LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc
Huyền, người đã luôn dành cho tôi những tình cảm hết sức tốt đẹp, động viên tôi,
đã tận tâm giúp tôi tiếp cận với những tri thức mới, phương pháp tiếp cận khoa học
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô khoa Khoa học quản lý- Đại học
kinh tế quốc dân đã linh hướng và cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học đầy
đủ nhất về quản lý.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các các bạn đồng nghiệp của tôi tại bệnh viện Việt
Đức đã nhiệt tình giúp đỡ tôi, cung cấp những tài liệu bổ ích, trả lời phỏng vấn, tích
cực tham gia vào sự đánh giá năng lực quản lý của ĐDTK và góp phần vào sự hoàn
thành luận văn của tôi.
Hà Nội, tháng 11/2012
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Văn Uy
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
NỘI DUNG: CÁC TIÊU CHUẨN TRONG QUẢN LÝ ĐIỀU DƯỠNG 120
NỘI DUNG CHI TIẾT 120
NHÓM CÁC TIÊU CHUẨN THỰC HÀNH QUẢN LÝ 120
1.TIÊU CHUẨN 1: ĐÁNH GIÁ ƯỚC LƯỢNG (NĂNG LỰC THU THẬP DỮ LIỆU) 120
2.TIÊU CHUẨN 2: NHẬN ĐỊNH VẤN ĐỀ VÀ XU HƯỚNG VẬN HÀNH 121
3.TIÊU CHUẨN 3: NHẬN DIỆN ĐẦU RA 121
4.TIÊU CHUẨN 4: LẬP KẾ HOACH 122
5.TIÊU CHUẨN 5: TRIỂN KHAI 123
a.Tiêu chuẩn 5A: Sự phối hợp 123
b.Tiêu chuẩn 5B: Tăng cường sức giáo dục sức khỏe 123
c.Tiêu chuẩn 5C: Tư vấn 124
6.TIÊU CHUẨN 6: SỰ ĐÁNH GIÁ 125
B.NHÓM CÁC TIÊU CHUẨN CHUYÊN MÔN 126
7.TIÊU CHUẨN 7: CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH 126
Bảng 2.8. Mẫu phiếu điều tra Error: Reference source not found
Bảng 2.9. Tổng hợp phiếu điều tra Error: Reference source not found
Bảng 2.10. Kết quả điều tra thực trạng về năng lực thực hành quản lý của ĐDTK
Error: Reference source not found
Bảng 2.11. Kết quả điều tra thực trạng năng lực đáp ứng chuyên môn điều
dưỡng và quản lý Error: Reference source not found
Bảng 3.1. Bảng nhu cầu đào tạo của ĐDTK bệnh viên Việt Đức Error:
Reference source not found
HÌNH VẼ
Hình 1.1. Các cấp độ nhà quản lý điều dưỡng trong bệnh viện.Error: Reference
source not found
Hình 1.2. Sơ đồ vai trò nhà quản lý trong bệnh viện Error: Reference source
not found
Hình 1.3. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý chungError: Reference source
not found
Hình 1.4. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý theo cách tiếp cận AONE
Error: Reference source not found
Hình 1.5. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý theo cách tiếp cận của ANA
Error: Reference source not found
Hình 1.6. Quy trình và tiêu chuẩn thực hành quản lý điều dưỡng Error:
Reference source not found
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Bệnh viện Việt Đức Error: Reference source
not found
Hình 2.2. Các cấp quản lý của điều dưỡng bệnh viện Việt ĐứcError: Reference
source not found
Hình 2.3. Sơ đồ yêu cầu năng lực quản lý của ĐDTK Error: Reference source
not found
Hình 2.4: Biểu đồ biểu diễn kết quả điều tra năng lực thực hành quản lý. .Error:
Reference source not found
Hình 2.5. Biểu đồ biểu diễn kết quả điều tra năng lực thu thập dữ liệu Error:
đạo đức trong quyết định và hành động Error: Reference source not
found
Hình 2.21. Biểu đồ biểu diễn kết quả điều tra năng lực tuân thủ pháp luật. .Error:
Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài
Điều dưỡng trưởng khoa có năng lực đóng vai trò rất quan trọng trong sự
thành công của hoạt động chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện. Với tư cách là người
lãnh đạo các nhà điều dưỡng của một khoa, ĐDTK là nhân tố trung tâm trong mối
tương tác giữa người bệnh, ĐDV, bác sỹ, kỹ thuật viên, các nhân viên khác và lãnh
đạo bệnh viện. Họ có trách nhiệm quản lý nhân lực, vật lực, tài chính và thông tin
để đảm bảo cung cấp các dịch vụ điều dưỡng có chất lượng (DeCampli, Kirby, &
Baldwin, 2010).
Ngày nay, vai trò của ĐDTK được xem như một trong những vai trò khó và
phức tạp nhất trong hệ thống y tế (Thrall, 2006). Quan điểm này cũng tương đồng
với quan điểm của Chase (1994), người đã có nghiên cứu về năng lực của ĐDTK,
bà cho rằng “Điều dưỡng trưởng khoa có vai trò quản lý quan trọng vì họ có ảnh
hưởng rất lớn đến sự thành công của tổ chức y tế”. Sanders, Davidson, and Price
(1996) chỉ ra rằng, ĐDTK là người chuyển tải các mục tiêu, sự định hướng, các tiêu
chí của tổ chức y tế (bệnh viện, khoa, phòng, trung tâm điều dưỡng) từ góc độ quản
lý sang thực hành lâm sàng. Vai trò của ĐDTK là cực kỳ quan trọng bởi họ là người
kết nối sự định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức với người cung cấp dịch vụ
chăm sóc hàng ngày cho người bệnh. Họ là người chịu trách nhiệm đối với các hoạt
động chăm sóc người bệnh tại khoa trong suốt 24h (Beuchlin-Telutki et al, 1993;
Thrall, 2006).
Để hình thành và phát triển năng lực cho ĐDTK, ở các nước phát triển, đã áp
dụng rất nhiều hình thức khác nhau như cung cấp kiến thức chính thống từ các
trường, hay các chương trình kèm cặp hỗ trợ (mentorship), hội nghị, hội thảo v.v. Ở
Việt Nam, phần lớn ĐDTK đều không có sự chuẩn bị về các kỹ năng quản lý. Thêm
vào đó cách thức lựa chọn ĐDTK vẫn theo truyền thống cũ, chưa thực sự chọn
bệnh nhân, dẫn đến những sai sót không đáng có. Họ kết luận rằng việc để xảy ra
biến chứng, kéo dài thời gian nằm viện hay gia tăng sự tái nhập viện của người
2
bệnh là hậu quả của thiếu nhân lực điều dưỡng. Bằng những kết quả nghiên cứu thu
được, các nhà y học danh tiếng của Mỹ đã khẳng định tầm quan trọng của tỷ lệ tối
thiểu điều dưỡng/ bệnh nhân để đảm bảo an toàn cho người bệnh. Nghiên cứu của
Health Grades công bố tháng 5 năm 2005 cho thấy, hàng năm có hơn 195.000 bệnh
nhân chết một cách vô ích tại các bệnh viện do các biến chứng liên quan trực tiếp
đến việc thiếu điều dưỡng, năng lực chuyên môn của điều dưỡng và người quản lý
điều dưỡng, trong đó có ĐDTK.
Một nghiên cứu khác của Học viện Khoa học Y học quốc gia Mỹ đã chỉ ra
rằng: “Năng lực điều dưỡng trưởng ảnh hưởng tới những kết quả đầu ra và sự an
toàn của người bệnh”. Việc theo dõi không đầy đủ, thiếu phương tiện làm việc và
sự quá tải công việc trong khi số lượng quản lý điều dưỡng chuyên nghiệp quá thiếu
dẫn đến gia tăng tỷ lệ tử vong và thương tổn cho người bệnh, hàng trăm ngàn bệnh
nhân đã chết ở Mỹ mỗi năm, trong khi những sai sót y tế nói trên có khả năng
phòng ngừa được.
Nghiên cứu gần đây của Linda Kay Chase (2010), “Nurse manager
competencies” trong đó tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực quản lý
của các nhà quản lý điều dưỡng trong bệnh viện. Tác giả còn xây dựng được bộ
công cụ đánh giá quản lý điều dưỡng, và xếp hạng các nhà quản lý điều dưỡng.
Các nghiên cứu này đã cho ta cơ sở lý luận năng lực quản lý của các nhà quản
lý điều dưỡng, xác định khung năng lực quản lý của các cấp quản lý điều dưỡng,
khẳng định được năng lực quản lý của ĐDTK có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng chăm sóc, điều trị người bệnh tại bệnh viện. Các nghiên cứu này là cơ sở để
xây dựng khung năng lực quản lý cho các ĐDTK của nước ta nói chung và bệnh
viện Việt Đức nói riêng.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Vi Nguyệt Hồ và Phạm Đức Mục (2005) về “Hiện trạng
nguồn nhân lực điều dưỡng, những thách thức và tương lai người điều dưỡng Việt
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện hướng tới những mục tiêu cơ bản sau:
4
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực quản lý của ĐDTK.
- Xây dựng khung năng lực quản lý cho điều dưỡng trưởng khoa bệnh viện
Việt Đức.
- Đánh giá năng lực quản lý của các ĐDTK bệnh viện Việt Đức.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho các ĐDTK của
bệnh viện Việt Đức.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, luận văn cần trả lời các câu hỏi cơ bản sau:
- Năng lực quản lý của ĐDTK là gì? Năng lực quản lý của ĐDTK được đo
bằng các tiêu chí nào? Các bộ phận cấu thành năng lực quản lý của điều dưỡng
trưởng khoa? Năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa chịu ảnh hưởng của các
yếu tố cơ bản nào?
- Thực trạng năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa tại bệnh viện Việt
Đức ra sao?
- Cần phải làm gì để nâng cao năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa
tại bệnh viện Việt Đức?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực quản lý của các ĐDTK bệnh viện Việt Đức.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Năng lực quản lý của ĐDTK được xem xét theo cách tiếp cận
của Hiệp hội Điều dưỡng Mỹ, bao gồm năng lực thực hành quản lý, và tiêu chuẩn
hành nghề chuyên môn và quản lý.
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu năng lực quản lý của tất cả các ĐDTK
tại bệnh viện Việt Đức, bao gồm các khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
+ Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập cho giai đoạn 2006 – 2011.
Điều tra được tiến hành từ tháng 5/2012 đến hết tháng 6/2012. Các giải pháp được
đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020.
Về thực hành quản
lý
Vềđáp ứng tiêu
chuẩn hành
nghề chuyên
môn và quản lý
Các giải pháp
nâng cao năng
lực quản lý của
ĐDTK
Năng lực
quản lý
của ĐDTK
đáp ứng
yêu cầu
6
Bước 2: làm rõ yêu cầu năng lực đối với ĐDTK trong bệnh viện Việt Đức
cũng như mức độ quan trọng của từng tiêu chí trong khung năng lực thông qua(1)
khung lý thuyết về năng lực quản lý của ĐDTK và(2) kết quả phỏng vấn sâu 1 lãnh
đạo bộ Y Tế, 3 người trong Ban giám đốc Bệnh viện, 3 chủ nhiệm khoa, 10 trong số
30 ĐDTK, 10 ĐDV trong Bệnh viện.
Bước 3: Thiết kế phiếu điều tra: Các tiêu chí điều tra đưa ra dựa trên khung
năng lực của ĐDTK bệnh viện Việt Đức nhằm đánh giá năng lực quản lý và đánh
giá mức độ quan trọng về năng lực quản lý theo các tiêu chí đối với ĐDTK.
Bước 4: Khảo sát: Phát phiếu và thu thập phiếu điều tra: Mẫu phiếu điều tra
đã phát cho 30 ĐDTK của Bệnh viện, 24 chủ nhiệm khoa và phó chủ nhiệm khoa là
người trực tiếp quản lý các ĐDTK, 100 ĐDV đang làm việc tại các khoa.
Các mức độ năng lực được sắp xếp từ 1 –5 điểm. Trong đó điểm 1: Rất thấp; điểm
2: Thấp; điểm 3: Trung bình; điểm 4: Cao; điểm 5: Rất cao.
Mức độ quan trọng của các yếu tố cấu thành năng lực được sắp xếp từ 1 – 5
dưỡng hỗ trợ người bệnh khi họ không thể tự đáp ứng các nhu cầu về thể chất, tinh
thần, xã hội và sự phát triển cho chính họ. Bà đưa ra ba mức độ chăm sóc và hỗ trợ
như sau:
- Chăm sóc hoàn toàn: áp dụng đối với những người bệnh không có khả
năng tự chăm sóc, theo dõi và kiểm soát các hoạt động của mình.
- Chăm sóc một phần: áp dụng cho những người bệnh cần hỗ trợ một phần
để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của họ.
- Chăm sóc hỗ trợ sự phát triển: hướng dẫn, tư vấn, giáo dục sức khỏe áp
dụng cho những người cần học kiến thức chăm sóc.
Tóm lại: Điều dưỡng trong bệnh viện là hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người
bệnh để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ và nhanh chóng đưa họ từ trạng thái
bệnh về trạng thái bình thường. Các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ bao gồm:hỗ trợ
người bệnh được ăn uống đầy đủ, thở tốt, bài tiết tốt và vận động được; đảm bảo
người bệnh được ngủ và nghỉ ngơi, mặc quần áo thích hợp; duy trì thân nhiệt của
8
người bệnh, hỗ trợ vệ sinh cá nhân cho họ được sạch sẽ; đảm bảo an toàn chongười
bệnh đến bệnh viện; đảm bảo chohọ được giao tiếp bình thường và được tôn trọng
tự do tín ngưỡng.
1.1.1.2. Các nhà điều dưỡng trong bệnh viện
a) Vai trò của các nhà điều dưỡng trong bệnh viện
Các nhà điều dưỡng cung cấp các dịch vụ chăm sóc thể hiện các vai trò như sau:
Người chăm sóc
Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người
bệnh bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người
bệnh và chấp nhận người bệnh là một con người.
Theo học thuyết về chăm sóc của Leiningerm(1965) thì chăm sóc là yếu tố
thiết yếu của điều dưỡng, là một nét đặc biệt và là đặc tính duy nhất của điều
dưỡng. Bà cho rằng: “không có sự chữa bệnh nào mà không có sự chăm sóc nhưng
sự chăm sóc có thể diễn ra mà không có điều trị”. Bà còn cho rằng, chăm sóc là một
hiện tượng phổ biến và rất khác nhau trong các nền văn hóa. Những khác biệt về giá
người khác mang tính cá thể duy nhất, hiểu được những cảm xúc của người khác.
- Chăm sóc con người liên quan tới các giá trị, thiện chí và sự uỷ thác trách
nhiệm đối với những hành động chăm sóc.
- Quan niệm về các giá trị của sự chăm sóc là điểm khởi đầu, là thái độ sẽ trở
thành thiện chí, một dự định, một sự uỷ thác và sự xem xét có ý thức của người làm
công tác chăm sóc.
Người truyền đạt thông tin
Truyền thông có hiệu quả là yếu tố thiết yếu của mọi nghề phục vụ trong đó
có nghề điều dưỡng. Truyền thông quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người
điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên y tế
khác. Nó có vai trò trong mọi hoạt động của người điều dưỡng.
Truyền thông hỗ trợ cho mọi can thiệp điều dưỡng. Người điều dưỡng truyền
thông với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và
việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh. Mỗi khi thực hiện một can
thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng ghi chép vào hồ sơ những nhận xét và những
10
thủ thuật đã thực hiện cũng như mọi đáp ứng của người bệnh. Người điều dưỡng
thường xuyên truyền thông cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca,
mỗi khi chuyển người bệnh tới một khoa khác hoặc khi người bệnh ra viện hay
chuyển tới một cơ sở y tế khác. Loại truyền thông này đòi hỏi phải chính xác, rõ ràng
và phù hợp.
Truyền đạt thông tin cho người bệnh cũng rất quan trọng trong quá trình người
bệnh nằm viện, người điều dưỡng truyền thông với người bệnh và gia đình họ qua
cách giải thích về bệnh tật, hỏi thăm và động viên người bệnh và gia đình người bệnh
để họ yên tâm điều trị.
Người giáo viên
Nhà điều dưỡng là giáo viên cho đồng nghiệp các thế hệ sau, đồng thời là giáo
viên cho người bệnh. Giảng dạy liên quan tới các hoạt động mà người giáo viên hỗ
trợ người học trong việc học tập. Nó là một quá trình tác động qua lại giữa người
giáo viên với một hoặc một số người học. Sự thay đổi hành vi thường đòi hỏi tới
một hình mẫu để hướng dẫn những hành vi mong muốn,phải thể hiện sự quan tâm
tới lợi ích của người khác, phải có suy nghĩ sáng tạo,có thái độ linh hoạt và hài
hước khi tiếp xúc với các đối tượng khác nhau.
Người biện hộ cho người bệnh
Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người khác.
Vì vậy, biện hộ là thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm
những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng.
Ngoài những vai trò cơ bản trên đây, người điều dưỡng còn là chất xúc tác
cho sự thay đổi, hỗ trợ cho người khác thực hiện được sự thay đổi cho chính họ hay
cho hệ thống của họ. Người hỗ trợ cho sự thay đổi cần xác định vấn đề, đánh giá
những yếu tố thúc đẩy người bệnh và có khả năng tạo ra sự thay đổi. Thúc đẩy sự
thay đổi là một phần quan trọng của chăm sóc điều dưỡng. Ngoài ra, người điều
dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người quản lý, người làm công tác nghiên
cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc lâm sàng.
b) Nhà điều dưỡng trong bệnh viện
Nhà điều dưỡng trong bệnh viện là người cung cấp các dịch vụ chăm sóc và
12
hỗ trợ người bệnh nhằm đáp ứng các nhu cầu của người bệnh. Họ là những người
có chức danh điều dưỡng, cụ thể phân loại như sau:
- Theo trình độ đào tạo họ có thể là điều dưỡng trung cấp, điều dưỡng cao
đẳng, điều dưỡng đại học và trên đại học.
- Theo chuyên khoa họ có thể là điều dưỡng ngoại khoa, điều dưỡng nội
khoa, điều dưỡng nhi khoa…
- Theo cấp độ quản lý:
Điều dưỡng trưởng bệnh viện
Điều dưỡng trưởng khối
Điều dưỡng trưởng khoa
Điều dưỡng trưởng khu vực
Điều dưỡng viên
1.1.2. Nhà quản lý điều dưỡng trong bệnh viện
hiện các phương hướng hoạt động, đường lối của điều dưỡng trưởng bệnh viện.
- Điều dưỡng trưởng khu: Là người dưới quyền của ĐDTK, chịu trách nhiệm
quản lý và giám sát các hoạt động của các ĐDV khu vực mình phụ trách, đồng thời
là người trực tiếp thực hiện công việc chăm sóc người bệnh.
Hình 1.1. Các cấp độ nhà quản lý điều dưỡng trong bệnh viện
1.1.3. Điều dưỡng trưởng khoa
1.1.3.1. Vai trò quản lý của điều dưỡng trưởng khoa
Với tư cách một nhà quản lý, ĐDTKthực hiện 3 vai trò: vai trò quan hệ, vai
trò thông tin và vai trò ra quyết định,thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.2.Sơ đồ vai trò nhà quản lý trong bệnh viện
14
Điều dưỡng
trưởng
bệnh viện
Điều dưỡng trưởng khối
Điều dưỡng trưởng khoa
Điều dưỡng trưởng khu vực
Điều dưỡng viên
Nhà quản lý
- Vị thế - Nhiệm vụ - Quyền hạn - Trách nhiệm
- Nghiệp vụ
Vai trò liên kết con người (interpersonal roles)
Nhà quản lý tác động qua lại với những người khác như thế nào?
- Người đại diện - Người lãnh đạo - Người liên lạc
Vai trò thông tin (Informational roles)
Nhà quản lý trao đổi và xử lý thông tin như thế nào?
- Người giám sát - Người truyền bá - Người phát
ngôn
Vai trò quyết định (Decisional roles)
Nhà quản lý sử dụng thông tin trong quá trình ra quyết định
trong các bệnh viện.
Vai trò thông tin
Nhóm vai trò quản lý thứ hai do Mintzberg xác định là vai trò thông tin.
Trong vai trò thông tin, các ĐDTKchịu trách nhiệm đảm bảo rằng những người mà
họ làm việc cùng phải có được thông tin đầy đủ để thực hiện công việc một cách
hữu hiệu. Với trách nhiệm của mình, ĐDTKtrở thành trung tâm thông tin của khoa
và là nguồn thông tin cho những khoa khác trong và bên ngoài tổ chức. Mọi người
trong tổ chức phụ thuộc vào cấu trúc quản lý để truyền bá hoặc được phép tiếp cận
thông tin họ cần để thực hiện công việc.
Một vai trò thông tin mà ĐDTK phải có đó là người giám sát. ĐDTKrà soát
liên tục môi trường bên trong khoa, giám sát hoạt động của các điều dưỡng mà họ
chịu trách nhiệm phụ trách, thu thập thông tin từ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
để thu thập những thông tin cần thiết.
Trong vai trò người truyền bá, ĐDTK chia sẻ và phân bổ thông tin họ nhận
được. ĐDTK chuyển những thông tin quan trọng tới cấp trên, các nhà quản lý cùng
16
cấp, các điều dưỡng viên, v.v. Phụ thuộc vào đặc điểm của thông tin, ĐDTKcó thể
từ chối không cung cấp thông tin cho một đối tượng nào đó. Quan trọng nhất, các
ĐDTKphải đảm bảo rằng nhân viên của họ có được thông tin cần thiết để thực hiện
nhiệm vụ một cách hiệu lực và hiệu quả.
Vai trò thông tin cuối cùng mà ĐDTKđảm trách là người phát ngôn.
ĐDTKphải thường xuyên liên lạc thông tin với các cá nhân bên ngoài khoa và bệnh
viện. Ví dụ, các nhà cung cấp dịch vụ phải được thông báo về chất lượng dịch vụ
mà họ cung cấp hay bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cần được thông báo về tình
trạng sức khỏe, bệnh tật của họ.
Vai trò quyết định
Vai trò quyết định liên quan đến các quá trình quyết định. Ở đây một lần nữa
chúng ta lại thấy vai trò trung tâm của ĐDTK vì chỉ họ mới có thẩm quyền chính
thức đưa ra kế hoạch chăm sóc bệnh nhân.
Một vai trò quyết định mà ĐDTK đảm nhiệm đó là nhà doanh nghiệp. Vai trò
được thực hiện, ai sẽ thực hiện chúng, thực hiện bằng gì và các nhiệm vụ đó được
phối hợp như thế nào. Các ĐDTK tổ chức các thành viên trong nhóm làm việc của
mình và của toàn khoa, hỗ trợ họ bằng công nghệ và các nguồn lực khác, nhờ vậy
các nhiệm vụ được thực hiện trôi chảy, các nguồn lực được sử dụng hợp lý và hiệu
quả. Các vấn đề về văn hoá của tổ chức và quản lý nguồn nhân lực cũng là các yếu
tố cơ bản của chức năng này.
c. Lãnh đạo
Lãnh đạo là quá trình khơi dậy và nâng cao động lực làm việc cho con người
nhằm đạt tới các mục tiêu kế hoạch. Thông qua lãnh đạo, các ĐDTK tạo sự cam kết
đối với tầm nhìn chung, khuyến khích các hoạt động hỗ trợ cho mục tiêu, gây ảnh
hưởng lên các ĐDV để họ thực hiện công việc một cách tốt nhất vì lợi ích của toàn
bệnh viện. Do môi trường đầy phức tạp và thay đổi nhanh chóng, các kỹ năng lãnh
đạo trở nên ngày càng quan trọng đối với các ĐDTK. Vì vậy chúng ta tin tưởng
rằng các ĐDTK ngày hôm nay cũng phải là một nhà lãnh đạo của bệnh viện.
Trong môi trường ngày nay, ĐDTK phải biết nhìn xa trông rộng - có khả
năng nhìn trước tương lai, chia sẻ tầm nhìn, trao quyền cho nhân viên để hiện thực
18
hoá tầm nhìn, góp phần xây dựng văn hóa bệnh viện phát triển. Để trở thành các nhà
lãnh đạo có hiệu lực, ĐDTKphải hiểu động lực của các cá nhân và nhóm, có khả
năng khuyến khích con người, phải là người truyền thông hữu hiệu. Chỉ có thông qua
sự lãnh đạo hữu hiệu mới có thể đạt được các mục tiêu của các hệ thống y tế.
d. Kiểm soát
Các ĐDTK phải làm chủ được quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược và kế hoạch
hành động. Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt
động để đảm bảo sự thực hiện theo các kế hoạch.Kiểm soát giúp xác định khoảng
cách giữa kế hoạch và kết quả thực tế. Kiểm soát là một chức năng quan trọng của
quá trình quản lý bởi vì nó đưa ra các biện pháp để đảm bảo rằng hệ thống đang vận
hành đúng hướng về phía các mục tiêu đã đề ra. Các ĐDTK muốn biết cụ thể ba
điều: hiệu lực của kế hoạch – mức độ đạt được mục tiêu, hiệu quả - nguồn lực phải
sử dụng để đạt được một kết quả nào đó, và năng suất - số lượng và chất lượng của