Trng THCS T Nhiờn Nm hc 2010-2011
SNG KIN KINH NGHIM
CễNG TC BI DNG HC SINH GII MễN NG VN 9
NGI THC HIN: NGUYN TH KIM PHNG
N V CễNG TC: TRNG THCS T NHIấN
A-Đặt vấn đề
I /Lý do chn ti
Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống bao giờ cũng bề bộn và
vô cùng phong phú. Mỗi tác phẩm văn chơng là một mảng cuộc sống đã đợc nhà văn
chọn lọc phản ánh.Vì vậy môn văn trong nhà trờng có một vị trí rất quan trọng : Nó
là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con ngời,
nó bồi đắp cho con ngời trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn. M.Goóc- Ki
nói : ''Văn học giúp con ngời hiểu đợc bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản
thân mình và làm nảy nở con ngời khát vọng hớng tới chân lý".Văn học "Chắp đôi
cánh" để các em đến với mọi thời đại văn minh, với mọi nền văn hoá, xây dựng
trong các em niềm tin vào cuộc sống , con ngời, trang bị cho các em vốn sống, hớng
các em tới đỉnh cao của chân, thiện mỹ.
Nhiệm vụ của ngời giáo viên dạy văn là phải làm cho học sinh hiểu đợc cái hay
cái đẹp cuả văn học, kích thích sự hứng thú học tập học văn cho học sinh .Một giờ
dạy văn là phải tạo ra đợc những rung động thẩm mỹ, sâu sắc khiến ngời ta say mê.
Song nhiệm vụ không kém phần quan trọng của giáo viên dạy văn ở trờng THCS là
rèn luyện kỹ năng văn học cho học sinh.Thực ra không phải từ khi đến trờng các em
mới có cảm xúc thẩm mỹ, mới có năng lực cảm thụ cái đẹp. Ngay từ thở còn nằm
trong nôi qua lời ru của bà, của mẹ, lớn lên nghe hát, nghe ngâm thơ Qua các
nghệ thuật ấy các em đã tiếp xúc với văn chơng. Vì thế đến trờng thông qua học tác
phẩm văn chơng những cảm xúc thẩm mỹ của các em phải đợc uốn nắn, sửa chữa và
bồi dỡng, nâng lên thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn. Điều đó muốn khẳng
định rằng bồi dỡng học sinh THCS không những là việc làm đúng đắn mà còn là
công việc có tầm quan trọng trong nhà trờng phổ thông. Nó góp phần phát hiện bồi
dỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực lợng lao động đặc biệt của xã hội,
lao động sáng tạo nghệ thuật. Nó kích thích cổ vũ mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say
ch yu vo cỏc nguyờn nhõn sau:
II/ Nguyờn nhõn
-Ngi dy vn cha truyn c cỏi hay ca tỏc phm vn chng sang cho
ngi hc (k c cỏch cm th cng nh k nng vit nhng cõu vn giu hỡnh
tng)
Trang 2
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
-Chưa trang bị những kiến thức cơ bản về các thể loại văn học cho học sinh nên
phần lớn học sinh hiểu trong văn học cũng như ngoài đời, do đó dẫn đến tình trạng
khi làm văn “thấy sao viết vậy” ( nhất là trong văn miêu tả và văn tường thuật) mà
thiếu đi sự chọn lọc, làm cho bài văn trở nên trần trụi, sa vào “chủ nghĩa tự nhiên”.
-Chưa phân biệt được ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viêt nên khi viết văn vẫn dùng
từ như ngôn ngữ nói.
Tất cả những lý do trên đây đã “góp phần không nhỏ” vào việc làm cho học sinh
thích học văn ngày càng ít đi, vì thế mà trong một khoá học có hàng trăm em, nhưng
để chọn 3-5 em đi bồi dưỡng học sinh giỏi văn thì đúng là “nhân tài như lá mùa thu”
(đó là chưa kể có em giỏi văn nhưng lại muốn đi học bồi dưỡng kiến thức cho
những môn “thời thượng” hơn) cho nên để có học sinh giỏi văn thật khó lắm thay!
Từ thực tế trên, qua những việc đã làm của bản thân, tôi muốn được cùng các
đồng nghiệp chia sẻ, trao đổi để ngày càng có nhiều học sinh “chịu” học văn hơn, do
đó , tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp mà bản thân tôi đã làm trong thời gian
qua như sau:
III/ Hướng giải quyết
Trình tự các bước từ khâu chọn học sinh đi bồi dưỡng đến việc hướng dẫn cách cảm
thụ và rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết văn như sau:
- Bước 1: Phát hiện những học sinh có khả năng cảm thụ văn học:
Qua một thời gian dạy, sau những bài kiểm tra và bài viết, em nào có cách diễn
đạt linh hoạt, không viết lại những nội dung mà giáo viên đã cho ghi khi học, không
theo khuôn mẫu nào thì giáo viên nên khuyến khích, động viên (có thể cho điểm
cao, mặc dù bài viết chưa xứng đáng như thế) để các em mạnh dạn viết theo cách
trôi đi chậm chạp, dài lê thê thì Nguyễn Du viết :
“Sầu đong càng lắc, càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”.
Nhưng nếu tâm trạng vui thì thường chúng ta lại thấy nó trôi qua rất nhanh, cho nên
mới có cảm giác “Ngày xuân ngắn chẳng tày gang” là vì vậy.
Hoặc khi đọc “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến, ta không thấy câu từ
nào miêu tả nỗi buồn của tác giả nhưng đọc cả bài thơ lên ta lại cảm nhận được nỗi
Trang 4
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
buồn man mác đang bàng bạc khắp cỏ cây mây nước, như trùm lấy không gian tĩnh
lặng của làng quê nơi tác giả đang ngồi câu cá bởi cái vần “eo”(nước trong veo,bé
tẻo teo, khẽ đưa vèo) cùng với cách gieo vần độc đáo trong khuôn khổ của một bài
thất ngôn bát cú Đường luật. Và với cảnh đó, tình đó; phần nào giúp ta thấy được
thế sự của đất nước mình hồi bấy giờ.
Một ví dụ khác: trong “Ông đồ” của Vũ Đình Liên, để khắc hoạ đậm nét thời
tàn tạ của Nho học (khi mà xu hướng Tây học đang dần dần lấn át xu hướng Hán
học), tác giả chỉ cần sử dụng một lát cắt của cuộc sống qua hình ảnh ông đồ cùng
“mực tàu, giấy đỏ” vào những ngày tết đến xuân về, nhưng ở những khổ thơ khác
nhau thì ông đồ cũng hiện lên khác nhau. Người đọc sẽ nhận thấy thời hoàng kim
của ông đồ khi mà “bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ hoa tay thảo
những nét / Như phượng múa rồng bay” và cũng dễ dàng nhận ra cái thời huy hoàng
đó đang dần lùi xa, nhường chỗ cho sự tàn lụi (ông đồ vẫn ngồi đấy/ qua đường
không ai hay/ lá vàng rơi trên giấy/ ngoài trời mưa bụi bay) qua hình ảnh “lá vàng
rơi”, “mưa bụi bay” cùng với sự thời ơ, vô cảm của dòng người đang hối hả đi sắm
tết (ông đồ vẫn ngồi đấy/ qua đường không ai hay/ lá vàng rơi trên giấy/ ngoài trời
mưa bụi bay.)
Tóm lại: giữa “cảnh” và “tình” có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau,cho nên
qua “cảnh” ta có thể hiểu “tình” và ngược lại qua “tình” ta cũng có thể hiểu “cảnh”
để từ đó có định hướng hiểu đúng tác phẩm.
- Bước 3: Yêu cầu học sinh nắm chắc tiểu sử tóm tắt của các tác giả và cung cấp
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thì có cửa nhà thì không
Suốt đời Nam-Bắc-Tây-Đông
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly.
Tóm lại, muốn có kiến thức để viết bài và hiểu đúng tác phẩm thì việc hiểu tác giả
và nắm chắc các mốc lịch sử là điều không thể thiếu.
- Bước 4: Cho học sinh tiếp cận với những bài thơ, đoạn thơ hay:
Mục đích của việc này là tạo hứng thú và niềm đam mê học văn cho các em ( giáo
viên nên phân tích và chỉ cho học sinh thấy cái hay của những bài đó). Đặt ra cho
Trang 6
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
học sinh câu hỏi: Bài thơ hay là do đâu?, những hình ảnh, những câu từ nào đã góp
phần làm nổi bật cái hay ? Nhờ biện pháp tu từ nào mà họ làm cho ta thấy được cái
hay của bài thơ, đoạn thơ đó v.v. Muốn thế, khi tiếp cận đoạn thơ, ta hãy chú ý đến
: màu sắc, hình khối, đường nét, âm thanh mà tác giả đã sử dụng. Gọi tên được các
biện pháp tu từ và thấy được tác dụng của biện pháp tu từ đó, đồng thời chú ý đến
nhịp thơ: cách ngắt nghỉ, nhịp thơ dài hay ngắn; cách dung các từ láy (từ láy tượng
hình hay tượng thanh) v.v.
Ví dụ: Ta sẽ có cảm giác một không gian bát ngát,trải ra mênh mông trước mắt
người đọc bởi những thanh bằng, cùng với vần “an” trong hai câu thơ của Tố Hữu:
“Em ơi! Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”
Nhưng lại có cảm giác éo le trắc trở của số phận một con người cũng như cảm giác
gập ghềnh, quanh co khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác của con đường đời khi ta bắt gặp
những câu thơ: “tài cao phận thấp chí khí uất” hoặc “ Vó câu khấp khểnh ngựa xe
gập ghềnh”. Hoặc người đọc sẽ có cảm giác tự tin, thong dong khi “ta đi giữa ban
ngày/Trên đường cái ung dung ta bước” đồng thời cũng thấy được khí thế cuồn cuộn
như thác đổ triêu dâng của bộ đội ta qua nhịp thơ dồn dập: “Ta đi tới trên đường ta
bước tiếp/ Rắn như thép, vững như đồng/ đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp/ cao như
núi dài như sông/ chí ta lớn như biển đông trước mặt” như ở trong bài Ta đi tới của
chim hót, sông xanh, trời rộng cùng với những “giọt âm thanh long lanh” của con
chim chiền chiện đang chao liệng trên bầu trời thanh bình, yên ả. Vẻ đẹp nao lòng
đó chính là lời mời gọi tha thiết của những người con xứ Huế dành cho những ai
chưa một đặt chân đến mảnh đất thơ mộng này.
Còn đây là tác dụng của cách miêu tả màu sắc (màu xanh). Ta sẽ thấy các
gam xanh khác nhau của núi, của sông, của đồng, của biển đủ để tác giả thốt lên
“Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ!” qua những câu thơ sau đây của Tố Hữu:
“Tôi lại nhìn như ánh măt trẻ thơ,
Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ!
Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển,
Xanh trời, xanh cả những ước mơ ”
Trang 8
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
Đọc lên ta thấy bát ngát một màu xanh huyền thoại, làm toát lên vẻ đẹp diệu kỳ của
quê hương xứ sở với các gam xanh khác nhau đó là:
Màu xanh đằm thắm của quê hương
Màu xanh trong lành của sông núi
Màu xanh thăm thẳm của hồn người
Màu xanh khí phách của lịch sử
Màu xanh ấm áp của ruộng đồng
Màu xanh yên lành của không gian
Màu xanh bát ngát của biển cả
Màu xanh vời vợi của bầu trời
Màu xanh hy vọng của ước mơ
Màu xanh bình yên,
Màu xanh giải phóng
Ngoài ra, giáo viên cần gợi cho học sinh biết liên tưởng: nếu có óc liên tưởng sẽ
dễ dàng giúp ta biết “huy động” những kiến thức mà ta đã có để vận dụng vào việc
phân tích & chứng minh cho vấn đề mình vừa phân tích
Ví dụ sau khi đã học “ Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng thì chỉ cần đọc “
Một hòn đá Trường Sơn
Cha- con cùng gối ngủ”
Hoặc: “Xưa tiễn chồng cứu nước rười rượi tóc xanh
Giờ lại tiễn con đi rung rinh đầu bạc”
Hay: “Mười năm trước mẹ tiễn anh con
Có giống hôm nay vằng vặc nửa trăng tròn?”
Tương tự như thế, trong ngữ văn 9, ở “Viếng lăng Bác”- khổ cuối, tác giả thể hiện
ước nguyện sống có ích và sự cống hiến. hình ảnh này lại giúp ta liên tưởng đến
khát vọng của Thanh Hải trong “ Mùa xuân nho nhỏ” (một mùa xuân nho nhỏ/lặng
lẽ dâng cho đời/ dù là tuổi hai mươi/ dù là khi tóc bạc). Còn Nguyễn Cảnh Nhạc lại
ước:
“Ước làm một hạt phù sa
Trang 10
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
Ước làm một tiếng chim ca xanh trời
Ước làm tia nắng vàng tươi
Ước làm một hạt mưa rơi ấm chồi”.
Tóm lại: Sự độc đáo của liên tưởng sẽ giúp nhiều cho ta trong việc khơi gợi trí
nhớ; vì thế, nếu có óc liên tưởng thì bài viết ý sẽ phong phú, minh chứng sẽ xác
đáng, diễn đạt sẽ linh hoạt, cho nên giúp ích rất nhiều cho việc viết văn.
- Bước 6: Rèn kỹ năng viết những câu văn giàu hình tượng
Ta biết rằng, những câu văn hay không nhiều và cũng không dễ có, mà nó
được chưng cất, được thanh lọc và được viết ra từ gan ruột của họ mà có khi ta phải
dạy, phải rèn cả mấy tháng trời, cả một quá trình, may ra mới có được.
Để giúp học sinh biết viết câu văn giàu hình tượng, trước hết tôi thường cho
học sinh nhận xét được sự khác nhau giữa hai câu văn có cùng một ý nhưng cách
diễn đạt khác nhau. Ví dụ:
1a:-Vụ tai nạn gây chết người trên đường Láng- Hoà Lạc do lái xe Đỗ Hồng Quân
gây ra đã bị những nhà chức trách làm sai lệch sự thật
1b/ Vụ tai nạn gây chết người trên đường Láng- Hoà Lạc do lái xe Đỗ Hồng Quân
Kể gì lặn ngọc biển khơi
Vì con, cha sẽ lên trời hái sao.
( Cho con- Nguyễn Ngọc Hưng)
Giáo viên cho học sinh nhận biết các “tín hiệu” cần thiết (có thể có các ý kiến khác
nhau) sau đó cùng các em thống nhất và chốt lại một số dấu hiệu như sau:
Cách dùng từ thật đắt: vắt, kiệt, thắc thỏm, xác ve, hái sao.
Cách sử dụng các biện pháp tu từ:
Biện pháp đảo ngữ: cơm áo mẹ nhường, tóp teo.
Dùng các điệp từ: vì con
Cách nói thậm xưng: lặn ngọc biển khơi, lên trời hái sao
Cách dùng từ láy giàu tính tượng hình (mà lại đối lập): tóp teo-tròn trịa…v…v
sau đó cho học sinh tập phân tích để làm rõ cái hay của đoạn thơ
Tương tự như thế, giáo viên chọn những đoạn thơ hay để học sinh tập tìm
hiểu (trước hết là những đoạn quen thuộc ở trong các bài như: Mùa xuân nho nhỏ,
Trang 12
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
Viếng Lăng bác, Đồng chí ) khi HS đã quen thì mình lại yêu cầu cao hơn (đưa ra
những đoạn thơ hay mà lạ - kể cả ca dao - để vừa làm giàu vốn văn thơ, vừa rèn kỹ
năng phân tích).
Bước 5-Tiến hành viết bài:
Hàng buổi, sau khi đưa những đoạn thơ hay, giáo viên giúp học sinh định
hướng cách phân tích qua những dấu hiệu nghệ thuật để học sinh biết cảm thụ.Từ
những gì đã thu lượm được, học sinh vận dụng để viết tại lớp.Những bài viết này là
những bài văn ngắn (chỉ yêu cầu viết trong khoảng thời gian 45 phút) rồi giáo viên
đọc và trực tiếp sửa ngay cho từng em.Khi sửa phải tuỳ từng bài, tuỳ từng lỗi nhưng
phải trân trọng những ý tưởng mà các em đã đưa ra,rồi từ đó mình biết cách khơi
gợi, mở rộng, (tránh trường hợp chỉ cho học sinh viết bài mà giáo viên không hướng
dẫn hoặc hướng dẫn thật ít-vì như thế thì quá lãng phí thời gian). Thường, viết bài ở
lớp chất lượng không cao, vì thời gian có hạn nhưng vẫn phải rèn (đặc biệt là cần
cho học sinh làm quen với lượng thời gian tương ứng với dung lượng đề bài để khi
học không cùng đồng hành thì sẽ không có kết quả như mong muốn. Có thể coi đó
là hai yếu tố cần và đủ để làm nên thành công, nhưng thiết nghĩ yếu tố : năng lực
chuyên môn và trách nhiệm của người thầy vẫn là đòi hỏi trước tiên và cấp bách
hơn, vì khi người thầy giỏi, biết cảm thụ văn chương, biết truyền cái hay của tác
phẩm đến cho người học thì sẽ giúp cho tâm hồn các em được thanh lọc, được bừng
tỉnh, dần dần các em sẽ tìm thấy hứng thú trong các giờ văn, từ đó mà yêu thích
môn văn Muốn vậy, người thầy phải nêu cao vai trò “tự học, sáng tạo” để tích luỹ
kiến thức cần thiết để vừa có kiến thức giảng dạy vừa đáp ứng với nhu cầu của xã
hội.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi trong quá trình bồi
dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn tôi đã nhận thức được, đã, đang vận dụng và sẽ
còn tiếp tục không ngừng tìm tòi,tư duy,tích cực sáng tạo trong quá trình bồi dưỡng.
Tuy đó chỉ là những suy nghĩ mang tính chủ quan song ít nhiều với tôi thực sự đã có
những kết quả nhất định,tất nhiên là vì suy nghĩ chủ quan mang tính cá nhân nên
Trang 14
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
khó tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy,tôi vẫn luôn bổ sung cải tiến để kết quả bồi
dưỡng học sinh giỏi văn của bản thân tôi ngày một tốt hơn. Đó là phương châm
quan trọng của mọi giáo viên chúng ta trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, đổi mới
đất nước hiện nay.
T«i xin ch©n thµnh c¸m ¬n!
§Ò tµi t«i thùc hiÖn trªn ®îc ®óc kÕt trong qu¸ tr×nh gi¶ng d¹y víi kinh nghiÖm
cña b¶n th©n. T«i xin cam kÕt víi quý ban ®Ò tµi do t«i viÕt hoµn toµn kh«ng cã sù
sao chÐp.
T ự Nhiên ngày 2 tháng 4 năm 2011
Người thực hiện
Nguyễn Thị Kim Phượng
Môc lôc
Néi dung Trang
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Trang 16
Trường THCS Tự Nhiên Năm học 2010-2011
…………………………………………………………………………………………
3. Héi ®ång khoa häc Së Gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Hµ Néi:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………
Trang 17