Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc giống lan đai châu (rhynchostylis gigantea) tại thái nguyên - Pdf 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƢƠNG THỊ THÙY DƢƠNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHĂM SÓC GIỐNG LAN ĐAI CHÂU
(RHYNCHOSTYLIS GIGANTEA) TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Thái Nguyên - 2014


ii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

10 năm 2014
Tác giả luận văn
Dƣơng Thị Thùy Dƣơng
iii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu LỜI CẢM ƠN
Đợt thực tập này thực sự bổ ích đối với tôi vì qua đây tôi không chỉ củng cố
được lý thuyết, tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn về các môn học trên giảng đường mà
còn tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm sống, giao tiếp trong các mối quan hệ xã
hội. Những điều này có ý nghĩa rất thiết thực và sẽ trở thành nền tảng cho bước đi
của tôi sau này được vững chắc. Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình chỉ bảo của thầy giáo PGS.TS Ngô Xuân Bình, và các thầy cô giáo trong khoa,

1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Yêu cầu 2
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa lan 3
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại hoa lan 3
1.1.2. Giới thiệu chung về lan rừng Việt Nam 8
1.1.3. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế 9
1.1.4. Đặc điểm hình thái và sinh học của hoa lan 10
1.1.5. Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản để nuôi trồng Lan Đai Châu
(Rhynchostylis Gigantea) 14
1.1.6. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của hoa Lan Đai Châu 19
1.1.7. Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc hoa Lan Đai châu 19
1.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất kinh doanh, nuôi trồng hoa lan trong nước
và trên thế giới 23
1.2.1. Trên thế giới 23
1.2.2. Tại Việt Nam 26
1.3. Tình hình nghiên cứu Lan Đai Châu ở trong nước và ngoài nước 28
1.3.1. Ngoài nước 28
1.3.2. Trong nước 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 30


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3.2.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến
phát sinh bệnh hại của lan Đai Châu 65
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến khả năng sinh
trưởng của lan Đai châu 65
3.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tăng trưởng bộ
lá của lan Đai châu 65
3.3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng bộ
rễ của lan Đai Châu 71
3.3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến khả năng ra hoa
ở lan Đai Châu 73
3.3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến phát sinh, bệnh
hại ở lan Đai Châu 74
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng của
lan Đai Châu 75
3.4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của lan Đai Châu 75
3.4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng bộ lá của lan
Đai Châu 77
3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Giberline đến sinh trưởng của
lan Đai Châu 82
3.5.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Giberline đến tăng trưởng
bộ lá của lan Đai Châu 82
3.5.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Giberline đến bộ rễ của lan
Đai Châu 86
3.5.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Giberline đến khả năng ra
hoa của lan Đai Châu 87
Chƣơng 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 90


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lá của lan Đai châu (Từ
tháng 8/2013 đến tháng 7/2014) 42
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tăng trưởng chiều dài lá lan
Đai châu 45
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tăng trưởng chiều rộng lá lan
Đai Châu 47
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến bộ rễ của lan Đai Châu (sau
12 tháng thí nghiệm) 50
Bảng 3.5. Ảnh hưởng các loại phân bón lá đến thời gian ra hoa, số hoa, chiều dài
chùm hoa, tỷ lệ nở hoa và độ bền hoa lan Đai Châu 51
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến phát sinh bệnh hại ở lan Đai Châu 53
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến số lá của lan Đai
Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) 55
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến tăng trưởng chiều dài
lá của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) 57
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến tăng trưởng chiều
rộng lá của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) 60
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến thời gian ra rễ, số
rễ, màu sắc rễ của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) . 62
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến thời gian ra hoa, số
hoa, chiều dài chùm hoa và độ bền hoa lan Đai Châu (từ tháng
11/2013 đến tháng7/2014) 64
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến phát sinh bệnh hại
của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) 65
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến số lá của lan Đai Châu (từ
tháng 8/2013 đến tháng 7/2014) 66

vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 2.1: Doanh thu từ một số chủng loại hoa chính tại Mỹ năm 2006 25
Hình 2.2: Biến động doanh thu một số loại hoa chính năm 1996 so với năm
2006 tại Mỹ 25
Hình 3.1: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng số lá lan Đai Châu 44
Hình 3.2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều dài lá lan Đai Châu 46
Hình 3.3: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá lan Đai Châu 49
Hình 3.4: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng số lá lan Đai Châu 55
Hình 3.5: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều dài lá lan Đai Châu 58
Hình 3.6: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá lan Đai Châu 60
Hình 3.7: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng số lá lan Đai Châu 67
Hình 3.8: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều dài lá lan Đai Châu 69
Hình 3.9: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá lan Đai Châu 71
Hình 3.10: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng số lá và số rễ 77
Hình 3.11: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kích thước lá lan Đai Châu 80
Hình 3.12: Biểu đồ tôc độ tăng trưởng số lá lan Đai Châu 83
Hình 3.13: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều dài lá 84
Hình 3.14: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá 86 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu Cần điều tra, phân loại và đánh giá những biện pháp kỹ thuật phù hợp cho
cây hoa, giống hoa thích hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương. Trên cơ sở đó
có thể tìm ra những biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất, nhằm nâng
cao giá trị kinh tế và tăng thu nhập cho người trồng hoa.
Với điều kiện thuận lợi của Thái nguyên mà từ đó tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài với chuyên đề: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc giống
lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea) tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc đến khả năng
sinh trưởng giống lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea) tại Thái Nguyên. Kết quả
làm cơ sở để xây dựng biện pháp kỹ thuật chăm sóc loài lan rừng Đai Châu.
1.3. Yêu cầu
- Xác định được ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng của lan Đai châu.
- Xác định được ảnh hưởng của chế độ che ánh sáng đến sự sinh trưởng lan Đai châu.
- Xác định được ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng của lan Đai Châu.
- Xác định được ảnh hưởng của nồng độ Gibberline đến khả năng sinh
trưởng của lan Đai Châu.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên biết cách triển khai nghiên cứu một đề tài bắt đầu từ
bước lập đề cương nghiên cứu cho đến khi kết thúc báo cáo kết quả trước hội đồng.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông
dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất
trong việc nuôi trồng lan Đai Châu.

công dụng về dược liệu của nó sau đó mới đến vẻ đẹp của hoa. Phrastus - được coi
là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan đã
dùng chữ Hy Lạp(Orkis) để chỉ những cây lan được tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải.
Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai
loài địa lan trong quyển sách về dược liệu của ông và sau này được Linnaeus ghi lại
trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species Plantarum) vào năm 1753. Sau đó được 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu John Lindley sử dụng đầu tiên để đặt cho họ lan là: Orchidaceae từ năm 1836 và tên
phân loại đó được tồn tại cho đến ngày nay (Phạm Hoàng Hộ, 1972)[8].
Ở Việt Nam, dấu tích của những nghiên cứu về Lan ở buổi ban đầu không rõ
rệt lắm. Những khảo sát ban đầu về lan ở Việt Nam là của Joanis Loureiro, một nhà
truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan lần đầu tiên vào năm 1789 trong
cuốn “Flora Cochinchinesis” trong một cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam và
đã được Bentham và Hoocker ghi lại trong “Enera Plantarum” (1862 - 1883) (Nguyễn
Quang Thạch và Cộng Sự, 2008)[20]. Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có
những công trình được công bố, đáng kể là của: F. Gagnepain và A. Guillaumin mô
tả 101 giống gồm 750 loài lan cho cả ba nước Đông Dương trong bộ “Thực vật chí
Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên ở quyển 6 xuất bản từ năm 1932 – 1934
(Phạm Hoàng Hộ, 1972)[8]. Một số tác giả khác cũng đề cập đến lan Việt Nam như.
Bên cạnh đó một số người Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu về lan như ông
Trương Đấu đáng kể nhất là quyển II “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của giáo sư
Phạm Hoàng Hộ với 289 loài lan được mô tả và vẽ hình. Mới đây ông cũng đã bổ
sung thêm 364 loài lan trong quyển III tập 2 của bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản
năm 1993 nâng tổng số lan có ở Việt Nam là 653 loài (Phạm Hoàng Hộ, 1993)[23].
Lan được người chơi chia làm hai dòng chính là Địa lan và Phong lan. Trong

0
vĩ Bắc đến 56
0
vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc
như Thuỵ Điển, Aleska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Ostralia. Tuy nhiên tập
trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông
nam á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng
đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các
loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài
sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colômbia có một số loài phong lan
sống ở núi quanh năm tuyết phủ). (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2002)[3]
Ở Châu Á, các nước Thái Lan, Lào Campuchia, Việt Nam có Hoàng thảo
(Dendrobium), Hồ điệp (Phalaenopsis), Phượng vĩ (Renanthera). Các nước Châu
Mỹ như Venezuela, Colombia có các chi Cattleya, Miltonia
Theo presley (1951) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài, trong đó
có Dendrobium có 1.400 loài, chi phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài (Nguyễn
Tiến Bân)[2]
Theo Briger (1971), ở vùng khí hậu ôn hoà số lượng loài giảm đi nhanh chóng
và rõ rệt. Bắc bán cầu có khoảng 75 chi và 900 loài. Nam bán cầu có khoảng 40 chi
và 500 loài, toàn Châu Âu có khoảng 120 loài và Bắc Mỹ khoảng 170 loài (Nguyễn
Tiến Bân)[2] 6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu Theo R.L. Dresler (1981) ở Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài, Trên
thế giới có một số nước tập trung nhiều loài như Colombia có 1.300 loài và Tân
Ghinê có 1.450 loài (Phan Thúc Huân, 1987)[5]


- Khu Đồng Bằng Miền Nam: khí hậu ở đây nhiệt đới với 2 mùa mưa và khô
rõ rệt. số lượng loài phong lan, tập trung chủ yếu các loài: Bulbophyllum, Acampe,
Dendrobium, Eria
- Khu Đảo: các loài chủ yếu: Bulbophylium, Apostasia, Liparis, Eria
1.1.1.3. Phân loại hoa lan
Theo hệ thống phân loại của viện sĩ hàn lâm Liên Xô Taktajan cùng Võ Văn
Chi và Dương Đức Tiến (1978), cây hoa lan được phân loại như sau:
Giới: Plantae
Ngành mộc lan: (hạt kín-Magnoliophyta)
Lớp hành: (1 lá mầm – Liliopsida), phân lớp hành (Lilidae),
Bộ lan: (Orchidales)
Phân họ lan: (Orchidaceae).
Họ lan là 1 một họ lớn đứng thứ hai trong ngành Mộc lan, vô cùng phong
phú, phức tạp và được phân bố trên những vùng địa lý khác nhau.
Vào năm 1753, Linnê đã dùng luôn danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến
năm 1836, John Lindley (1779 – 1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho các
loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân loại gọi là
Orchidaceae. Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên của họ lan được
dùng cho đến ngày nay (Trần Văn Bảo, 2002)[1]. Theo Taktajan (1980) họ lan
được chia thành 3 họ phụ, tuy nhiên theo phân tích dầy đủ và chuyên sâu đặc tính di
truyền của các nhà khoa học đã chia họ lan thành 6 họ phụ (Trần Hợp, 1990)[6]
- Apostasicideae - Orchidadeae- Epidendroideae
- Cypridicideae- Vandoideae- Neottioideae
Theo Leonid V. Averyanov & Anna L. Averyanova (2003)[28] Việt Nam hiện
nay người ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi. Chúng chiếm khoảng 75 - 80% trong
tổng số loài lan ước tính có ở nước ta. Trong đó một số chi có giá trị kinh tế lớn như
Aerides (có 7 loài); Cymbidium (24 loài); Dendrobium (có 107 loài); chi
Paphiopedilum (có 18 loài) và Rhychotilis (có 3 loài)


giống Eria, các loài khác có kích thước trung bình. Một vài loài có kích thước lớn
hơn 10cm như Hạc đỉnh, Huyết Nhung, Mỹ Dung Dạ Hương.
Về hương thơm, Đây là ưu điểm chính của các loài Lan Việt Nam. So với
các loài Lan lai lan rừng Việt Nam Có kích thước bé hơn nhưng nhờ đa số có mùi 9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu thơm nên vẫn hấp dẫn các người ái mộ như Mỹ Dung Dạ Hương, Hạc Đỉnh, Đuôi
Cáo, Ngọc Điểm, Thạch Hộc, Thanh Ngọc, Nhất Điểm Hồng, Giả Hạc (Nguyễn
Công Nghiệp, 2000) [13].
1.1.3. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế
Hoa được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng
cho con người. Con người chưa hề ngừng chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt mỹ
ấy. Trong thế giới của các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất.
Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, Hoa vương giả cao sang, vua của các loài
hoa. Hoa lan được nhiều người ưa thích, nhất là bộ phận môi làm nhiều nhà điêu
khắc phải thán phục. Hoa lan bao gồm nhiều mầu sắc được pha trộn một cách hài
hòa, cân đối lắm khi lại hiện lên những nét tương phản rõ rệt, hay chìm lắng và
mất hút. Cây lan lại mang những nét đặc thù thú vị như một dạng trồng cây không
đất. Khác với các loài kí sinh thông thường xem cây chủ là giá thể. Vì vậy không
phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã dùng cây lan biểu tượng cho người quân tử:
“Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quý của dân tộc việt nam (Nguyễn Công
Nghiệp, 2000) [13].
Hoa lan đẹp rực rỡ kiêu kỳ, lan được coi là “Nữ hoàng của các loài hoa”.
Hơn thế nữa hoa lan lại rất lâu tàn và một số loài có hương thơm thoang thoảng.
Bên cạnh đó các nhà khoa học cũng đã lao vào công cuộc sưu tầm, nuôi trồng và
nhân cấy, lai tạo ra nhiều giống mới khiến chúng kì diệu lại kì diệu hơn (Trần Văn

theo hai chiều thẳng góc, phát hoa mọc trên thân ở các nách lá và song song với lá
và thẳng góc với rễ.
- Thân giả
+ Thân giả của lan có ở các loài lan thuộc nhóm đơn thân, thân giả của các
loài lan khác giống cũng như cùng một giống, hình dạng rất khác nhau. Thân giả rất
cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Thân giả có chứa diệp lục, dự trữ
nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trong quá trình sinh trưởng, phát triển và cả
khi cây lan ra hoa vào thời kỳ nghỉ. Thân giả còn có chức năng giữ nước duy trì cho
sự sống của cây trong điều kiện khô hạn.
+ Thân giả có thể hình thoi hoặc hình trụ hoặc hình dẹt hoặc hình tháp. Có
những loài lan thân giả bị thu bé lại, rất khó nhận biết. Cũng có loài vừa có thân thật
vừa có thân giả.(Phan Thúc Huân, 1987)[5]
+ Thân giả của cây lan có kích thước khác nhau, có loại thân giả chỉ bằng
đinh ghim nhưng cũng có loại than giả đến 7.8 m. 11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Căn hành (thân - rễ)
Căn hành chỉ gặp ở lan đa thân, trừ một số ít bị thu nhỏ rất nhiều ở lan trung
gian (Pseudomonopodial). Căn hành thật sự là thân cấp một và từ đó hình thành
thân cấp hai, chúng có thể dài ra và mang lá gọi là thân hoặc thu ngắn và dày lên tạo
thành giả hành có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau.(Nguyễn Công Nghiệp,
2000)[13]
- Rễ
Ở lan đa thân rễ thường được hình thành từ căn hành. Rễ ở đa số các loài lan
có hình trụ, có nhánh bậc một, bậc hai, có thể có bậc ba và thường rất dài. Ở đa số
thành viên của loài Cypripedilinae và nhiều loài lan đất khác rễ còn mang lông rễ. Ở

những mẫu mực kỳ lạ trong những hiện tượng hài hòa của tự nhiên. Do đó, cấu tạo
của hoa phong lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn (Trần Hợp, 1990)[6].
Hoa tập trung thành cụm, cụm hoa của lan xuất hiện sau hoặc trước hoặc
đồng thời với sự hình thành của lá và củ giả. Các loài lan đa thân, cụm hoa thường
sinh ra từ vách lá. Kiểu chính của cụm hoa đặc trưng cho lan là chùm với hoa ở
nách các lá bắc. Cụm hoa chùm biến đổi nhiều hình dạng. Ví dụ như dạng tán giả
do trụ bị rút ngắn, dạng bông khi thu ngắn cuống hoa mà không rút ngắn trụ
Về cấu tạo hoa:
+ Cánh đài: có nhiều mầu sắc và hình dạng khác nhau, dạng tròn như Vanda,
dạng nhọn như Cattleya cả 3 cánh đài có thể giống nhau hoặc cánh đài lưng hơi
khác với 2 cánh đài bên như các loài thuộc chi lan Hài, đôi khi cả 3 cánh đài đều
dính lại với nhau như loài Hoàng Thảo Báo Hỉ.
+ Cánh hoa: Là bộ phận quan trọng nhất để tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của hoa
lan. Hai cánh hoa bên rất giống về mầu sắc, kích thước với cánh đài rời hay dính
với cánh đài bên.
Cánh hoa phía dưới (cánh môi) đây là bộ phận quyết định phần lớn giá trị
thẩm mỹ của hoa lan. Cánh môi rất đa dạng, xếp đối diện với cánh đài lưng và có
kích thước thường lớn hơn cả. cánh môi có thể nguyên chia thùy, khía răng, có tua
viền, hay chia cắt thành các sợi mảnh. Bề mặt cánh môi hoặc nhẵn, có nhiều gân
hay nôi lên các phần phụ đa dạng. Gốc cánh môi thường mang tuyến mật.
+ Trụ hoa: Nằm giữa bông hoa có chứa cả nhị và nhụy. Đầu trụ là nắp chứa
hạt phấn. Ở hoa lan, hạt phấn được kết với nhau bằng một chất sáp tạo thành những
khối phấn, số lượng khối có thể là 2,4,6,8 tùy loài. Khi hạt phấn rơi vào đầu nhụy
tạo nên sự thụ phấn, hoa héo đi nhanh chóng, bầu hoa phình to thành quả lan. Nhụy 13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Rễ: Rễ Đai Châu khá to, đường kính 0,5 - 0,8 cm, dài có thể tới 1 mét, rất ít
khi phân nhánh, và chỉ có nhánh bậc 2.
- Hoa: Cụm hoa Đai Châu bông lớn, cong xuống,dài 20 -30 cm, Hoa màu
trắng nhiều đốm tím, cánh môi có vạch tím, đỉnh chia 3 thùy nhỏ, cựa ngắn màu
trắng (Phan Thị Kim Hạnh và Cộng Sự, 2008)[7].
1.1.5. Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản để nuôi trồng Lan Đai Châu
(Rhynchostylis Gigantea)
1.1.5.1. Thiết kế vườn
Vườn thiết kế chắc chắn với bộ khung giàn có thể làm bằng sắt hay hợp kim.
Trên mái dàn dùng lưới đen che 50% ánh sáng để làm giảm cường độ ánh sáng
chiếu vào cây. Xung quanh phải làm hàng rào bảo vệ có thể dùng các tấm lưới làm
bằng thép để che xung quanh. Vườn thường được làm theo hướng Bắc – Nam (Trần
Văn Bảo, 1999)[1]
1.1.5.2. Cây giống
Cần tuyển chọn những giống, loài Lan khỏe mạnh, không sâu bệnh, Hiện nay
có một số loài, chỉ đang có giá trị thương mại cao như chi Aerides, Rhynchostylis,
Dendrobium, Cymbidium, Vanda, Cattleya
1.1.5.3. Cấu tạo giá thể
Mỗi một loài Lan khác nhau có đặc tính khác nhau và chúng cũng đều thích
hợp với các giá thể khác nhau, Đối với Lan Đai Châu là một loài lan có thể nói
mang vẻ đẹp cho người việt Nam, Hoa thường nở đúng vào các dịp tết. Vì vậy khi
trồng cần chú ý đến giá thể trồng cho lan, không giống bất kỳ một loại cây trồng
nào không cần diện tích lớn, không cần đất nhưng vẫn sống và vươn dài trong
không khí.
Giá thể trồng thường dùng: Vỏ thông, Than hoa, Xơ dừa, Mùn cưa, Dớn,
(không nên dùng vỏ cây của các loại có nhựa đắng như gỗ lim, xà cừ, xoan, vì sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status