một số vấn đề ôn tập môn văn lớp 12 học kì 2 - Pdf 25

Ôn Tập Văn Học 12
(Lưu hành nội bộ)
Văn Học Việt Nam
1/-
Cuộc Đời Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)
- Sinh ngày 19/ 05/ 1890
- Xuất thân từ một gia đình nhà nho yêu nước
+ Cha: Nguyễn Sinh Sắc
+ Mẹ: Hoàng Thò Loan
- Quê hương: Làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An – có truyền thống văn hóa và yêu nước
- Thû nhỏ tên NSC – đi dạy NTT – hoạt động cách mạng là NAQ – về nước 1942 tên là HCM
- Những mốc quan trọng trong cuộc đời
+ 1911 Người ra đi tìm đường cứu nước tại bến nhà Rồng
+ 1/ 1919 Người đưa bản yêu sách của nhân dân An Nam về quyền bình đẳng tự do đến hội
nghò Vecxay (Pháp)
+ 1920 Người dự đại hội Tua và là một trong những thành viên đầu tiên tham gia sáng lập
Đảng cộng sản Pháp
+ 1925 Người thành lập nhiều tổ chức cách mạng như: Việt Nam thanh niên cách mạng đồng
chí hội, hội liên hiệp các dân tộc bò áp bức Á Đông
+ 3/ 2/ 1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc) Người là chủ tọa thành lập Đảng cộng sản VN
+ 2/ 1941 Người về nước hoạt động và thành lập mặt trận Việt Minh (Bắc Pó- Cao Bằng)
+ 8/ 1942 Người bò Tưởng Giới Thạch bắt giam
+ 1943 Người được trả tự do
+ 2/ 9/ 1945 HCM đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình
+ Sau cuộc tổng tiển cử đầu tiên (6/ 1/ 1946) Người được bầu làm chủ tòch nước
- Có 1 cuộc đời hết sức nhất quán
+ Yêu nước, thương dân
+ Trung thành tuyệt đối với lợi ích của người cùng khổ
+ Tinh thần thép, ý chí nghò lực vượt qua khó khăn thử thách, chấp nhận hy sinh lợi ích cá
nhân
+ Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có ý thức học tập

đời sống nhân dân tốt đẹp hơn
- Vi Hành cũng là dấu mặt, đổi tên, cải trang nhưng để vụ lợi cá nhân, bỉ ổi
-> Vi Hành trong tác phẩn là dùng để vạch trần bản chất lạc hậu, ăn chơi xa xỉ, bù nhìn, bán nước,
làm nhục quốc thể của vua Khải Đònh trong những ngày sống trên đất Pháp
6/-
Mục Đích Sáng Tác “Vi Hành” - Nguyễn Ái Quốc
- Vạch trần bản chất lạc hậu, bù nhìn, bán nước, ăn chơi xa xỉ, làm nhục quốc thể của vua quan phong
kiến Việt Nam điển hình là vua Khải Đònh
- Vạch trần bản chất bòp bọm, mò dân của thực dân Pháp
- Kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ Pháp và nhân dân thế giới
7/-
HCST “Nhật Ký Trong Tù” – Hồ Chí Minh
“Nhật Ký Trong Tù” là tập nhật ký bằng thơ viết bằng chữ Hán được sáng tác khi Người bò giam cầm
ở nhà tùø Tưởng Giới Thạch (Quảng Châu – Trung Quốc) từ tháng 8/ 1942 đến tháng 9/ 1943 khi Người sang
Trung Quốc liên hệ với các nước đồng minh chống Phát Xít ở Đông Dương
8/-
HCST & CĐ “Tâm Tư Trong Tù” – TỐ HỮU
- HCST: Năm 1939 Pháp trở lại xâm lược đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương, cuối tháng tư
năm ấy Tố Hữu bò chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng Sản. “Tâm Tư Trong
Tù” được viết trong những ngày đầu nhà thơ bò giam nhà lao Xà Lim số 1 Thừa Thiên Huế. Bài thơ mở đầu
cho phần thơ tù, phần “xiềng xích” trong tập Từ ấy.
- CĐ: Bài thơ là tấm lòng yêu đời yêu cuộc sống, khao khát tự do khao khát chiến đấu vì lý tưởng trên
tinh thần lạc quan cách mạng trong chốn lao tù của Tố Hữu.
9/-
Quá Trình Phát Triển Của Văn Học 1945 – 1975
- 1945 – 1954: thời kỳ văn học chống Pháp
- 1954 – 1964:
+ MB: xây dựng XHCN cuộc sống mới
+ MN: tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
- 1964 – 1975: thời kỳ văn học chống Mó

thực dân, xóa bỏ mọi đặt quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam
- Khẳng đònh ý chí của dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự do của tổ quốc
13/-
CĐ, Bố Cục “Tuyên Ngôn Độc Lập” - Hồ Chí Minh
- CĐ: “Tuyên Ngôn Độc Lập” với nội dung chính thức tuyên bố trước nhân dân thế giới sự ra đời của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, quyền độc lập tự do dân tộc ý chí quyết tâm bảo vệ quyền lợi đó của
dân tộc ta. Đồng thời cũng khẳng đònh truyền thống yêu nước, anh hùng, nhân đạo của dân tộc.
- Bố cục: (gồm 3 phần)
 Phần 1: Từ đầu đến “Không ai chối cải được” -> là cơ sở pháp lý (mượn 2 lời trích dẫn cả bản
tuyên ngôn độc lập của Mó (1776) và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791) làm cơ sở pháp
lý cho tuyên ngôn độc lập Việt Nam)
 Phần 2: Từ “Thế mà . . . . dân tộc đó phải được độc lập” -> đây là cơ sở thực tế của tuyên ngôn độc
lập
+ Tố cáo tội ác của thực dân phong kiến
+ Cách mạng chính nghóa của dân tộc Việt Nam
+ Sự ra đời của nước Việt Nam DCCH
 Phần 3: Phần còn lại -> đây là lời khẳng đònh trước thế giới về quyền độc lập tự do của dân tộc
Việt Nam và ý chí quyết tâm bảo vệ quyền lợi ấy của dân tộc
14/-
HCST – XXứ “Đôi Mắt” – NCao
- HCST: 1948 thời kì cả nước bước vào cuộc kháng chiến gian khổ khắt nghiệt, giai đoạn chuyển mình
của tầng lớp văn nghệ só, có nhiều nhà văn đi theo cách mạng sống và sáng tác nhiệt tình với quần chúng
nhân dân, bên cạnh đó còn có những nhà văn có cái nhìn sai lệch về quần chúng nhân dân. Phản ánh vấn đề
này Nam Cao viết Đôi Mắt.
- XX: Trích trong tập “Nhật ký ở rừng”
15/-
Nhan Đề Tác Phẩm “Đôi Mắt” – NCao
Trang - 3 -
- Lúc đầu tác phẩm có tên là “Tiên sư thằng Tào Tháo” về sau đổi tên là Đôi Mắt
- Đôi mắt:

- Trong tác phẩm 2 nhân vật văn só Hoàng & Độ là 2 tính cách trái ngược, thể hiện 2 quan điểm đối
lập nhau về nhiều phương diện, đặc biệt trong cách nhìn về người nông dân
 2 cách nhìn người nông dân của 2 nhân vật Hoàng & Độ
- Cách nhìn của Hoàng
+ Hoàng có cái nhìn khinh miệt đầy đònh kiến đối với người nông dân. Hoàng thấy họ đều ngu
độn, lỗ mãng, ích kỹ, tham lam, bần tiện còn những người làm công tác ủy ban thì vừa ngố vừa nhặng xò . .
.Hoàng cười gằn,. . .nổi khinh bỉ. . .phì cả ra ngoài . . .khi nói về họ. Cái nhìn của Hoàng phiến diện chỉ thấy
hiện tượng mà không thấy bản chất (chỉ thấy cái ngố bên ngoài không thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên
trong qua hành động vác tre đi ngăn quân thù của anh thanh niên . . .)
+ Hoàng ko nhận thức được vai trò của người nông dân, mà chỉ tuyệt đối hóa vai trò của lãnh
tụ, đối lập viõ nhân và quần chúng
- Cách nhìn của Độ
+ Trước cách mạng, giống như Hoàng Độ cũng gần như thất vọng về người nông dân, thấy họ
dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhòn nhục. Anh nghi ngờ “sức mạnh quần chúng”
Trang - 4 -
+ Sau cách mạng, nhờ sống gắn bó với người nông dân, Độ ngày càng nhận thức đúng đắn và
sâu sắc về họ. Anh thừa nhận người nông dân có những hạn chế nhưng anh biết cảm thông, và hơn nữa, phát
hiện ra bản chất nhiệt tình với cách mạng của họ (hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh, gọi lựu đạn
là nựu đạn . . .nhưng đầy lòng yêu nước và làm cách mạng hăng hái . . .). Anh nhận ra biến chuyển tích cực
của người nông dân khi họ tham gia kháng chiến vì độc lập của dân tộc cũng là vì hạnh phúc, tự do của mình
 Kết luận:
Với 2 cách nhìn đời nhìn người hoàn toàn trái ngược nhau của Hoàng & Độ. Nam Cao biểu dương tầng
lớp trí thức trẻ chia sẻ niềm vui nổi buồn cùng chiến đấu với quần chúng nhân dân, đồng thời cũng lên án
tầng lớp trí thức cũ sống thờ ơ, lạc hậu, tách rời quần chúng nhân dân. Từ đó nhà văn đặt ra vấn đề hết sức có
ý nghóa là lập trường quan điểm của người cầm bút
18/-
Chủ Đề “Đôi Mắt” – Nam Cao
Với 2 cách nhìn đời nhìn người hoàn toàn trái ngược nhau của Hoàng & Độ. Nam Cao biểu dương tầng
lớp trí thức trẻ chia sẻ niềm vui nổi buồn cùng chiến đấu với quần chúng nhân dân, đồng thời cũng lên án
tầng lớp trí thức cũ sống lạc hậu, tách rời quần chúng nhân dân.

23/-
CHST, HCST, Đề Tài “Đất Nước” – Nguyễn Đình Thi
- CHST: Bắt nguồn từ lòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về đất nước hào hùng
- HCST: Bài thơ được sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ác liệt (1948 – 1955) nguồn
cảm hứng được nung nấu ấp ủ hơn 7 năm nên hình ảnh trong thơ có chiều sâu tư tưởng
+ 12 câu đầu viết 1948
Trang - 5 -
+ 9 câu kế viết 1949
+ Phần còn lại viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ
- Đề tài: Viết về quê hương đất nước đau thương quật khởi trong chiến tranh chống Pháp
24/-
CĐ “Đất Nước” – Nguyễn Đình Thi
Bằng những vần thơ giàu chất suy tưởng tác giả bộc lộ cảm nghó của mình về hình ảnh đất nước trong
qúa khứ hiện tại và tương lai. Đồng thời ta thấy được tấm lòng yêu nước và tự hào về một đất nước giàu đẹp
anh hùng với ý thức bảo vệ quyền độc lập của dân tộc
25/-
XX, HCST “Vợ Chồng A Phủ” – Tô Hoài
- XX: trích từ tập “truyện tây bắc”
- HCST: 1952 sau 8 tháng cùng sống và chiến đấu với bộ đội, với nhân dân với các dân tộc ít người
miền núi. Hình ảnh con người Tây Bắc đau thương quật khởi đã trở thành cảm hứng cho ông viết về Tây Bắc
trong đó có “Vợ Chồng A Phủ”.
26/-
CĐ “Vợ Chồng A Phủ” – Tô Hoài
Từ cuộc sống tuổi nhục của Mò và A Phủ trong gia đình Thống Lý Pá Tra, Tô Hoài muốn tố cáo tội ác
bọn thực dân phong kiến miền núi đã đày đọa số phận con người đồng thời ca ngợi các dân tộc ít người miền
núi trong qúa trình đấu tranh giành quyền sống đã trãi qua bao tuổi nhục đắng cay, họ vùng lên giành lấy
quyền sống bằng sức quật khởi của chính mình
27/-
Giá trò “Vợ Chồng A Phủ” – Tô Hoài
- GT nghệ thuật:

người lao động nghèo dù trong hoàn cảnh đó họ vẫn biết cưu mang đùm bọc lẫn nhau, hy vọng ở tương lai sẽ
đc đổi đời và hướng về cách mạng.
31/-
GT “Vợ Nhặt” – Kim Lân
- GT nghệ thuật:
+ Sáng tạo tình huống độc đáo hấp dẫn tạo sức lôi cuống
+ Xây dựng nhân vật >< nội tâm tính cách
+ Ngôn ngữ giản dò gần gũi lời ăn tiếng nói của người nông dân
+ Cốt truyện đơn giản có sức khái quát cao
- GT hiện thực:
+ Phản ánh chính xác thực trạng đau lòng của nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945 họ luôn
hướng về cách mạng
- GT nhân đạo:
+ Phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam dù gơi vào nạn đói nhưng
họ vẫn cưu mang lẫn nhau
+ Hy vọng đổi đời, hướng về cách mạng
32/-
HCST, CHST “Tiếng Hát Con Tàu” – Chế Lan Viên
- HCST: trích từ tập “ ánh sáng và phù sa” bài thơ được sáng tác 1960 trong khi miền Bắc xây dựng
CNXH, Đảng và nhà nước kêu gọi nhân dân kể cả tầng lớp văn nghệ só trở về Tây Bắc xây dựng cuộc sống
mới, khôi phục hậu quả của chiến tranh, biến nơi đây thành điểm sáng của no ấm hạnh phúc. Để hưởng ứng
phong trào này mọi người từ khắp mọi miền đất nước trở về đây, bên cạnh đó còn nhiều người ngại khó ngại
đi xa, để động viên cổ vũ mọi người Chế Lan Viên sáng tác nên tác phẩm
- CHST: Niềm tự hào phấn khởi trước cuộc sống mới thay đổi tốt đẹp ở miền Bắc trong kế hoạch xây
dựng CNXH 5 năm lần thứ nhất
33/-
Ý Nghóa Nhan Đề “Tiếng Hát Con Tàu” – Chế Lan Viên
- Bài thơ được sáng tác 1960 khi chưa có đường tàu lên Tây Bắc, nên hình ảnh con tàu thực chất là
hình ảnh biểu tượng là khát vọng là ước mơ sớm trở về Tây Bắc xây dựng cuộc sống mới. “Tiếng Hát Con
Tàu” là khúc hát lên đường với bao khát vọng mạnh mẽ trở về Tây Bắc biến nơi đây thành điểm sáng của no

XX, HCST, CHST “Các Vò La Hán Chùa Tây Phương” – Huy Cận
- XX: trích từ tập “bài thơ cuộc đời”
- HCST: Năm 1960 khi miền Bắc xây dựng CNXH cuộc sống thay đổi tốt đẹp, lúc ấy nhà thơ có dòp
trở lại thăm chùa Tây Phương trên núi Câu Lậu tỉnh Hà Tây có 1 công trình kiến trúc nổi tiếng là 18 pho
tượng bằng gỗ của 18 vò la hán được đặt tại hành lang của chùa được hoàn thành vào TK XVII – XVIII với
những dáng vẻ khác nhau đã tạo cho Huy Cận có những suy nghó về thế giới phật giáo và cuộc sống mới hiện
đại. ông mượn truyện phật để nói truyện đời, truyện của qúa khứ (nổi đau đời mà không cứu được đời của
cha ông TK XVIII như Nguyễn Du) và hiện tại (xây dựng XHCN ở miền Bắc cuộc sống thay đổi tốt đẹp)
- CHST: Niềm cảm thông với những bế tắc của cha ông ở TK XVIII như Nguyễn Du, và niềm tự hào
trước cuộc mới hiện tại
38/-
Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau Trong TP “THCT” – CLV
“Các vò La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương
Há chẳng phải đây là xứ phật
Mà sao ai nấy mặt đau thương”
-> Đoạn thơ với hình thức câu trần thuật, tác giả đã kể lại những suy nghó, cảm xúc của mình sau
chuyến thăm chùa Tây Phương, tác giả có những thắc mắc, hoài nghi về thế giới phật giáo. Tại sao hình ảnh
18 pho tượng của 18 vò La Hán đã đến với cửa phật mà lại mang sự đau khổ của thế giới trần tục. Nó gợi cho
tác giả có những suy nghó về thế giới phật giáo cũng như tâm tư, tình cảm của cha ông (các trí thức đương
thời như Nguyễn Du) ở TK XVIII
39/-
CĐ “Các Vò La Hán Chùa Tây Phương” – Huy Cận
Bằng những vần thơ giàu hình ảnh , giàu chất suy tưởng Huy Cận đã mượn truyện phật để nói truyện
đời, cảm thông với những bế tắc của cha ông (trí thức ở TK XVIII như Nguyễn Du) và tự hào trước cuộc mới
hiện tại (công cuộc xây dựng XHCN ở miền Bắc cuộc sống thay đổi tốt đẹp)
40/-
XX, HCST, Đề Tài, Nghệ Thuật “Mùa Lạc” – Nguyễn Khải
- XX: trích từ tập truyện cùng tên
- HCST: Sau chuyến đi thực tế 1958 hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và nhà nước mọi người trở về

44/-
Quá Trình ST Của TỐ HỮU Từ 1937 – 1978 Trở Về Sau
- 1937 – 1946 tập Từ y -> tiếng hát say mê lý tưởng của thanh niên sẵn sàng vì lý tưởng với tinh
thần lạc quan. Từ y có 3 phần: máu lửa, xiềng xích, giải phóng
- 1947 – 1954 tập Việt Bắc -> phản ánh hình ảnh cuộc kháng chiến với những con người kháng chiến
- 1955 – 1961 tập Gió Lộng -> niềm vui phơi phới trước csống mới no ấm
- 1962 – 1971 tập Ra Trận, 1972 – 1977 Máu & Hoa -> cả nước chống Mó, ca ngợi hình ảnh cuộc
kháng chiến trường kì, ca ngợi chủ nghóa anh hùng của nhân dân 2 miền
- 1978 trở về sau 1 Tiếng Đàn.
45/-
Tại Sao Nói Thơ TỐ HỮU Là Thơ Trữ Tình Chính Trò
- Bản thân ông là nhà thơ, nhà chính trò, một chiến só cách mạng, nêm cảm hứng sác tác đều
được khơi nguồn từ những sự kiện chính trò (Mùa xuân 1968, Việt Bắc. . .)
- Thơ ông nói chuyện chính trò bằng lời lẽ, giọng điệu ngọt ngào của tình mẹ con, tình anh em,
tình yêu lứa đôi
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Đòu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”
Vì thế mà TH diễn đạt chuyện chính trò ngọt ngào gần gũi với nhân dân
46/-
Phong Cách Nghệ Thuật TỐ HỮU
- Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trò nên lý tưởng cộng sản và những vấn đề chính trò là cảm hứng
sáng tác
- Thơ Tố Hữu là thơ lãng mạn chủ nghóa gắn liền với khuynh hướng sử thi
- Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc
+ Thể thơ lục bát
+ Vận dụng vốn ca dao, dân ca
Trang - 9 -
+ Hình ảnh trong thơ gần gũi với đời sống và chiến đấu của nhân dân như: áo chàm, rừng

độc đáo những kỷ niệm ở chiến khu Việt Bắc, từ đó ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng với những con người
anh hùng
51/-
HCST “Kính Gửi Cụ Nguyễn Du” – Tố Hữu
Tháng 10 & 11 năm 1965 giữa lúc cả nước bước vào giai đoạn chống Mó ác liệt nhất, Tố Hữu có dòp
cùng một số đồng nghiệp đi thực tế về vùng khu IV cũ (vùng tuyến lửa nóng bỏng), khi qua huyện Nghi
Xuân quê hương của đại thi hào Nguyễn Du, đúng vào dòp nhân dân đòa phương tổ chức long trọng 200 năm
ngày sinh đại thi hào dân tộc, không khí trang nghiêm và lòng kính trọng rất mực là nguồn cảm xúc để tác
giả viết “Kính gửi cụ Nguyễn Du”
52/-
CĐ “Kính Gửi Cụ Nguyễn Du” – Tố Hữu
Bằng những vần thơ lục bát đậm đà tính dtộc cùng với hình thức lẫy kiều. Tố Hữu thể hiện lòng thông
cảm sâu xa và sự kính trọng rất mực đối với Nguyễn Du, Thúy Kiều, đối với di sản tinh thần của ông cha.
Đồng thời thể hiện ý thức về mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại.
53/-
Anh/ Chò Hiểu Thế Nào Về Nội Dung Đoạn Thơ Sau
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
Trang - 10 -
Đây là sự tôn vinh rất cao, thậm chí chưa tùng có, đồng thời là lòng trân trọng biết ơn sâu sắc thiên tài
Nguyễn Du. Tiếng thơ nguyễn Du là tiếng thơ ''động đất trời'' nghóa là có sức mạnh lay động lòng người và
thấu cả trời đất. Nó là sự kết tinh của ngàn năm đất nước. Tiếng thơ Nguyễn Du nhập với lòng mẹ, tức là cái
vừa gần gũi vừa thiêng liêng, cao cả, vì thế mà nó tỏa rộng trong không gian và trường tồn với thời gian. Quả
là sự khẳng đònh mạnh mẽ về giá trò của thiên tài Nguyễn Du. Trước Tố Hữu, đánh giá về Nguyễn Du, đáng
chú ý nhất phải kể đến ý kiến của Mộng Liên Đường chủ nhân - nhà bình luận văn học thế kỉ XIX, khi ông
cho rằng Nguyễn Du là người ''có con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghó suốt nghìn đời''. Hoặc Cao
Bá Quát cũng từng khen Truyện Kiều ''là tiếng nói hiểu đời”. Các ý kiến đều thống nhất trong sự đánh giá rất
cao về Truyện Kiều và tài năng của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Sau chiến đi thực tế năm 1958, Nguyễn Tuân có dòp cùng sống với bộ đội, thanh niên xung phong
công nhân cầu đường và đồng Tây Bắc. Thực tiễn csống sôi động ở vùng cao cùng vẻ đẹp uy nghiêm hùng vó
của thiên nhiên Tây Bắc đã tạo cảm hứng để Nguyễn Tuân viết “Tùy bút sông Đà” trong đó có tác phẩm
“Người Lái Đò Sông Đà”
56/-
CĐ “Người Lái Đò Sông Đà” – Nguyễn Tuân
“Người Lái Đò Sông Đà” ca ngợi vẻ đẹp trữ tình hùng vó của thiên nhiên Tây Bắc, con người Tây
Bắc tài hoa anh dũng, hi sinh thầm lặng lớn lao trong chiến đấu cũng như trong lao động
57/-
HCST “Rừng Xà Nu” – Nguyễn Trung Thành
Trang - 11 -
Mùa hè năm 1965 khi Mó đổ bộ vào miền nam, lúc ấy nhà văn chuẩn bò in tạp chí văn nghệ quân giải
phóng miền trung. Trong không khí “Hòch tướng só” đánh Mó hừng hực tráng ca NTT cho ra đời “Rừng Xà
Nu”
58/-
Tóm Tắt “Rừng Xà Nu” – Nguyễn Trung Thành
Truyện bắt đầu bằng hình ảnh RXN trong nhựng năm kháng chiến “cả RXN hàng vạn cây
không cây nào là không bò thương” cứ thế 2, 3 năm nay RXN ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho
dân làng
Đứng đầu làng Xôman là cụ Mết – 1 già làng có trách nhiệm, có uy tính, ông đặt niềm tin vào
Đảng và cách mạng “cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Truyện xoay quanh người anh hùng
Tnú trở về làng sau 3 năm đi lực lượng. Tnú tuy có 1 tuổi thơ bi đát – mồ coi sống trong sự đùm bọc của
dân làng Xôman nhưng từ nhỏ đã rất gan dạ cùng Mai nuôi dấu cán bộ, khi bọn Mó hay tin dân làng
Xôman mày giáo chuẩn bò kháng chiến, chúng ra sức đàn áp dã man, thế là nổi bất hạnh lại đến với
Tnú. Trận mưa cây sắt của bọn Mó đã cướp đi sinh mạng của mẹ con Mai, Tnú tận mắt chứng kiến vợ
con mình chết nhưng kông cứu được họ mà anh còn bò trói, đốt cháy 10 đầu ngón tay anh. Mang thù nhà
nợ nước ngay đêm ấy Tnú cùng dân làng nổi dậy
Truyện kết thúc bàng hình ảnh Tnú, cụ Mết, Dít đứng nhìn ra xa, đến hút tầm mắt cũng không
nhìn thấy gì khác ngoài RXN nối tiếp chạy đến chân trời
59/-

mạn của Nguyệt và Lãm
Trang - 12 -
“Mảnh Trăng Cuối Rừng” cùng tên với nhân vật trung tâm Nguyệt. Nguyệt là trăng làm rõ vẻ đẹp
trong phẩm chất của Nguyệt, tăng thêm giá trò của bút pháp trữ tình lãng mạn.
VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
64/-
MĂCXIM GORKI :
Vì Sao Nhà Văn Lấy Bút Danh Là Gorki?, Gorki Có
Nghóa Là Gì?
- Gorki có nghóa là đắng cay tủi nhục, nhà văn lấy bút danh là Gorki nhằm ghi lại nhớ lại tuổi thơ hãi
hùng của mình
+ 3 tuổi mồ côi cha 10 tuổi mất mẹ
+ Sống với ông bà ngoại
- Tự kiếm sống, vừa tự học và vươn lên bằng nghò lực của mình
- Những tác phẩm có liên quan: bộ 3 tự truyện (thời thơ ấu, kiếm sống 1916, các trường đại học của
tôi 1923)
65/-
Từ Những Hiểu Biết Về Cuộc Đời Sự Nghiệp , Nêu Những Yếu Tố Hình
Thành Tài Năng Của Gorki.
- Tuổi thơ đầy hãi hùng, mồ côi cha mất mẹ từ nhỏ sống với ông bà ngoại
+ Bà ngoại là người nhân hậu có vốn kiến thức về văn học nhân gian đã góp phần hình thành
tư tưởng nhân đạo, khơi dậy sở trường yêu thích văn học nhân gian của Gorki
+ Ông ngoại là người keo kiệt, dữ đòn nhưng đã dạy cho Gorki biết đọc biết viết và sớm nhận
ra gai gốc của cuộc đời
+ Tự kiếm sống bằng nhiều nghề như: đi ở, bới rác, khuân vác, phụ bếp. . . Trong thời gian làm
phụ bếp được tiếp xúc với người phụ bếp già Xmurưi tốt bụng, mù chữ, tích góp nhiều sách chính người phụ
bếp già này đã khơi dậy lòng đam mê đọc sách của Gorki
+ Cuộc sống phiêu lưu vừa tự học vừa kiếm sống từ một người chân đất đã trở thành viện só
danh dự viện hàng lâm khoa học Nga, tự học đã tạo cơ hội cho ông tiếp xúc với nhiều thành phần trong xã
hội -> hình thành vốn sống phong phú, đặt niềm tin vào con người cùng với nghò lực bản thân vươn lên trở

Chi Tiết Nào Thể Hiện Tác gỉa Đặt Niềm Tin Vào Con Người?
Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời chò vui sướng chò tạ ơn chúa trời và hy vọng, mong muốn cho con:
“lại chúa tôi, chúa tôi! Sung sướng quá, thích quá đi mất! Ước gì cứ thế này mà đi, đi mãi cho đến cùng trời
cuối đất, và thằng con tôi cứ thế mà lớn lên, nép vào lòng mẹ mà lớn lên mãi trong cảnh tự do, con yêu của
tôi . . .”
Ý nghóa ấy được toát lên trong hoàn cảnh đói kém kia nó như một điều ước lãng mạn bay bổng.
69/-
Qua TP “MCNRĐ” Tác Gỉa Muốn Nói J Với Người Đọc?
Tác phẩm phản ánh hiện thực đói kém của nhân dân Nga, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp
của con người Nga nhân hậu lạc quan, tin tưởng tương lai, kiên cường, có tình cảm gắn bó với quê hương. Tác
phẩm khẳng đònh tình mẫu tử thiêng liêng trong đời sống con người
70/-
LỖ TẤN (1881 - 1936)
- Tên thật là Chu Thụ Nhân
- Lỗ Tấn là bút danh ghép từ họ mẹ (Lỗ Thụy) và chữ “Tấn hành” - một kỷ niệm ấu thơ (hồi còn nhỏ
thường mãi chơi, đến lớp muộn, bò thầy qû mắng, ông khắc lên bàn 2 chữ có nghóa là: “đi nhanh lên”)
- Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương
- Là 1 trí thức có hoài bảo cao đẹp
+ Muốn theo ngành hàng hải để mở mang kiến thức
+ Muốn theo ngành khai mỏ làm giàu cho tổ quốc
+ Ông học giỏi -> được du học ở Nhật -> theo ngành y -> chữa bệnh cho người nghèo. Trong
thời gian du học ở Nhật có lần ông xem phim thấy một người Trung Quốc mạnh khoẻ hớn hở đi xem một
người Trung Quốc khác bò xử chém -> ông nhận ra rằng chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh
tinh thần cho nhân dân -> ông làm văn nghệ, dùng văn chương thúc đẩy tinh thần yêu nước, thức tónh nhân
dân trong tình trạng mê muôïi lạc hậu, xa rời cách mạng
- Quan Điểm Sáng Tác: sáng tác văn chương để cổ vũ tinh thần cách mạng cho nhân dân Trung Quốc
- Văn phong: lạnh lùng, tónh táo, giàu tính chiến đấu.
- Tác phẩm: A Q chính truyện, Bàng hoàng, Gào thét, Nấm mồ, Truyện cũ viết theo lối mới, . . . .
- Sớm giác ngộ cách mạng và chọn con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ chủ nghóa Mác Lênin.
71/-

mà nó có ý nghóa sâu xa hơn đó là thứ dược liệu chữa căn bệnh tinh thần cho nhân dân Trung Quốc lúc bấy
giờ: lạc hậu, mê tính dò đoan, chưa giác ngộ đươc cách mạng
74/-
Từ Tác Phẩm “Thuốc” – Lỗ Tấn Muốn Nói Gì Với Người Đọc
Từ tác phẩm “Thuốc” tác giả muốn phản ánh xã hội Trung Quốc đầu thế kỉ XX: người dân Trung
Quốc chưa giác ngộ được cách mạng, phong trào cách mạng chưa thật sự đi sâu sát vào quần chúng nhân dân.
“Thuốc” trong tác phẩm không đơn thuần là chiếc bánh bao tẩm máu của Hạ Du chữa căn bệnh lao cho
Thuyên mà nó chính là thứ dược liệu chữa căn bệnh tinh thần cho người dân Trung Quốc lúc bấy giờ: mê
muội, lạc hậu, mê tín dò đoan, xa rời cách mạng
75/-
Hình nh Ý Nghóa Con Đường Mòn Trong Nghóa Đòa
- Con đường mòn phân chia ranh giới: 1 bên là những người chết chém, 1 bên là những người nghèo
chết
- Con đường mòn là biểu tượng của sự nhận thức, nó có thể mất đi khi nhân dân Trung Quốc thực sự
thức tónh, giác ngộ cách mạng, nhận ra những người chết chém xuất thân từ những người nghèo, họ đấu tranh
vì quyền lợi của nhân dân.
76/-
Nhân Vật Hạ Du
- Hạ du là một chiến só cách mạng bò xử chém, trong lời nhận xét của những người trong quán trà thì
hành động làm cách mạng của Hạ Du là 1 hành động điên rồ, phản động -> Phong trào cách mạng chưa sâu
sát vào quần chúng nhân dân Trung Quốc.
- Cái chết của Hạ Du là liều thuốc chữa căn bệnh tinh thần cho nhân dân Trung Quốc. Hạ Du chết đã
làm thức tónh tinh thần cách mạng, ý thức đấu tranh của nhân dân, họ hiểu rằng Hạ Du cũng xuất thân từ
những người nghèo đấu tranh vì lợi ích của những người nghèo
77/-
Êxênin (1895 - 1925)
- Xuất thân trong 1 gia đình nông dân tỉnh Riadan (Nga), sống vào cuối TK XIX đầu XX
- Từ bé sống với ông bà ngoại
+ Bà ngoại là người sùng bái tôn giáo -> Êxênin thừa hưởng tư tưởng tôn giáo của bà ngoại
+ Ông ngoại có lối sống phóng túng -> Êxênin thừa hưởng lối sống phóng túng của ông ngoại

Vẫn như xưa chỉ một niềm mong ước
Sớm thoát khỏi nỗi buồn đau tróu nặng
Để trở về với mái nhà xưa.
Con sẽ về khi vào độ xuân sang
Mảnh vườn ta trắng cây cành nảy lộc
Chỉ có điều, mẹ nhé, mỗi ban mai
Đừng gọi con như tám năm về trước
Đừng thức dậy những ước mơ đã mất
Đừng gợi chi những mộng đẹp không thành
Đời con nay đã thấm nỗi nhọc nhằn
Đã sớm chòu bao điều mất mát.
Cũng đừng dạy con nguyện cầu. Vô ích ?
Với cái cũ xưa. không quay lại làm chi
Chỉ mẹ là niềm vui, ánh sáng diệu kì
Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước
79/-
Nội Dung Bao Trùm “Thư Gửi Mẹ” – xênin
Tác phẩm thể hiện tình cảm đối với mẹ, tình yêu thiên nhiên, tình yêu hương đất nước, hòa cùng tình
mẫu tử thiêng liêng (tâm trang lo lắng, sốt ruột của người mẹ đối với con, tình cảm hiếu thảo của người con
đối với mẹ) dù Ông đang sống trong tâm trạng buồn đau tuyệt vọng
80/-
LUI ARAGÔNG (1897 - 1982)
- Sinh ra tại Pari (Pháp)
- Sống với bà ngoại ngỡ bà ngoại là mẹ nuôi, mẹ là chò nuôi, đến khi mẹ chết mới cho ông biết là con
- Ko biết bố là ai
- Lớn lên ông theo học y khoa (Đại chiến thứ nhất bùng nổ 1914 - 1918) ông bò gọi nhập ngũ, đến khi
kết thúc đại chiến ông giải ngũ trong 1 tâm trạng chán chường tuyệt vọng, gia nhập chủ nghóa Đa Đa, chủ
nghóa siêu thực
- 1927 được kết nạp Đảng cộng sản Pháp
- 1928 gặp Enxa -> tình yêu Enxa đã giúp cho Aragông thoát khỏi tâm trạng tuyệt vọng đến với cách

Ngay giữa hồi bi kòch của ta dây
Cuộc đời oái oăm như tấm gng soi
Chiếc lược phân chia ánh lửa vàng óng ả
Làm lóe sáng trong tôi bao trí nhớ
Ngay giữa hỡi bi kòch của ta đây
Như thứ năm cứ hàng tuần ngồi đó
Một ngày dài ngòi soi vào trí nhớ
Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi
Các diễn viên bi kòch của ta đây
Và đấy là các diễn viên ưu tú
Và chẳng nêu tên mọi người đêu rõ
Và vô ý sâu xa đám lửa đêm dài
Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi
Và lẳng lặng chải ánh vàng rục lửa
82/-
Vai Trò Enxa Trong Sự Nghiệp Lui Aragông
- Năm 1928 Lui Aragông gặp Enxa -> tình yêu của Enxa đã giúp cho Aragông thoát khỏi tâm trạng
buồn đau tuyệt vọng, đến với cách mạng từ bỏ chủ nghóa Đa Đa, chủ nghóa siêu thực trở thành nhà văn hiện
thực XHCN
- Trong thơ Aragông luôn có sự hài hoà giữa tình yêu Enxa, tình yêu tổ quốc, lý tưởng cách mạng
- Enxa đã trở thành đề tài lớn trong sáng tác của Aragông, một hình tượng nghệ thuật độc đáo
- Những tác phẩm: Enxa ngồi trước gương, Anh chàng say đấm Enxa, Đôi mắt Enxa.
83/-
Tại Sao Nói “Enxa Ngồi Trước Gương” Có Sự Hài Hòa Giữa TY Enxa Và
TY Tổ Quốc
Bài thơ “Enxa Ngồi Trước Gương” viết về thời kỳ đau thương nhất của nước Pháp, trong những năm
kháng chiến chống Phát Xít (1941 - 1943) mà Enxa và Aragông là những chiến só cách mạng. Bài thơ được
khơi nguồn từ hình ảnh nghệ thuật Enxa ngồi chải tóc trước gương không đơn giản là để làm đẹp mà mà nó
còn có ý nghóa sâu xa hơn đó là hình ảnh gợi lên bao hồi ức của dân tộc, về những người chiến só cách
Trang - 17 -

Nên hình ảnh Enxa ngồi trước gương chải tóc không chỉ để làm đẹp mà đây chình là hình ảnh nghệ
thuật, việc chải tóc như kiên trì dập lửa như góp phần xoa dòu nổi đau chiến tranh, tác giả như khơi lại
những năm tháng đau thương, thời kỳ chống PX của nhân dân Pháp.
87/-
HÊMINGUÊ (1899 – 1961)
- Là tác giả người Mỹ
- Sinh trưởng trong 1 gia đình khá giã tại 1 thành phố nhỏ Chicagô
- Là nhà văn hiện thực của Mỹ
- 18 tuổi làm phóng viên
- Đại chiến thứ nhất bùng nổ ông nhập ngũ chiến đấu ở Ý, ông bò thương nặng và trở về Mỹ được
đón tiếp như 1 anh hùng, nhưng ông cảm thấy không hòa nhập cuộc sống thời bình, ông bất mãn với XH
văn minh Mỹ, bất mãn với chiến tranh qua tác phẩm: “Trong thời đại của chúng ta” hay “Giã từ vũ khí”
- 1937 làm phóng viên trên mặt trận Tây Ban Nha, dựng phim viết kòch để chống Phát Xít
- Đại chiến thứ 2 ông trở lại chiến trường
- Phần > ông sống ở nước ngoài chủ yếu là CuBa
Trang - 18 -
- Sáng CN 7/ 1961 ông tự sát vì cảm thấy không đủ sức “Viết 1 áng văn xuôi đơn giản và trung thực
về con người”
- Sự nghiệp
+ Là người đề sướng nguyên lý “Tảng băng trôi”
+ Đề tài: lên án chiến tranh, ca ngợi lao động, con người, viết về mặt trái của XH văn minh
Mỹ
+ Những tác phẩm: tiểu thuyết ông già và biển cả, chuông ngyện hồn ai, giã từ vũ khí, trong
thời đại của chúng ta . . .
+ Sự nghiệp sáng tác đồ sộ với nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kòch, dựng phim
+ Đạt giải Politde (1953) và giải Nôben (1954)
88/-
Tóm Tắt “Ông Gìa Và Biển Cả” –Hêminguê
Lão Xanchiagô làm nghề đánh cá ở vùng nhiệt lưu đã 84 ngày không bắt được con mồi nào, cậu bé
bạn chày của ông cũng bò cấm theo “Lão già xúi quẩy này”

- Là 1 trí thức bắt rễ sâu vào quần chúng nhân dân và thực tế đầy giông bão của đất nước
+ Nội chiến bùng nổ ông nghỉ học tham gia công tác cách mạng như: thanh toán nạn mù chữ,
trưng thu lương thực của bọn “Culắc”
+ 1922 đam mê văn nghệ, viết truyện ký
Trang - 19 -
+ 1923 lên thủ đô bắt liên lạc (cách mạng). Ở đây ông vừa kiếm sống vừa sáng tác, thực
hiện giấc mơ viết văn, vừa làm công tác cách mạng
+ 1925 trở về quê viết tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm” -> 1926 hoàn thành tập đầu tay ->
1927 quyển 1 ra đời -> 1940 hoàn thành quyển 4
- Thời kỳ chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945) ông là 1 phóng viên đi khắp chiến trường Châu u
- 21/ 2/ 1984 qua đời
- Mikhain Sô Lô Khốp là nhà văn vó đại theo quan niệm chủ nghóa hiện thực của thời đại cách mạng
với tư tưởng đổi mới cải tạo cuộc sống vì hạnh phúc con người
- Là nhà văn lớn của Nga sáng tác theo phương pháp hiện thực XHCN thể hiện cuộc sống chân thực
- Những tác phẩm: Sông Đông êm đềm, đất vỡ hoang, số phận con người . . .
- Đề tài: lên án chiến tranh, viết về quê hương, con người
91/-
Tóm Tắt “Số Phận Con Người” - Mikhain Sô Lô Khốp
Truyện gồm phần mở đầu phần kết thúc và 3 chương. Chương 1 từ cuộc đời Sôcôlốp lúc trẻ
đến chiến tranh vệ quốc bùng nổ, anh đi làm cho bọn “Culắc” sống bằng nhiều nghề có 1 vợ và 3 con
(2 gái, 1 trai). Chương 2 chiến tranh vệ quốc bùng nổ anh bò bắt sau đó trốn theo hồng quân, vợ và 2
con gái của anh chết vì bom. Chương 3 anh được tin con trai làm đại úy pháo binh, ngày chiến thắng
cũng là ngày anh gặp con lần cuối. Kết thúc chiến tranh anh sống trong tâm trạng buồn đau tuyệt
vọng phải sống nhờ nhà người bạn thân và làm nghề lái xe tải, anh thường đến quán rượu để giải sầu
nhưng không bê bết, trong lần tình cờ anh gặp được cậu bé Vania anh đã nhận Vania làm con nuôi,
niềm hạnh phúc đã đến với cả 2 người dù cuộc sống Sôcôlốp trở nên vất vã hơn. Mặc dù vậy nhưng
đêm đêm anh vẫn đầm đìa nước mắt khi mơ thấy vợ và con. Niềm vui mà anh tìm thấy được ở Vania
không thể bù đắp được nổi đau của chiến tranh.
92/-
Từ “SPCN”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status