ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG, LỊCH SỬ-
TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH ĐẮK LẮK
Người soạn : Trần Loan
Thời gian: 10 tiết
Đối tượng: Trung cấp lý luận chính trị-hành chính
Thời gian soạn: Tháng 6 năm 2013
A. Mục đích và yêu cầu của bài giảng.
Mục đích: trang bị cho người học kiến thức cơ bản về điều kiện tự nhiên, dân số,
lao động, lịch sử-truyền thống của tỉnh Đắk Lắk
Yêu cầu: nắm bắt kiến thức cơ bản để vận dụng trong phát triển kinh tế-xã hội,
an ninh chính trị và phát triển văn hóa
B. Kết cấu và thời gian bài giảng
I. Điều kiện tự nhiên (180 phút)
1. Vị trí địa lý, địa hình địa mạo, khí hậu thời tiết, thuỷ văn (120 phút)
2. Tài nguyên thiên nhiên (60 phút)
II. Hành chính dân tộc-dân cư-lao động (95 phút)
1. Hành chính (60 phút)
2. Dân tộc-dân cư-lao động (35 phút)
III. Lịch sử - truyền thống (160 phút)
1. Lịch sử (70 phút)
2. Văn hóa truyền thống (70 phút)
3. Di tích lịch sử (20 phút)
- Phần trọng tâm của bài: phần I, mục 1 phần II và mục 1,2 phần III
C. Phương pháp
Phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình kết hợp với phát vấn
Phương pháp tình huống…
Máy Projector
D. Tài liệu tham khảo:
- 13
o
25’06” độ vĩ Bắc
- Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai
- Phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng
- Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà
- Phía Tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đăk Nông.
Là tỉnh có đường biên giới dài 74 km chung với nước Cam Pu Chia, trên đó có
quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng.
Thành phố Buôn Ma Thuột_đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk là trung tâm
chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên. Trung tâm thành
phố là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 (chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều từ Bắc xuống
Nam) với quốc lộ 26 và quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với các thành phố Nha Trang
(Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Pleiku (Gia Lai).
b. Địa hình địa mạo
Đại bộ phận diện tích của tỉnh nằm ở phía Tây Trường Sơn, có hướng thấp dần
từ Đông Nam sang Tây Bắc. Địa hình đa dạng đồi núi xen kẻ bình nguyên và thung
lũng, khái quát có thể chia thành các dạng địa hình chính sau:
b1. Địa hình vùng núi
* Vùng núi cao Chư Yang Sin: nằm ở phía Đông Nam của tỉnh với diện tích
xấp xỉ bằng ¼ diện tích tự nhiên toàn tỉnh, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột
và cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng), vùng có nhiều dãy núi cao trên 1.500 mét cao
nhất là đỉnh Chư Yang Sin 2.445 mét, có đỉnh nhọn, dốc đứng, địa hình hiểm trở. Đây
là vùng sinh thuỷ lớn nhất, đầu nguồn của các con sông lớn như Krông Ana, Krông
Knô và là vùng có thảm thực vật rừng thường xanh quanh năm.
2
* Vùng núi thấp, trung bình Chư Dơ Jiu: nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, ngăn
cách thung lũng sông Ba (Gia Lai) và cao nguyên Buôn Ma Thuột, độ cao trung bình
600-700 m, đỉnh Chư Dơ Jiu cao 1.103m. Địa hình bào mòn, xâm thực, thực vật gồm
c. Khí hậu thời tiết
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đắk Lắk vừa chịu sự chi phối
của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu.
Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường sơn, đó là nhiệt
độ trung bình không cao, mùa hè mưa nhiều ít nắng bức do chịu ảnh hưởng của gió
mùa Tây nam, mùa đông mưa ít. Vùng phía Đông và Đông Bắc thuộc các huyện
M’Drăk, Ea Kar, Krông Năng là vùng khí hậu trung gian, chịu ảnh hưởng khí hậu Tây
và Đông Trường Sơn.
Nhìn chung thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9,
lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía Đông do chịu ảnh hưởng
của Đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi
lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.
3
Các đặc trưng khí hậu:
* Nhiệt độ: đặc điểm nổi bật của chế độ nhiệt ở Tây Nguyên là hạ thấp theo độ
cao tăng lên. Nhiệt độ trung bình ở độ cao 500 - 800m giao động từ 22 -23
0
C, những
vùng có độ cao thấp như Buôn Ma Thuột nhiệt độ trung bình 23,7
0
C, M’Drăk nhiệt độ
24
0
C. Tổng nhiệt độ năm cũng giảm dần theo độ cao, ở độ cao < 800m tổng nhiệt độ
năm đạt 8000-9500
0
C, độ cao > 800m có tổng nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 7500-
8000
+ Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi các tháng 2,3,4 đạt từ 150 -200 mm. Tổng
lượng bốc hơi trung bình năm 1300-1500mm bằng 70% lượng mưa năm chủ yếu vào
mùa khô.
+ Chế độ nắng: tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khá cao khoảng 2139 giờ,
năm cao nhất 2323 giờ, năm thấp nhất khoảng 1991 giờ. Trong đó mùa khô số giờ
nắng trung bình cao hơn (1.167 giờ) so với mùa mưa (972 giờ).
+ Chế độ gió: có 2 hướng gió chính theo 2 mùa, mùa mưa gió Tây Nam thịnh
hành thường thổi nhẹ khoảng cấp 2, cấp 3. Mùa khô gió Đông Bắc thịnh hành thường
thổi mạnh cấp 3, cấp 4 có lúc gió mạnh lên cấp 6, cấp 7. Mùa khô gió tốc độ lớn
thường gây khô hạn.
Tóm lại khí hậu Đắk Lắk vừa mang nét chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa
vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng cao nguyên nên phù hợp với nhiều loại cây
trồng. Tuy nhiên do chế độ thời tiết có 2 mùa rõ rệt, mùa khô thiếu nước cho sản xuất
và sinh hoạt, mùa mưa lượng mưa lớn tập trung gây lũ lụt một số vùng. Lượng mưa
lớn cũng gây xói mòn và rửa trôi đất đai.
d. Thuỷ văn
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng
đều, nhưng do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như
không có nước trong mùa khô nên mực nước các sông suối lớn thường xuống rất thấp.
Trên địa bàn có hai hệ thông sông chính chảy qua là hệ thống sông Srêpok và sông Ba.
4
Hệ thống sông Srêpok có diện tích lưu vực chiếm tới 2/3 diện tích lãnh thổ bao gồm
lưu vực dòng chính Srêpok và tiểu lưu vực Ea H’Leo; hệ thống sông Ba không chảy
qua Đắk Lắk nhưng ở phía Đông và Đông Bắc của tỉnh có 2 nhánh thuộc thượng
nguồn sông Ba là sông Krông H’Năng và sông Hinh.
d1. Sông Srêpok
Sông Srêpok là chi lưu cấp I của sông Mê Kông do 2 nhánh Krông Ana và
Krông Knô hợp thành, dòng chính tương đối dốc, chảy từ độ cao 400m hợp lưu xuống
còn 150m ở biên giới Cam Pu Chia. Diện tích lưu vực của dòng chính là 4.200 km
2
chính là suối Ea Súp có diện tích lưu vực 994 km
2
chiều dài 104 km. Trên dòng suối
này đã xây dựng 2 công trình thuỷ lợi lớn Ea Sup hạ và Ea Sup thượng để tưới cho
vùng Ea Súp với diện tích trên 10.000 ha. Đây là 2 công trình quan trọng có ảnh hưởng
rất lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân huyện Ea Sup.
d3. Sông Krông H’Năng và sông Hinh
+ Sông Krông H’Năng: bắt nguồn từ dãy núi Chư Tun có độ cao 1200m, sông
chảy theo hướng Bắc Nam đến huyện Ea Kar chuyển hướng Tây – Đông sau đó
chuyển hướng Nam- Bắc rồi nhập với sông Ba ở vùng giáp giới giữa Gia Lai và Phú
Yên. Sông có chiều dài 130km với diện tích lưu vực 1840 km
2
.
+ Sông Hinh: bắt nguồn từ dãy núi cao Cư Mu với đỉnh cao 2051 m, chiều dài
dòng sông chính 88 km, lưu vực 1040 km
2.
.
Hai dòng sông này có tiềm năng thuỷ điện, còn khả năng cấp nước cho sản xuất
không nhiều do địa hình dốc và đất nông nghiệp ít.
Ngoài các sông lớn nêu trên, hệ thống sông suối vừa và nhỏ cũng khá phong
phú, tuy nhiên một số suối không có nước trong mùa khô, nhất là khu vực Ea Sup -
Buôn Đôn. Trong những năm gần đây tình hình thời tiết có nhiều biến đổi, lượng mưa
thấp, tình trạng tài nguyên rừng bị suy giảm, mức độ khai thác nguồn nước ngầm
5
không kiểm soát được là những nguyên nhân làm cho tình trạng hạn hán gay gắt và
thiếu nước nghiêm trọng.
2.Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên đất
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đăk Lăk, đó là tài
nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm
Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo
cho Đăk Lăk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc. Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh có
khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là
các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sông Krông Ana thuộc các huyện:Krông Ana,
Krông Pắc, Lăk,
- Nguồn nước ngầm:
Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại
chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:
6
Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH =
7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.
c. Tài nguyên rừng
Là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về rừng với gần 1 triệu ha đất Nông,
Lâm nghiệp, trong đó trên 600.000 ha có rừng, độ che phủ của rừng ở đây là 50%. Ở
đây có Vườn quốc gia Yok Đôn rộng trên 115.500 ha, là khu Vườn quốc gia lớn nhất
Việt Nam.
Ngoài ra, Đắk Lắk còn có 4 Rừng đặc dụng là: Vườn quốc gia Chư Yang Sin
huyện Krông Bông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar huyện Lắk và Rừng lịch sử văn
hóa môi trường Hồ Lắk huyện Lắk, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô huyện Ea Kar mỗi
khu có diện tích từ 20 đến 60 nghìn ha.
Rừng Đăk Lăk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành
lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đăk Lăk phong phú và đa dạng, thường
có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có
giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên
rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống
xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đăk Lăk có nhiều loại
động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn
Nam Kar, Chư Yangsin với những thảm rừng đa sinh thái với hơn 3 nghìn loài cây,
93 loài thú, 197 loài chim có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta
và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng
Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrăk, dưới có 440 làng.
Ngày 15 tháng 4 năm 1950 Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt Cao nguyên Trung
phần, trong đó có Đắk Lắk, làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng.
Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày 2
tháng 7 năm 1958 ấn định tỉnh Đắk Lắk (được ghi là Darlac) có 5 quận, 21 tổng và 77
xã:
Quận Ban Mê Thuột có 4 tổng: Ea Tam (10 xã), Cư Keh (4 xã), Cư Ewi (6 xã),
Đrai Sap (5 xã).
Quận Lạc Thiện (đổi tên từ quận Lăk) có 7 tổng: Đak Lieng (3 xã), Yang Lak (3
xã), Krong Ana (4 xã), Krong Bong (4 xã), Đak Phoi (2 xã), Đak Rohhyo (2 xã), Nam
Ka (2 xã).
Quận M'Đrak có 4 tổng: Krong Jing (2 xã), Krong Hing (3 xã), Ea Bar (3 xã),
Krong Pa (4 xã).
Quận Đak Song có 2 tổng: Đak Mil (2 xã), Đak Thoc (3 xã).
Quận Buôn Hồ có 4 tổng: Cư Đlieya (4 xã), Cư Kuk (3 xã), Cư Kti (5 xã), Cư
Đrê (4 xã).
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tách gần như toàn bộ quận Đak Song của
tỉnh Darlac, lập ra tỉnh Quảng Đức vào ngày 23 tháng 1 năm 1959. Như vậy tỉnh
Darlac còn lại 4 quận. Sau đó quận M'Đrak lại bị xé lẻ, một phần nhập vào tỉnh Khánh
Hòa.
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, lập thêm một quận mới tên là Phước An, quận lỵ
đặt tại Phước Trạch, đến ngày 1 tháng 9 năm 1965 chuyển về Thuận Hiếu. Sau này lại
bỏ cấp tổng, nên chỉ còn cấp quận (4 quận) và xã.
Tỉnh Đắk Lắk của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 hình thành từ hai tỉnh
Darlac và Quảng Đức, có diện tích lớn thứ hai Việt Nam sau tỉnh Gia Lai-Kon Tum,
gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 5 huyện: Krông Buk, Krông Pach (tức Krông Pak), Đăk
Mil, Đăk Nông và Lăk. Tỉnh chỉ lớn nhất nước khi tỉnh Gia Lai-Kon Tum tách làm
đôi, khi đó Đắk Lắk diện tích 19.800 km². Số huyện tăng dần cho đến 18 huyện. Từ 1
tháng 1 năm 2004, Đắk Lắk lại được chia thành hai tỉnh: Đăk Lăk và Đăk Nông, nên
số huyện giảm xuống còn 13.
Ngày 23-10-1978, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 271/CP thành lập xã
Chuor Knir (xã kinh tế mới thuộc thị xã Buôn Ma Thuột).
Ngày 19-09-1981, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 75.HĐBT thành lập
Huyện Krông Ana trên cơ sở tách 4 xã Ea Na, Ea Bông, Ea Tiêu, Quảng Điền của thị
xã Buôn Ma Thuột và 3 xã thuộc huyện Krông Pach.
Ngày 26-01-1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 09/HĐBT chia xã Chư
Jut của thị xã Buôn Ma Thuột thành 3 xã là Nam Dong, Ea Pô, Ea T’ling.
Ngày 14-09-1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 125/HĐBT chia xã Ea
T’ling thành xã mới là Ea T’ling (mới), Tâm Thắng, Trúc Sơn.
Ngày 19-06-1990, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 227/HĐBT thành lập
huyện Chư Jut trên cơ sở cắt 5 xã của thị xã Buôn Ma Thuột là xã Ea T’ling, Tâm
Thắng, Trúc Sơn, Ea Pô, Nam Dong và xã Dak La của huyện Dak Mil.
Thị xã Buôn Ma Thuột còn 7 phường: Tự An, Thắng Lợi, Tân Thành, Tân Tiến,
Thống Nhất, Tân Lập, Thành Công; và 12 xã: Hòa Phú, Hòa Khánh, Hòa Thắng, Hòa
Đông, Hòa Xuân, Hòa Thuận, Ea Kao, Ea Tu, Chư Ebur, Ea Tam, Ea Nhuol, Chour
Knir. Diện tích tự nhiên là 61.300 ha với 228.535 người.
Ngày 20-04-1992, Bộ Xây dựng ký quyết định số 69/BXD-ĐT phê duyệt quy
hoạch tổng thể thị xã Buôn Ma Thuột đến năm 2000 với các tiêu chí: tính chất đô thị,
quy mô dân số và đất xây dựng, định hướng phát triển không gian, cơ cấu quy hoạch
và phân khu chức năng, mạng lưới cơ sở kỹ thuật hạ tầng.
Ngày 29-08-1994, Chính phủ ra nghị định số 110/CP thành lập xã Ea Bar trên
cơ sở tách một phần diện tích tự nhiên và dân số của 2 xã Chuor Knir và xã Chư Ebur.
Xã Ea Bar có diện tích tự nhiên 3.730 ha và 14.124 người.
9
Ngày 21-01-1995, Chính phủ ra nghị định số 08/CP thành lập thành phố Buôn
Ma Thuột:
1. Thành lập thành phố Buôn Ma Thuột trên cơ sở thị xã Buôn Ma Thuột.
2. Thành lập phường mới và chuyển một số xã của thành phố Buôn Ma Thuột về
các huyện:
a. Thành lập các phường: phường Ea Tam trên cơ sở xã Ea Tam; phường
138 tổ dân phố, 72 thôn, 33 buôn (có 8 buôn trong nội thị).
Địa giới hành chính hiện nay:
10
Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125 km2, dân số gần 1,8 triệu người, có
44 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 30%; có 4 tôn giáo chính với
trên 40 vạn đồng bào theo đạo, chiếm 24%.
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 132 người/km2, nhưng phân bố không đều
trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn huyện
lỵ, ven các trục quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar,
Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn
như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Drắk, Ea Hleo v.v… Các dân tộc thiểu
số sinh sống ở 125/170 xã trên địa bàn tỉnh, nhưng phần lớn tập trung ở các xã vùng
cao, vùng xa. Ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các
tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp. Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên trung bình hàng năm giảm từ 24,4% năm 2000 xuống còn 14,2% vào năm 2008.
Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu
là di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản
xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái.
Hiện Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện
(với 184 xã, phường và thị trấn):
* Thành phố Buôn Ma Thuột
* Thị xã Buôn Hồ (thành lập ngày 23 tháng 12 năm 2008, tách từ huyện Krông
Buk)
* Huyện Buôn Đôn (thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1995, tách từ huyện Ea
Súp)
* Huyện Cư Kuin (thành lập ngày 27 tháng 08 năm 2007, tách từ huyện Krông
Ana)
* Huyện Cư M'gar (thành lập ngày 23 tháng 1 năm 1984, tách từ huyện Ea Súp)
* Huyện Ea H'leo (thành lập ngày 3 tháng 4 năm 1980, tách từ huyện Krông
Buk)
Dân tộc Mnông 3,51%,
Dân tộc Tày 3,03%
Dân tộc Thái 1,04%
Dân tộc Dao 0,86%
Từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Đăk Lăk tuy có truyền thống và bản
sắc riêng độc đáo, nhưng đã cùng nhau đoàn kết, xây dựng quê hương và hình thành
nên một nền văn hoá phong phú và giàu bản sắc.
Dân số tỉnh năm 2009 là 1.733.113 người người, mật độ dân số 132 người/km2,
trong đó:
Nam: 873.654 người
Nữ: 854.726 người
Đắk Lắk có 44 dân tộc, trong đó người Ê Đê và người M'Nông là những dân tộc
bản địa chính.
Dân số Đắk Lắk qua các thời kỳ:
Năm 1979: 523.700 người (khi đó diện tích tỉnh là 19.208 km²)
Năm 2005: 1.714.855 người.
Năm 2010: 1.754.390 người.
12
*, Lao động:
BIỂU ĐỒ DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG
13
Tôn giáo Đắk Lắk
STT Tên tôn giáo Sau khi Tây Nguyên
giải phóng (người)
Năm 2002
(người)
Tăng (%) Ghi chú
1 Phật giáo 110.500 124.236 11,2
2 Thiên Chúa
giáo
Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt
tôn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với
đồng bằng; mặt khác đã có những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người
Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.
Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi,
kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây. Ông đã cho di dân lên lập ấp trên miền
núi, mở mang buôn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù,
tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá. Từ đó cho đến các đời
vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Đắk Lắk được gọi là trấn Man, do triều
đình gián tiếp quản lý. Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về
quân sự, nhà Nguyễn lập ra một số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới
và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do
thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu
xâm lược Tây Nguyên, Đắk Lắk. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh
15
chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk
Lắk.
Sau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị,
thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk vào năm 1904 theo Nghị định của Tòan
quyền Đông Dương. Chúng chia Đắk Lắk làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện
chính sách "chia để trị". Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bóc lột hà khắc đó, đồng bào
các dân tộc Đắk Lắk đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự
lãnh đạo của các vị Tù trưởng. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi
nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914),
cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 – 1909). Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của
đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm
(1912-1935) lôi cuốn đồng bào các dân tộc, không chỉ ở cao nguyên Dak Nông, mà cả
Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.
Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền
Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta. Cùng với nhân
dân cả nước đồng bào các dân tộc Đắk Lắk tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại
những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.
Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập
trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Đắk Lắk thành một địa
bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng
bào các dân tộc Đắk Lắk. Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề
nhất, quân dân các dân tộc đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập
tan các âm mưu, thủ đọan của kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi
phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công
và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy
1969-1972. Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở
đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc,
mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ
nghĩa xã hội.
Kể từ khi chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ra đời ở Đắk Lắk (năm
1940), đến nay Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã trải qua 15 kỳ đại hội. Với sự lãnh đạo của
Đảng bộ Đắk Lắk tình hình kinh tế-xã hội có nhiều biến chuyển, thích nghi với tình
hình mới
Sau 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, kinh tế - xã hội của
tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, phát triển khá toàn diện. Kinh tế tăng
trưởng ở mức khá cao và liên tục. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm
2005 - 2010 đạt 12,1%/năm. Quy mô nền kinh tế tăng mạnh, năm 2010 tổng GDP đạt
12.810 tỉ đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2005. Thu cân đối ngân sách trên địa bàn tăng
nhanh, bình quân đạt 23,94%/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10% (theo tiêu chí cũ).
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt khoảng 29.436 tỉ đồng, bằng 31,8% GDP, tăng
28,46% so với kế hoạch. Các chương trình, đề án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
ngày càng có trọng tâm, trọng điểm hơn, đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị và
nông thôn. Riêng năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 13%; thu ngân sách trên
rộng khắp cao nguyên Êđê, gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn. Tháng 1-1905, nhờ
có tin mật báo, quân Pháp vây và bắt ông. Chúng tra tấn ông tàn khốc, Ama Jhao dũng
cảm mắng giặc rằng: “Dùng hèn kế để bắt ta sao gọi là thắng ta được, điều ấy đâu có
gì đáng vẻ vang cho các ngươi. Cứ trả ta về lại núi rừng xem ai thắng ai!”. Ama Jhao
hy sinh vào tháng 3-1905.
• N’Trang Gưh (1845-1914)
N’Trang Gưh tên là Gưh họ H`Đơt, là tù trưởng buôn Cuah Kplang, một buôn
của nhóm Êđê Bih khu vực Krông Knô. Tại đây, ông đã kiên cường cùng đồng bào
đứng lên kháng chiến trong suốt 14 năm ròng (1900-1914), là một trong những cuộc
kháng chiến lớn nhất ở Tây Nguyên thời bấy giờ.
Cái cớ xảy ra cuộc kháng chiến của nhóm Bih do N’Trang Gưh lãnh đạo bắt
đầu từ việc người Pháp muốn tìm kiếm một nơi thuận tiện để thiết lập lỵ sở tỉnh
Darlac. Ngày 31-1-1899, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Darlac
có lỵ sở đóng tại Buôn Đôn do Buorgeios làm Công sứ và xúc tiến các công việc “làm
thí điểm trong công cuộc bình định Tây Nguyên”. Thế nhưng Buôn Đôn do những bất
lợi của nó về vị trí địa lý, quá xa trung tâm tỉnh, nằm sát khu vực biên giới khiến cho
Bourgeois không yên tâm và quyết định dời trụ sở tỉnh lỵ về Buôn Tur thuộc khu vực
người Êđê Bih ở hạ lưu sông Krông Ana.
Ngày 1-3-1900, Bourgeois chỉ huy một lực lượng lính khố xanh tiến vào các
làng người Bih ở Buôn Tur nhưng không thành. Hai ngày sau, tên này quay lại tấn
công buôn Cua Kplang. N’Trang Gưh đã chỉ huy người dân chống trả quyết liệt rồi rút
vào rừng chỉnh đốn lực lượng.
Năm 1904, 600 nghĩa quân Bih tập kích đồn Buôn Tur rồi thừa thắng tiến công
hạ các đồn Riăng, đồn Buôn Dur, đồn Phơty, đồn Buôn Trinh… Những hoạt động của
18
nghĩa quân N’Trang Gưh ngay sát nách Buôn Ma Thuột khiến cho người Pháp không
thể an tâm nhưng cũng không có cách nào đánh bại được chiến thuật du kích lợi hại
của nghĩa quân. Vùng hạ lưu Krông Ana trong suốt 13 năm (1901-1913) luôn là khu
vực bất khả xâm phạm của đồng bào Bih.
Năm 1914, nhờ có sự chỉ điểm của một tên phản bội, thực dân Pháp bắt được
Sabatier phải rời khỏi Đắk Lắk.
Dưới sự dạy dỗ chỉ bảo của ông, nhiều học trò của ông như Y Wang Mlô, Y
Bih Aleo đã trở thành những người lãnh đạo các phong trào cách mạng. Ngày nay,
bộ Từ điển Việt – Êđê, sách giáo khoa chuyên dạy chữ dân tộc Êđê cho chương trình
phổ thông cơ sở cấp I đã được hòan thiện trong đó có sự đóng góp rất lớn của Thầy
giáo Y Jút ngày xưa.
19
• N’Trang Lơng(1870-1935)
Cuộc kháng chiến của N’Trang Lơng (1911-1936) diễn ra trên một địa bàn khá
rộng, gần như toàn bộ vùng cao nguyên nam Đông Dương, từ bên này cao nguyên
Lang Biang của người M’nông Rlăm sang bên kia tả ngạn sông Mekong của người
M’nông Khơme; từ dưới chân cao nguyên Pleiku của người Giarai xuống đến cao
nguyên Di Linh vùng người Mạ. Khu vực hoạt động chủ yếu của nghĩa quân là vùng
cao nguyên M’nông nằm vắt qua cả ba xứ Trung kỳ, Nam kỳ và Campuchia. Đây là
vùng có truyền thống đấu tranh từ lâu đời của người M’nông, Xtiêng trước sự đe doạ
của các quốc gia hùng mạnh hơn.
N’Trang Lơng tên thật là Lơng, sinh khoảng năm 1870 tại Buôn Bupar, một
làng M’nông Biệt dưới chân núi Nam Drôn thuộc khu vực suối DakNha, phía bắc cao
nguyên M’nông. Thưở nhỏ, N’Trang Lơng (lúc này ông sống ở phía đông Srê
Khơtum) được miêu tả là cậu bé nhanh nhẹn, tháo vát, hay giúp đỡ người khác và
dũng cảm. Người trong làng yêu quý cậu cũng như em trai cậu là Rơ Leng Ong. Khi
lớn lên, được nghe kể về tấm gương chiến đấu của các tù trưởng Ama Jhao, N’Trang
Gưh, N’Trang Lơng tỏ ra rất khâm phục.
Từ năm 1909, sau sự đầu hàng của Khunjunob, Pháp bắt đầu tung những đơn
vị, những phái đoàn lên thám thính vùng cao nguyên M’nông. Tên Henri Maitre đã
cho chiếm đóng và xây dựng đồn ở Buôn Bu Poustra và đã tấn công làng Bu Nơtrang
của N’Trang Lơng, hãm hại gia đình ông.
Giai đoạn 1 của cuộc kháng chiến (1912-1915), N’Trang Lơng quyết định dùng
150 nghĩa quân tấn công triệt hạ đồn Bu Poustra, mở màn cuộc kháng chiến dài 25
năm của đồng bào M’nông.
tinh thần thượng võ, nhân ái, yêu thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, cần cù sáng tạo
cũng là những đặc trưng nổi bật của đồng bào các dân tộc. Nổi bật hơn cả là ý chí đấu
tranh bất khuất chống chọi với thiên nhiên và truyền thống đấu tranh bảo vệ buôn làng,
bảo vệ quê hương đất nước. Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong những
năm nhân dân Đắk Lắk đứng lên theo Đảng làm cách mạng, chiến đấu chống thực dân
Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược. Điểm tô thêm nền văn hóa truyền thống của các dân
tộc bản địa, Đắk Lắk còn có sự du nhập nền văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc
và nền văn hóa của người Kinh với đủ sắc thái của ba miền Trung - Nam - Bắc. Tất cả
đều được gìn giữ và phát triển, hòa quyện trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, nói đến văn hóa ở Đắk Lắk cũng
không thể không nói đến các danh thắng, các di tích lịch sử văn hóa mang dấu ấn của
lịch sử. Trên địa bàn Đắk Lắk đã tìm thấy một số di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của
người tiền sử. Đó là các di chỉ ở Drai Si (huyện Cư Mgar), xã Ea Tiêu, Quảng Điền
(huyện Krông Ana), hồ Lak (huyện Lak), xã Ea Păn, xã Xuân Phú (huyện Ea Kar).
Qua các di chỉ trên, đã tìm thấy những công cụ, khí cụ, đồ trang sức bằng đá; đồ gốm
và bàn dập, bàn mài hoa văn trên gốm. Nguyên liệu chế tác đều lấy từ đá bazan và đá
biến chất, vốn là đặc trưng của Tây Nguyên. Kiểu dáng và kỹ thuật chế tác có nhiều
điểm tương đồng với văn hóa Biển Hồ (Gia Lai) và văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi).
Thời đại đồ đồng cũng đã phát hiện được 7 chiếc trống đồng ở huyện Ea Súp, Ea
HLeo, Krông Pac Ea Kar và TP Buôn Ma Thuột. Đặc biệt trên mảnh đất này còn có
những dấu tích của người Chăm để lại, đó là tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở xã Chư
MLanh (huyện Ea Súp), những Rasungbatau (thùng lớn đựng nước) ở Buôn Ma Thuôt,
khu mộ cổ thuộc địa phận xã Ea Ktur và xã Cư Ewy (huyện Krông Ana), giếng Chăm
ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hòa Thành (huyện Krông Bông). Trong đó, tháp
Yang Prong được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII dưới thời vua Sinhavarman III (Chế
Mân), thờ thần Sinva. Đây là tháp Chăm cổ duy nhất còn lại ở Tây Nguyên.Thời kỳ
hiện đại, chúng ta có hàng chục di tích nổi tiếng như: nhà tù Buôn Ma Thuột, Đình Lạc
Giao - nơi biểu hiện cho sự hiện diện của nền văn minh lúa nước của cộng đồng người
Việt ở Đắk Lắk, Đồn điền CADA, Biệt điện Bảo Đại - dấu ấn của triều đại phong kến
cuối cùng của Việt Nam, hang đá Dak Tuôr và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa khác.
những nghi lễ trong năm của gia đình và cộng đồng.
Cho đến nay, người Ede vẫn theo chế độ mẫu hệ. Cơ sở xã hội truyền thống là
buôn. Buôn của người Ede là nơi quần tụ của vài chục, có đến khi vài trăm nóc nhà dài
làm theo kiểu nhà sàn với kích thước và quy mô khác nhau phụ thuộc vào số lựơng các
thành viên trong đại gia đình mẫu hệ. Mỗi buôn có phạm vi rừng và phạm vị cư trú
riêng. Ranh giới của phạm vi này là các ranh giới tự nhiên như một dòng suối, một gốc
cây hay một mỏm đá. Trong phạm vi đất rừng và đất cư trú của buôn mình, mọi người
dân trong buôn đều có quyền tự do khai thác, săn bắt, hái lượm, chọn đất làm rẫy
nhưng vi phạm sang khu vực như rừng thiêng khác là điều cấm kỵ.
Trong mọi hoạt động xã hội, phong tục, nghi lễ mang tính cộng đồng đều phải
tuân theo những luật lệ chung do một bộ máy tổ chức mang tính tự quản mà người
22
đứng đầu là khoa kpin ea còn được gọi là mtao (già làng), điều hành luật tục trong
buôn có pô phạt kđy (người xử kiện) để luận tội những kẻ vi phạm luật tục, hòa giải
các mâu thuẫn giữa các thành viên trong cộng đồng buôn, ngoài ra cũng có những pô
riu Yang (người khấn thần) để thay mặt dân làng thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng và
các pa ghê (thầy bói, thầy cúng) để chữa bệnh bằng các hình thức bói toán.
Những đại gia đình cùng chung sống trong một ngôi nhà dài, đứng đầu mỗi gia
đình là một người đàn bà cao tuổi và có uy tín (khoa sang), có trách nhiệm trông nom
toàn bộ tài sản chung của đại gia đình, quyết định việc sản xuất và đời sống gia đình,
đại diện cho gia đình trong các mối quan hệ với buôn làng. Con cái mang họ mẹ. Của
cải được thừa kế theo dòng họ nữ.
Người Êđê theo tín ngưỡng đa thần thể hiện trong các nghi lễ về mọi mặt của
cuộc sống. Có những nghi lễ theo vòng đời từ khi người mẹ mang thai đến khi đứa trẻ
sinh ra, lớn lên, dựng vợ, gả chồng đến khi già, chết; có những nghi lễ thuộc vòng sinh
trưởng của cây trồng từ khi chọn đất làm rẫy cho đến khi thu hoạch; và những nghi lễ
của chung cộng đồng như lễ cúng bến nước thường được tổ chức vào đầu mùa mưa,
ngoài ra còn có lễ trước Kpan khi dựng xong nhà mới. Đối với quan niệm về cái chết,
người Êđê dựng các ngôi nhà mồ đặc sắc có tượng xung quanh để canh gác giai đoạn
khi chuyển tiếp từ sống sang chết và sang cuộc sống thế giới bên kia.
-Người J’rai:
Người J’rai cư trú tập trung ở hai huyện Ea Sup và Ea hleo, và vùng Ayaunpa,
vùng lân cận tỉnh Gia Lai. Ở Đắk Lắk, có khoảng 13.589 người J’rai. Cũng như dân
tộc Êđê, J’rai là một trong những tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-
Pholynesien, hệ Nam Đảo. Xã hội J’rai theo chế độ mẫu hệ, đứng đầu gia đình là một
phụ nữ. Giúp việc cho bà có hội đồng dăm dei gồm những ngựơi đàn ông là anh em
cùng huyết thống phía mẹ với bà chủ nhà.
Xưa kia, làng (plei hoặc plơi) được hình thành bởi một gia đình duy nhất. Tuy
nhiên, ngày nay, một số gia đình có thể sống chung trong một ngôi làng do một hội
đồng những người phụ nữ đứng đầu gia đình (phun sang) quản lý.
Giống như người Êđê, địa điểm sinh hoạt cộng đồng của người J’rai thường
diễn ra ở bến nước và trong ngôi nhà cộng đồng dài, gọi là nhà rông (sang rung).
Cũng giống như hầu hết các tộc người Tây nguyên khác, nghi lễ đóng vai trò quan
trọng trong xã hội J’Rai và được tổ chức thường xuyên vào giai đoạn chuyển tiếp từ
mùa khô sang mùa mưa (tháng Ba/Tư) và sau vụ gặt (tháng Mười Một/Mười Hai). Tha
plơi là người đứng ra tổ chức và đại diện cho dân làng trong các sinh hoạt nghi lễ của
cộng đồng. Bên cạnh đó, mỗi làng J’rai đều có một số người làm nghề thầy cúng, làm
trung gian giữa người và thần linh.
Đối với tất cả tộc người địa phương Tây Nguyên, âm hưởng cồng chiêng đi
suốt vòng đời từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành và cả khi về với thế giới ông bà.
Giai điệu chiêng J’rai, Êđê và M’nông du dương, trữ tình, âm trầm, nhiều tiết tấu làm
nao nức không chỉ người dân ở buôn làng Tây Nguyên mà còn làm nao nức lòng
người Tây Nguyên xa quê. Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là
kiệt tác di sản văn hoá.
Rượu cần là loại rượu uống phổ biết nhất của các cư dân bản địa Tây Nguyên.
Làm rượu cần và uống rượu cần đã trở thành phong tục có nguồn gốc lâu đời, thành
nét văn hoá trong đời sống của họ. Uống rượu cần là một nghi lễ thường để vinh danh
khách. Người có uy tín nhất trong buôn hoặc chủ nhà uống trước có ý nghĩa thông báo
với mọi người rằng đây là một ché rượu ngon. Sau đó khách mời danh dự rồi mới đến
các thành viên khác trong cộng đồng thưởng thức ché rượu ngon
trong lúc đang có sự tranh giành ảnh hưởng của triều đình Huế và nước Pháp. Nhân
vật được sắc phong Thần Hoàng là một danh nhân văn hóa, một tài năng lớn trong
nhiều lĩnh vực : Chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế đặc biệt ông là người có công
mở mang đất nước, xây dựng nên nhiều vùng đất mới.
Đào Duy Từ quê ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thuở nhỏ
thông minh, nổi tiếng thần đồng. Ông tìm vào phương Nam và đã có sự cống hiến to
lớn trên đất Bình Định. Ông thông thạo nhiều lĩnh vực : Chính trị, quân sự, kinh tế ,
được truy tặng : 'Hiệp niên đồng đức công thần đặc tiến kim tứ vinh lộc đại phu'. Ông
25