong số này cho các đối tượng trong nước, và
như vậy là đã chuyển giao rủi ro tiền tệ sang khách hàng không có biện pháp phòng
hộ rủi ro này, đồng thời vẫn còn giữ lại rủi ro về tín dụng cho mình. Khi bản tệ bị
phá giá, các con nợ của ngân hàng dễ bị mất khả năng thanh toán vì các khoản thu
Nhóm 3 _ Cao học 21H 8
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
của họ phần lớn bằng bản tệ, trong khi họ đi vay ngân hàng bằng ngoại tệ, những
khoản vay này nay đã mở rộng ra nếu tính theo bản tệ bị mất giá. Đối với người gửi
ngoại tệ vào ngân hàng, nếu họ lo ngại rằng ngân hàng mà họ gửi tiền đang có vấn
đề với những khoản cho vay mất khả năng thu hồi của nó, họ sẽ thi nhau rút tiền của
mình ra khỏi ngân hàng. Để đáp ứng được sự rút ồ ạt đó, ngân hàng buộc phải có
một nguồn tài sản ngoại tệ có tính thanh khoản cao đủ lớn hoặc đi vay của ngân
hàng trung ương và các ngân hàng khác. Nhưng những nguồn trên đều có hạn, nhất
là vào thời điểm mà các ngân hàng khác cũng bị rơi vào tình trạng này. Kết cục là sự
sụp đổ của cả một hệ thống ngân hàng.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC :
1, Campuchia:
Campuchia là một quốc gia đa tiền tệ. Theo nghiên cứu của NBC (Ngân hàng
Nhà nước Campuchia), 37% người Campuchia nhận thu nhập bằng đồng Riel,
đô la hoá.
3, Một số nước khác:
Bên cạnh việc tăng dự trữ USD, việc chủ động trong điều hành tỷ giá
cũng là một trong những biện pháp hàng đầu được các nhà điều hành sử dụng.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, trong một nỗ lực chống Đô la
hoá nền kinh tế, Thái Lan và Malaysia đã nâng tỷ giá đồng nội tệ lên gần gấp đôi so
với trước đó. Đồng ringgit của Malaysia được điều chỉnh từ mức 2.5 ringgit/1USD
được nâng lên mức 4 ringgit ăn 1 USD. Tại Thái Lan, 25 bath đổi 1 USD được nâng
lên mức 40 bath/USD. Biện pháp tăng tỷ giá đã giúp giảm tình trạng USD không
chảy vào các ngân hàng, gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh
tế.
Các nước châu Mỹ Latinh, Brazil, Argentina, Mexico vì áp dụng biện pháp
cho gửi tiền bằng tiền đô nhưng khi nhận tiền, rút tiền ra khỏi ngân hàng thì phải rút
Nhóm 3 _ Cao học 21H 10
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
tiền bằng tiền nội tệ. Bài học cụ thể ở Argentina, tháng 1/1999, để chống chọi với sự
ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng ở Mexico, Argentina đã từ bỏ đồng
peso và chấp nhận USD là tiền tệ hợp pháp của quốc gia mình. Tuy nhiên, đến
những năm 2001-2002, ở Argentina đã xảy ra sự sụp đổ của hệ thống NHTM trong
nước. Từ đó, kéo theo một cuộc khủng hoảng tài chính. Tình trạng này xảy ra khi tài
khoản tiền gửi ở các NHTM bị rút hàng loạt và có sự tháo chạy về vốn của các nhà
đầu tư nước ngoài. Với nền kinh tế đô la hóa chính thức, NHTW Argentina không
thể thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM do dự trữ ngoại
hối không đủ lớn. Vì vậy, không thể ngăn chặn được sự sụp đổ của hệ thống
NHTM. Trước tình hình này, một chương trình chống đô la hóa đã được đề ra. Nội
dung cơ bản của chương trình này là: Bắt buộc tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế
phải chuyển tiền gửi tiết kiệm trong các NHTM từ USD sang peso, không cho phép
các ngân hàng cho vay những món mới bằng USD (chỉ cho vay đối với những nhà
xuất khẩu và nhập khẩu). Những hợp đồng giao dịch được niêm yết bằng USD bắt
buộc phải chuyển sang peso tại mức tỷ giá chính thức. Một phần lớn các khoản nợ
vòng 5 năm từ 2002 - 2007 nhờ cung ngoại tệ dồi dào, nhất là cung ngoại tệ
từ việc thu hút vốn nước ngoài);
Nhóm 3 _ Cao học 21H 12
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
- Khá ổn định (khoảng 20%) từ năm 2008 đến nay: nguyên nhân khiến mức độ
đô la hóa không tiếp tục giảm như giai đoạn trước là do thời kỳ này lạm phát
đã tăng cao trở lại, tỷ giá có sức ép tăng, lãi suất ngoại tệ tăng cao (Xem biểu
đồ 1).
Hàng chục năm nay, Đôla Mỹ không những được chấp nhận mà nó còn được
nhiều người bán hàng chỉ định làm phương tiện thanh toán, đôi khi việc thanh toán
bằng Đôla Mỹ còn dễ dàng, nhanh gọn, tiện dụng hơn cả dùng tiền Việt Nam và đây
gần như là phương tiện thanh toán thứ hai tại Việt Nam. Nhiều người Việt Nam gửi
tiền đô la tại ngân hàng, thay vì tiền đồng do lo ngại về tình trạng lạm phát và sự bất
ổn của tiền đồng. Ngoài ra, cho vay bằng USD trong dân cư, cũng như tín dụng
bằng USD trong hệ thống ngân hàng hiện nay rất phổ biến và thị trường đầu cơ
ngoại tệ còn quá lớn.
Doanh nghiệp cũng sử dụng USD nhiều hơn so với thời gian trước đây, vì giá
của các mặt hàng nhập khẩu phụ thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, để tránh rủi ro
tỷ giá cho mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD. Ngoài ra, việc niêm yết giá bằng
USD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử” trong kinh doanh.
Các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, một số cũng đã trả
lương nhân viên bằng USD. Bất Động Sản, Ôtô, thời trang hàng hiệu… cho đến
những đồ uống, đều thanh toán bằng USD. Quản lý một cửa hàng bán xe thương
hiệu Piaggio khẳng định dù trên hợp đồng có ghi hai loại tiền là USD và VND
nhưng quyết định giá bán vẫn theo USD. Thậm chí sử dụng dịch vụ chăm sóc sắc
đẹp, người ta cũng có thể thanh toán bằng Đôla Mỹ, Trung tâm làm đẹp White
Lotus trên đường Phùng Khắc Khoan, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điển
hình. Việc niêm yết giá tour du lịch cũng bằng USD. Không ít trường học cũng
niêm yết học phí bằng bằng USD. Tất cả những dịch vụ kể cả chương trình khuyến
mãi, tặng thẻ thành viên đều được tính bằng USD, ví dụ như: “Chương trình tích lũy
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
phát hiện. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn diễn ra ngầm, chủ yếu qua hình thức điện
thoại, email và trao tiền tận nhà.
2. Nguyên nhân tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam:
Trước hết, đô la hoá là hiện tượng phổ biến xẩy ra ở nhiều nước, thường gặp
khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì
người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ
có uy tín.
Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam là khá cao và liên tục trong thời gian dài khiến cho
đồng nội tệ mất giá. Đây là nguyên nhân được cho là cơ bản và quan trọng nhất dẫn
đến tình trạng đô la hóa. Khi đồng nội tệ không còn giá trị như ban đầu thì cũng là
động lực khiến người dân của nước đó có xu hướng đi tìm một loại tài sản khác có
giá hơn, có thể bảo toàn giá trị cho họ.
Nguồn : Tổng cục thống kê
Cuộc cải cách chính sách Giá – Lương – Tiền năm 1985 thất bại đã khiến nền
kinh tế Việt Nam rơi vào vòng xoáy của sự hỗn loạn. Giai đoạn 1986-1991 là giai
đoạn Việt Nam có lạm phát phi mã lên tới 3 con số (~774,7% năm 1986) khiến cho
niềm tin vào VNĐ sụt giảm nghiêm trọng. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, mặc dù
lạm phát đã được kiềm chế, nhưng vẫn ở mức 2 con số. Điều này khiến cho tiền
Việt Nam đồng mất giá, và tâm lý của đa số người dân là không còn tin tưởng vào
Nhóm 3 _ Cao học 21H 15
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
sự ổn định của nền kinh tế, của đồng tiền nội tệ. Họ muốn tìm đến một tài sản khác
có giá trị hơn để níu giữ tài sản của mình khỏi bị mất giá. Khi đó, vàng và đô la Mỹ
là 2 lựa chọn của người dân. Tuy nhiên nhiều người lựa chọn đô la chứ không phải
vàng do tính tiện lợi trong thanh toán, cất trữ, vận chuyển, khả năng chuyển đổi
Do vậy chính lạm phát là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến đô la hóa tại Việt Nam.
Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại
tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay
làm thước đo giá trị.
gửi tiền bằng đô la. Trong các năm đầu thời kỳ đổi mới 1989 - 1992, lạm phát ở
mức rất cao. Đồng tiền Việt Nam mất giá mạnh so với đồng đô la Mỹ, vàng tăng giá
rất lớn. Do đó nhiều người lựa chọn đô la để cất trưc và gửi ngân hàng. Trong các
năm 1999 - 2010, lãi suất đô la Mỹ trên thị trường tiền tệ quốc tế tăng lên rất cao,
đỉnh diểm giữa năm 2000 lên tới 7,9%/năm. Các ngân hàng thương mại trong nước
tăng lãi suất huy động vốn đô la lên tương ứng, đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc
tế, đem lại lợi ích thu nhập về lãi suất cho người dân và cho hệ thống ngân hàng.
Cũng do tỷ giá ổn định, lãi suất vay vốn đô la Mỹ bình quân chỉ bằng 1/3 lãi suất
vay vốn Việt Nam đồng, nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn vay đô la Mỹ, làm cho tỷ
trọng và số tuyệt đối dư nợ vốn vay đô la Mỹ tăng lên.
Bên cạnh đó nhiều người có tâm lý do sợ sự mất giá của Việt Nam đồng, nên
họ lựa chọn đô la Mỹ để gửi ngân hàng. Thực trạng đó còn do nguyên nhân đồng
tiền Việt Nam mệnh giá còn nhỏ, cao nhất là tờ 500.000 đồng mới được đưa ra lưu
thông vào cuối năm 2003, song tờ 100 USD lại tương ứng với gần 1,6 triệu đồng.
Bởi vậy việc sử dụng đồng đô la tiện lợi trong các giao dịch lớn như: mua bán đất
đai, nhà cửa, ô tô Các hoạt động kinh tế ngầm vẫn diễn biến phức tạp, việc sử
dụng đô la Mỹ tiện lợi hơn nhiều đối với họ.
- Thu nhập bằng đô la Mỹ trong các tầng lớp dân cư ngày càng được mở rộng
và tăng lên. Đó là thu nhập của những người Việt Nam làm việc cho các công ty
nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam; tiền cho người nước ngoài thuê nhà
và kinh doanh du lịch; khách quốc tế đến và chi tiêu đô la bằng tiền mặt ở Việt
Nam; người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam tiêu dùng; tiền của người
Nhóm 3 _ Cao học 21H 17
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về; tiền của những người đi xuất khẩu lao động,
đi học tập, hội thảo, làm việc ngắn ngày mang về.
Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, lượng kiều hối chuyển về
nước ta các năm gần đây không ngừng tăng lên
- Sự phát triển của du lịch: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng nhanh. Số
lượng khách đó mang theo một số lượng lớn ngoại tệ, và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng đô la hóa tại Việt Nam
Các giao dịch quốc tế vẫn ưa chuộng thanh toán bằng USD, rất khó có thể giảm
sự phụ thuộc vào USD trong thanh toán quốc tế. Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, số
lượng doanh nghiệp Việt Nam sử dụng đồng Euro (EUR) hiện đạt chưa tới 30%,
còn lại hơn 70% là giao dịch bằng đồng USD. Các đồng ngoại tệ khác như bảng
Anh, yên Nhật… chỉ được sử dụng ở mức không đáng kể. Thực tế, đồng USD vẫn
là đồng tiền được lựa chọn nhiều nhất cho các giao dịch thanh toán quốc tế không
chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới. Thường chỉ có đồng tiền của những nước đã
phát triển và có nền kinh tế lớn trong top 5 của thế giới như Mỹ, Nhật, Đức, Anh,
Pháp và gần đây là EU, mới được sử dụng, trong số đó lại phổ biến nhất là USD của
Mỹ, vì Mỹ là nước có tỷ trọng thương mại lớn nhất thế giới. Như vậy, vai trò của
USD như một phương tiện thanh toán, chuyển đổi cuối cùng trong thanh toán quốc
tế nói chung là khó có thể thay đổi, ít nhất là trong tương lai gần ở Việt Nam, khiến
cho tình trạng đô la hóa tại Việt Nam ngày càng khó có thể khắc phục.
Sự tiếp tay của truyền thông càng làm tình trạng sùng bái ngoại tệ diễn ra trầm
trọng hơn, từ đó khiến cho việc đô la hóa ngày càng phát triển. Truyền thông ngày
càng làm rầm rộ với những tin về các loại hàng hóa xa xỉ xuất hiện tại Việt Nam –
mà chủ yếu là hàng nhập khẩu, những phi vụ tiêu pha tốn kém được tính bằng tiền
đô chứ không phải tiền Việt… tất cả tạo nên vẻ hào nhoáng cho những thứ tính bằng
tiền ngoại, và từ đó càng khiến cho tâm lý sùng bái ngoại tệ của người dân càng lên
cao. Cứ cái gì được tính bằng đô thì sang hơn và đẳng cấp hơn là được tính bằng
VNĐ. Cứ người nào càng tiêu nhiều ngoại tệ thì người đó càng được truyền thông
Nhóm 3 _ Cao học 21H 19
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
ưu tiên cho xuất hiện nhiều hơn, nổi tiếng hơn và bên cạnh đó là trở thành người
đẳng cấp hơn. Điều này khiến cho người dân càng muốn có nhiều ngoại tệ bên
mình, khiến đô la hóa càng khó bị loại bỏ và bên cạnh đó còn giúp cho những người
nhập khẩu hàng xa xỉ ngày càng được lợi hơn.
- Ngoại tệ chảy vào Việt Nam càng nhiều càng khiến cho việc tiếp cận với đô
la, ngoại tệ càng dễ dàng, góp phần làm cho tình trạng đô la hóa càng mạnh mẽ hơn.
việc NHTW điều hành chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá và có sự kết hợp hài hòa
giữa hai chính sách trên nhằm ổn định giá trị của VND… Thời gian qua cũng đã ghi
nhận thành công của NHNN trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá
USD/VND. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tình trạng người dân sùng bái USD, sử dụng
USD trong thanh toán, cất trữ vẫn ở mức độ cao.
Biện pháp hành chính được thể hiện thông qua chính sách quản lý ngoại hối
của Việt Nam. Chính sách quản lý ngoại hối này được xây dựng và thực hiện bởi
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với sự tham mưu của Vụ quản lý ngoại hối.
Để hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam, một loạt các chính sách liên quan đến
quản lý ngoại hối đã được Quốc hội, chính phủ và NHNN ban hành. Ngày
17/8/1998, nghị định 63/NĐ-CP về quản lý ngoại hối được chính phủ ban hành,
nghị định đã quy định chi tiết các vấn đề liên quan đến giao dịch vãng lai; giao dịch
vốn; hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng và hoán đổi ngoại tệ.
Đối với giao dịch vãng lai, người cư trú là tổ chức có ngoại tệ từ các nguồn
thu vãng lai ở nước ngoài phải chuyển toàn bộ ngoại tệ về VN và gửi vào tài khoản
ngoại tệ mở tại các ngân hàng được phép; Người cư trú là tổ chức được mua ngoại
tệ tại các ngân hàng được phép để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao
dịch được phép khác trên cơ sở xuất trình giấy tờ và chứng từ hợp lệ: Người cư trú
là cá nhân có nhu cầu ngoại tệ để chuyển tiền trợ cấp, thừa kế cho gia đình và người
thân ở nước ngoài, chi phí cho việc đi du lịch, học tập, thăm viếng, chữa bệnh được
phép mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài trên cơ sở xuất trình các giấy tờ có
liên quan và phải xin giấy phép tại NHNN.
Nhóm 3 _ Cao học 21H 21
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
Đối với giao dịch vốn, người cư trú là các tổ chức có ngoại tệ thu được từ các
giao dịch vốn ở nước ngoài phải chuyển toàn bộ về VN và giải vào tài khoản tiền
gửi ngoại tệ tại các ngân hàng được phép; người cư trú là tổ chức khi vay và trả nợ
hoặc cho vay và thu hồi nợ nước ngoài phải thực hiện đăng ký và báo cáo tình hình
thực hiện khoản vay với NHNN, việc chuyển tiền liên quan đến vay, trả nợ, cho vay,
thu hồi nợ phải thực hiện qua các ngân hàng được phép và chỉ được thực hiện sau
tiến tới thực hiện trên lãnh thổ VN chỉ sử dụng đồng VN.
Thứ tư, cơ chế tỷ giá được đổi mới theo hướng linh hoạt hơn đồng thời mở
cửa thị trường ngoại hối, đa dạng hóa các sản phẩm, các công cụ ngoại hối của thị
trường. Pháp lệnh ngoại hối cũng đã quy định hạn chế sử dụng ngoại hối nhằm hạn
chế tình trạng đô la hóa: Nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết,
quản các bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ VN. Hạn chế đến
chấm dứt việc các tổ chức được bán hàng và cung cấp dịch vụ ngoại tệ tại VN. Quy
định cụ thể về việc mở và sử dụng tài khoản, sử dụng ngoại tệ tiền mặt, thẻ thanh
toán và các đồng tiền ở khu vực biên giới: trên lãnh thổ Việt Nam, người cư trú và
không cư trú là cá nhân có thẻ quốc tế được sử dụng thanh toán tại thổ chức tín dụng
được phép và các đơn vị chấp nhận thẻ, các đơn vị chấp nhận thẻ chỉ được thanh
toán bằng đồng VN từ các ngân hàng thanh toán thẻ.
IV. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XÓA BỎ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT
NAM
1. Giải pháp ngắn hạn:
1.1 Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
Lạm phát là một trong hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trang đôla hóa hiện
nay của Việt Nam. Vì vậy để hạn chế và xóa bỏ tình trạng đôla hóa nhà nước cần
phải thực hiện các biện pháp để kiềm chế lạm phát. Bởi kiểm soát được lạm phát thì
giá trị của đồng Việt Nam mới ổn định, người dân mới tin tưởng vào nền kinh tế,
Nhóm 3 _ Cao học 21H 23
Tiến trình chống đô la hóa ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia
vào đồng Việt Nam. Việc nắm giữ đồng ngoại tệ tự nhiên sẽ biến mất. Để kiềm chế
lạm phát cần thực hiện một số giải pháp sau:
- Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt
- Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân
sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ
thâm hụt ngân sách.
- Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh
hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm.
trường ngoại tệ ở Việt Nam.
Việc nhà nước phải sử dụng chính sách kết hối phản ánh một thực tế là doanh
nghiệp không muốn bán ngoại tệ mà họ có. Điều này chỉ có thể vì hai nguyên nhân:
(1) tình trạng khan hiếm ngoại hối trên thị trường khiến các doanh nghiệp đang có
ngoại hối không muốn bán vì lo ngại rằng (nếu bán đi rồi) thì khi họ cần lại không
mua được, và (2) các doanh nghiệp tin rằng giá ngoại hối sẽ tăng lên, khiến cho việc
bán ngoại hối tại thời điểm này là không khôn ngoan. Cả hai nguyên nhân đó đều
phát sinh trên cơ sở mất cân đối trên thị trường (cầu vượt quá cung). Mất cân đối
này đến từ chế độ quản lý tỷ giá mà NHNN đang áp dụng.
Để chính sách kết hối ngoại tệ thực sự hữu ích thì chính phủ cần thực hiện nhất
quán giữa việc kết hối và cung ứng ngoại tệ khi doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng
chính đáng. Như vậy mới có thể tạo dựng được sự tin tưởng của doanh nghiệp vào
chính phủ Từ việc bị bắt buộc phải kết hối, các doanh nghiệp dần dần sẽ tự chủ
động kết hối.
Trung Quốc là một nước thực hiện rất thành công giải quyết vấn đề tỷ giá và
vấn đề mất cân đối về ngoại tệ. Để phối hợp chính sách điều chỉnh tỷ giá và bảo
đảm cân đối cung cầu ngoại tệ, trong các năm từ 1994 đến 1996, Trung quốc đã thực
Nhóm 3 _ Cao học 21H 25