các phương diện nghệ thuật thể hiện tâm trạng bi kịch - Pdf 25

Cỏc phng din ngh thut th hin tõm
trng bi kch
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngâm khúc là một thể loại văn học tiêu biểu có nhiều thành tựu rực
rỡ trong nền văn học Việt Nam thời trung đại. Thế kỉ XVIII, XIX là thời kì
ngâm khúc nở rộ với hàng loạt tác phẩm. Trong số đó, Thu dạ lữ hoài ngâm
và Tự tình khúc là hai khúc ngâm tiêu biểu nhng cha đợc giới nghiên cứu
văn học chú ý nhiều. Do vậy nó cần đợc nghiên cứu một cách có hệ thống.
1.2. Thế kỷ XVIII, các khúc ngâm chủ yếu viết về tâm trạng bi kịch
của ngời phụ nữ thì hai khúc ngâm Thu dạ lữ hoài ngâm và Tự tình khúc lại
viết về tâm trạng bi kịch của ngời đàn ông. Việc tìm hiểu tâm trạng bi kịch
của ngời đàn ông qua hai khúc ngâm là việc làm có ý nghĩa bởi qua đó ta
nhận thấy một hiện thực rất bi thơng không chỉ xảy ra đối với ngời phụ nữ
mà còn đối với cả những nhà nho có khí tiết.
1.3. Trong giai đoạn hiện nay việc tìm hiểu tác phẩm văn chơng trên
cơ sở đặc trng thể loại là một hớng nghiên cứu đã thu hút đợc sự chú ý của
nhiều ngời trong giới nghiên cứu văn học. Vì thế việc nghiên cứu giá trị
của hai khúc ngâm Thu dạ lữ hoài ngâm và Tự tình khúc trong mối quan hệ
với thể ngâm STLB là việc làm cần thiết để xác định vị trí, vai trò của tác
phẩm trong tiến trình phát triển của thể loại.
1.4. Đề tài này còn có ý nghĩa thực tiễn. Là một thể loại văn học lớn có
nhiều thành tựu ngâm khúc đợc giảng dạy ở nhiều cấp học nên việc triển
khai đề tài sẽ giúp cho việc giảng dạy ngâm khúc đợc tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về cấp độ thể loại có một số công trình nghiên cứu nh : Thơ ca
Việt Nam hình thức và thể loại [42], Ngâm khúc quá trình hình thành phát
triển và đặc trng thể loại [15], Cung oán ngâm khúc trên quá trình phát
triển của thể STLB [46], Lục bát và STLB [44],
2.2. Với hai khúc ngâm Thu dạ lữ hoài ngâm và Tự tình khúc, việc
1

khúc ngời viết hi vọng sẽ đem đến một cái nhìn toàn diện, hệ thống hơn
cho cả hai khúc ngâm.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
2
2
3.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu chính của luận văn là hai tác phẩm : Thu dạ lữ
hoài ngâm ( bản thơ Nôm) của Đinh Nhật Thận và Tự tình khúc của Cao
Bá Nhạ in trong cuốn Những khúc ngâm chọn lọc (Tập 2) của Nguyễn
Thạch Giang, NXB Giáo dục Hà Nội, 1994.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn chỉ đi vào việc tìm hiểu những nét cơ bản nhất về nội dung
và nghệ thuật của hai khúc ngâm Thu dạ lữ hoài và Tự tình. Qua đó bớc
đầu nhận ra đợc những điểm tơng đồng, khác biệt của hai khúc ngâm và vị
trí của chúng trong quá trình phát triển của thể loại ngâm khúc qua hai thế
kỷ XVIII và XIX.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
4.1. Phơng pháp thống kê phân loại
4.2. Phơng pháp so sánh
4.3. Phơng pháp phân tích tác phẩm
5. Bố cục luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chơng:
Chơng một: Giới thiệu chung
Chơng hai: Các phơng diện nội dung của hai khúc ngâm
Chơng ba: Các phơng diện nghệ thuật thể hiện tâm trạng bi kịch
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục
3
3
phần nội dung
Chơng 1

4
4
về sau thất sủng bị vua chán bỏ nơi cung cấm. Ai t vãn là một trờng hợp
khá đặc biệt trong các khúc ngâm ở nhóm A bởi vì đây là lời bày tỏ trực
tiếp tình cảm đau đớn, tiếc thơng chồng vô hạn của hoàng hậu Ngọc Hân.
Nh vậy ba khúc ngâm trên đều ra đời ở thế kỷ XVIII và cùng đề cập
đến số phận bi kịch của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến đơng thời.
2.3. Nội dung của các khúc ngâm nhóm B
Điều khác biệt đầu tiên rất dễ nhận thấy ở nhóm khúc ngâm này là sự
thay đổi về mặt đề tài: phản ánh tâm trạng bi kịch của những ngời nam
giới. Họ là những nhà nho có khí tiết nhng lại bị bắt giam do nghi ngờ có
liên quan đến vụ án chống lại triều đình phong kiến đơng thời.
Thu dạ lữ hoài ngâm là những tâm sự buồn của chính tác giả khi bị
giam lỏng nơi đất khách quê ngời. Tự tình khúc là lời tự tình thấm đầy nớc
mắt của Cao Bá Nhạ khi bản thân và gia đình ông phải chịu những nỗi oan
nghiệt phi lý do xã hội gây nên.

Qua đó nó bày tỏ khát vọng về quyền đợc
sống chính đáng của những ngời lơng thiện, về lẽ công bằng trong xử án.
3. Vài nét về tác giả - tác phẩm
3.1. Đinh Nhật Thận và Thu dạ lữ hoài ngâm.
3.1.1. Tác giả
Đinh Nhật Thận còn gọi là Đinh Viết Thận, tự là Tử Uý, hiệu Bạch
Mao Am, sinh năm 1815 tại làng Thanh Liêm, huyện Thanh Chơng, tỉnh
Nghệ An. ông là ngời thông minh hay chữ và giỏi thơ văn. Bởi tính tình c-
ơng trực nên ông không chịu làm quan mà về nhà vui với nớc biếc non
xanh. Ông cũng có mở trờng dạy học và làm nghề thuốc. Vì có giao du
thân mật với Cao Bá Quát nên Đinh Nhật Thận bị hạ ngục vì triều đình
phong kiến nghi ngờ ông có can hệ đến vụ án dòng họ Cao. Trong lúc bị
giam lỏng nh vậy ông đã viết Thu dạ lữ hoài ngâm bày tỏ lòng mình. Khúc

ngời đỗ đạt làm quan to. Năm 1854, sau khi Cao Bá Quát nổi dậy chống lại
triều đình nhà Nguyễn ở Mỹ Lơng thì cả dòng họ Cao đều bị thảm tru di.
Lúc này biết mình khó thoát khỏi cái chết, Cao Bá Nhạ đã trốn ra Bắc. Trải
qua tám năm sống lẩn lút dới chân núi Hơng Sơn, ông đã bị phát hiện và bị
bắt giam trong ngục. Trải qua nhiều nhà tù, tội danh của ông không đợc
định rõ. Cuối cùng ông bị triều đình nhà Nguyễn đày lên mạn ngợc rồi mất
ở đó.
Về sáng tác của Cao Bá Nhạ: Ngoài Tự tình khúc viết bằng chữ Nôm,
ông còn để lại tác phẩm Trần tình văn viết bằng chữ Hán. Cả hai tác phẩm
đều đợc viết trong những ngày ông bị giam cầm, đày đọa. Do vậy nó là
những tiếng nói tố oan rất sâu sắc.
3.2.2. Tác phẩm Tự tình khúc
Tự tình khúc là một tác phẩm đợc viết theo thể ngâm với 608 câu thơ
6
6
STLB. Về bố cục của tác phẩm Tự tình khúc chúng ta có thể chia thành sáu
đoạn nh sau: Đoạn một từ câu 1 đến câu 36: Nói về gia thế họ Cao và cuộc
đời làm quan của Cao Bá Đạt. Đoạn hai từ câu 37 đến câu 68: Nói về cơn
gia biến. Đoạn ba từ câu 69 đến câu 188 : nói về cảnh tác giả trong khi
lánh nạn. Đoạn bốn từ câu 189 đến câu 480: nói về cảnh tác giả khi bị bắt
giam oan ức và những tâm sự trong ngục. Đoạn năm từ câu 481 đến câu
572: Nhớ lại phong cảnh tơi đẹp của thiên nhiên và hứng thú tao nhã trong
khi lánh nạn. Đoạn sáu từ câu 573 đến câu 608: Ước mơ đợc gửi lòng về
nơi án cũ vờn xa bên ngời vợ hiền yêu dấu.
Tiểu kết
Nỗi oan là đề tài có tính chất truyền thống trong văn học trung đại
Việt Nam. Trớc thế kỷ XIX nó thờng đợc đề cập đến trong các tác phẩm có
qui mô nhỏ. Chỉ khi xuất hiện hai tác phẩm có qui mô lớn là Thu dạ lữ
hoài ngâm và Tự tình khúc thì nỗi oan của con ngời mới đợc phản ánh rõ
nét. Đây có thể coi là hai tác phẩm tiêu biểu nhất trong mảng đề tài viết về

gian chật chội, vắng lặng đến nghẹt thở nỗi cô đơn đã vây kính tâm hồn
ông khiến nhà thơ ngậm ngùi chua xót than cho thân phận mình. Trong
cảnh thơng tâm đó, Đinh Nhật Thận tìm thấy một sự tri ân ở nhà thơ Đỗ
Phủ. Điều này ông càng nặng lòng nhớ về quê hơng. Ta thấy nỗi u hoài của
Đinh Nhật Thận đợc thể hiện qua bài thơ thật nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm
thía vô cùng.
2.1.2. Nỗi nhớ quê hơng, gia đình da diết
Bao trùm lên khúc ngâm là nỗi nhớ quê hơng, gia đình da diết của
nhà thơ. Nhớ về quê hơng, nhà thơ đã nhớ lại thời gian mình phải rời xa
quê hơng để ra đi, khi đó là mùa xuân. Thế mà nay đã mùa thu mà bản
thân nhà thơ vẫn bị giam hãm xứ ngời, thử hỏi lòng không buồn đau sao đ-
ợc? Trong đau đớn khắc khoải vì bị bắt giam oan ức, nghĩ đến thân phận
mình, tâm hồn ông tủi cực, hổ thẹn vô cùng bởi bỗng không phải xa quê,
8
8
xa cha mẹ vì những lí do không chính đáng. Trong cảnh thơng tâm đó, nỗi
niềm không thế san sẻ cùng ai, nhà thơ đã thốt lên lời cay đắng thơng cho
thân phận mình và ngời bạn nơi khuê phòng. Trong xa cách, nhà thơ đã dồn
cả lòng mình để dõi theo nhịp sống của ngời bạn đời. Do vậy mà từng cử
chỉ, hành động, từng trăn trở, nghĩ suy, lo lắng của nàng nơi quê nhà đều đ-
ợc ông cảm nhận đầy đủ, rõ ràng. Nó cho thấy tình quê hơng, gia đình da
diết trong tâm hồn nhà thơ thật sâu nặng.
2.1.3. Niềm lo lắng, nỗi nhớ thơng bạn khôn xiết
Trong xa cách, Đinh Nhật Thận không chỉ nghĩ đến bản thân, đến vợ
con mà ông còn nghĩ đến những ngời bạn tri ân, tri kỷ. Viết về bạn tấm
lòng ông cũng nặng trĩu buồn thơng. Nhớ lại lúc chia ly với bạn nhà thơ
không khỏi ngậm ngùi bởi mới đó mà nay đã cách xa vời vợi. Đau đớn xót
xa hơn là từ khi tiễn biệt nhau ông không liên lạc đợc với họ để cùng chia
sẻ nỗi niềm. Không những vậy, nhà thơ còn lo lắng băn khuăn cho bạn
mình bởi không biết giờ này họ ra sao. Tấm lòng của nhà thơ dành cho bạn

phải giữ vững tấm lòng trung hiếu cho dù hoàn cảnh thế nào. Đây là tiếng
nói khẳng định bản lĩnh kiên định của Cao Bá Nhạ trong mọi gian nan thử
thách của cuộc đời.
2.2.2. Nỗi đau đớn, tủi cực, uất hận trớc nỗi oan khuất
2.2.2.1 Nỗi đau xót vì gia đình, dòng tộc phải chịu án oan
Nỗi oan của dòng họ, gia đình và bản thân Cao Bá Nhạ bắt nguồn từ
ngời chú song sinh cùng phụ thân ông là Cao Bá Quát. Nỗi oan chính là ở
chỗ triều đình phong kiến vì một ngời mà qui tội cả một dòng họ vốn rất
hiển vinh. ý thức đợc điều đó, khúc ngâm đã thay lời nhà thơ viết lên nỗi
oan khiên thảm khốc mà gia đình và dòng họ Cao phải chịu. Nỗi thơng cha
phải thác oan, nỗi lo cho ngời mẹ đang phải nổi chìm lu lạc, nỗi đau gia
đình phải ly tán làm lòng ông luôn quặn thắt. Sống trong nỗi dằn vặt, khắc
khoải và uất hận bởi nỗi oan nghiệt ngã, nhà thơ đã đi tìm nguyên nhân của
tai hoạ nhng bất lực. Nhà thơ đành buông tiếng thở dài ngao ngán, bất lực
cho những nỗi oan khổ mà cả dòng họ Cao phải chịu đựng. Nó cho thấy số
phận bi kịch vô cùng thảm thơng của ngời tù Cao Bá Nhạ.
2.2.2.2. Nỗi đau đớn, tủi cực cho cảnh ngộ bản thân
Không chỉ ý đau xót cho nỗi oan khổ mà dòng họ, gia đình mình phải
chịu, Cao Bá Nhạ còn đau xót cho bản thân mình. Đó chính là những lời tự
tình thấm đầy nớc mắt của một con ngời có số phận vô cùng bi thảm bởi
cuộc đời ông là những nỗi oan khổ chồng chất. Cũng bởi nỗi oan của gia
đình mà ông phải lu lạc, bơ vơ nơi góc bể chân trời với muôn vàn lo sợ.
Nhng đau đớn nhất là khi sống ở nơi đất mới tai họa lại đến với ông một
lần nữa. Có kẻ tố giác và ông lại bị tống giam trong ngục. Uất hận bởi thói
đời đen bạc Đinh Nhật Thận đã cất lời mỉa mai cay đắng cho thói đời đen
bạc, cho nền thống trị bạo tàn. Phải chịu án oan và sự đày đoạ khổ cực nhà
1
1
thơ đau đớn, nhục nhã vô cùng. Điều đó khiến ông nghĩ đến cái chết. Nhng
trong những phút giây tuyệt vọng ấy, trách nhiệm với gia đình, dòng tộc đã

than ai oán não nùng, bi thảm nhất trong những tiếng kêu thơng.
1
1
Chơng 3
Các phơng diện nghệ thuật thể hiện
tâm trạng bi kịch
1. Không gian nghệ thuật
1.1. Khái niệm, tiêu chí phân loại
Không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng góp
phần không nhỏ trong việc thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn. ở thể
ngâm, không gian nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng trong việc thể
hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Để thuận lợi cho việc tìm hiểu sâu đặc điểm về không gian nghệ thuật
trong hai khúc ngâm chúng tôi tạm chia chúng thành bốn kiểu: không gian
tù hãm, không gian lu lạc, không gian quê nhà, không gian khác (là tập
hợp những từ ngữ chỉ không gian không nằm trong ba kiểu trên)
1.2. Không gian nghệ thuật trong Thu dạ lữ hoài ngâm
1.2.1. Thống kê các câu thơ có từ ngữ chỉ không gian
Theo thống kê thì trong Thu dạ lữ hoài ngâm có 52 câu thơ có chứa
từ ngữ chỉ không gian chiếm tỷ lệ 37%. Trong tác phẩm, không gian tù
hãm chiếm tỉ lệ 12%, không gian lu lạc 15%, không gian quê nhà 27%,
không gian khác 46%.
1.2.2. Phân tích số liệu thống kê các câu thơ chỉ không gian
Bảng thống kê cho ta thấy, không gian nghệ thuật xuất hiện khá nhiều
ở tất cả các đoạn thơ, nhất là ở đoạn đầu có tới 11/20 câu thơ có sử dụng từ
ngữ chỉ không gian, chiếm tỉ lệ 55%.
Không gian tù hãm là khoảng không gian chật hẹp, nó gắn với nơi
giam cầm trói buộc con ngời. Trong tác phẩm, kiểu không gian này chiếm
tỷ lệ 12% và nó có mặt ở ba đoạn thơ (trừ đoạn ba). Tất cả đã khắc hoạ rõ
nét tình cảnh thực tại của nhà thơ trong những ngày ông bị giam lỏng ở

phạm trọng tội bị giam giữ, canh phòng nghiêm ngặt.
Không gian lu lạc gắn với đoạn đời tác giả lúc đi trốn (Đoạn ba) và
lúc bị lu đày. Nó đợc nhắc đến qua các từ khách địa, Đông thành, Bắc lộ,
cầu Chiết liễu, Tràng đình Tất cả nhằm khắc hoạ thân phận cơ cực của
ngời tù khi bị giải đi qua nhiều nhà lao với những đoạn đờng đi hiểm trở,
đầy gió sơng ma nắng và dài vô tận.
Không gian quê nhà xuất hiện ở phần lớn các đoạn thơ trong toàn tác
phẩm và nó chiểm một tỷ lệ rất lớn các câu thơ có sử dụng từ ngữ chỉ
không gian (36%). Quê nhà không chỉ là nơi mà mẹ ông đang sống mà còn
là nơi đã cu mang ông suốt thời gian ông lẩn tránh - Đó là Hơng Lĩnh -
nơi mà vợ con đang ngày đêm trông ngóng sự trở về của ông. Nhng tất cả
đều xa cách vời vợi bởi không gian mênh mông vô tận
1
1
Không gian khác phần nhiều là không gian phóng khoáng, gắn với trời,
mây, non nớc, gió trăng Đặt trong thế đối lập với không gian tù hãm, nó
càng khắc hoạ rõ thân phận nhỏ bé cơ cực đến tội nghiệp của ngời tù.
Tóm lại Tự tình khúc xuất hiện hai kiểu không gian đặc trng là không
gian thực và không gian mang tính ớc lệ tợng trng. Tất cả các không gian
nghệ thuật trên đã góp phần không nhỏ trong việc khắc họa tấn bi kịch tinh
thần dai dẳng, triền miên của ngời tù.
2. Thời gian nghệ thuật
2.1. Khái niêm, tiêu chí phân loại
Thời gian nghệ thuật là một trong những yếu tố cơ bản góp phần tạo
nên giá trị cho tác phẩm văn chơng. Trong thể ngâm khúc, thời gian nghệ
thuật là yếu tố góp phần thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Để tiện cho việc nghiên cứu tôi tạm chia thời gian nghệ thuật thành 3
loại: thời gian quá khứ, thời gian hiện tại, thời gian tơng lai.
2.2. Thời gian nghệ thuật trong Thu dạ lữ hoài ngâm
2.2.1. Thống kê các câu thơ có từ ngữ chỉ thời gian

gấp gần ba lần.
Thời hiện tại là khoảng thời gian chiếm số lợng đáng kể trong số các
câu thơ có sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian (45%). Với tác giả quá khứ
càng nặng nề bao nhiêu thì hiện tại càng nặng nề bấy nhiêu. Thời hiện tại
có mặt trong tất cả các đoạn thơ. Nó gắn liền với tình cảnh hiện tại của tác
giả và đợc tính từ khi Cao Bá Nhạ bị bắt, bị giam và bị lu đày nhiều nơi.
Thời gian tơng lai thể hiện mơ ớc, hi vọng của nhân vật về một ngày
nỗi oan của gia đình đợc báo đáp, tác giả đợc trở về quê sống trong mái ấm
gia đình nơi án cũ vờn xa. Trong tác phẩm nó chiếm tỷ lệ nhỏ và nằm rải
rác trong các đoạn hai, ba, bốn của tác phẩm. Đó là một tơng lai mơ hồ,
mong manh và nhuốm màu tuyệt vọng.
3. Ngôn ngữ nghệ thuật
Với mục đích tìm hiểu vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật trong việc khắc
họa tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai tác phẩm, chúng tôi đi vào khảo
sát một vài yếu tố cơ bản, nổi bật, bao gồm: hệ thống các từ, ngữ chỉ trực tiếp
tâm trạng, hệ thống điển tích, điển cố và hệ thống thành ngữ, khẩu ngữ.
Riêng đối với tác phẩm Tự tình khúc, chúng tôi khảo sát thêm hệ thống từ chỉ
nỗi oan. Đây là một trong những nội dung quan trọng tạo nên nét đặc sắc
riêng cho khúc Tự tình.
3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật trong Thu dạ lữ hoài ngâm
3.1.1. Hệ thống từ ngữ chỉ trực tiếp tâm trạng
3.1.1.1. Từ láy
Theo thống kê của chúng tôi, trong Thu dạ lữ hoài ngâm có 15/140 câu
1
1
thơ có sử dụng từ láy, chiếm một tỷ lệ gần 11% (xem phần phụ lục, bảng 5).
Với sự xuất hiện của từ láy tâm trạng của nhân vật trữ tình dờng nh đợc cụ
thể hoá. Đó là các từ: quằn quại, đìu hiu, não nùng, tiêu điều
Nh thế, việc sử dụng từ láy chỉ tâm trạng trong tác phẩm đã đem lại
những hiệu quả nghệ thuật to lớn. Là một hệ thống từ giàu giá trị biểu cảm, từ

3.1.3. Hệ thống thành ngữ, khẩu ngữ
Đây là những yếu tố quan trọng trong hệ thống từ ngữ Việt. Nó góp
phần không nhỏ trong việc tạo nên giá trị cho tác phẩm. Qua việc tìm hiểu
khúc Thu dạ lữ hoài ngâm, chúng tôi nhận thấy từ, ngữ Việt đợc nhà thơ sử
dụng khá nhiều nhng không thấy sự xuất hiện của thành ngữ - một yếu tố
mang phong cách ngôn ngữ văn học dân gian. Phần nhiều từ, ngữ trong tác
phẩm là sự vận dụng linh hoạt các yếu tố của ngôn ngữ đời sống. Theo
thống kê của chúng tôi, tác phẩm có sử dụng 101 từ ngữ mang phong cách
khẩu ngữ trong 140 câu thơ của tác phẩm, chiếm tỉ lệ 72% (xem phần phụ
lục, bảng 8). Phần nhiều các từ ngữ đợc tác giả chọn lựa rất kĩ khi đa vào
tác phẩm. Đó là các từ : chẳng (10 lần), lại (8 lần), và các ngữ tự do nh-
:nh thế ấy, ví chẳng thể, Tất cả điều đó làm cho khúc ngâm trở nên gần
gũi, giản dị và dễ hiểu.
3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình khúc
3.2.1. Hệ thống từ, ngữ chỉ nỗi oan
Qua tìm hiểu khúc ngâm Tự tình, chúng tôi thấy có 15/608 câu thơ có
chứa từ chỉ nỗi oan chiếm tỷ lệ 2%. Nhìn chung hệ thống từ này đợc tác giả
sử dụng rất linh hoạt. Phần nhiều các từ chỉ nỗi oan là danh từ. Trong
những trờng hợp này nó có tác dụng cụ thể hoá nỗi oan mà gia đình và bản
thân Cao Bá Nhạ phải chịu đựng. Chẳng hạn nh từ bể oan, điều oan vu
Bên cạnh đó là các động từ minh oan, hàm oan và tính từ oan trái cũng góp
phần không nhỏ trong việc tạo nên ấn tợng mạnh về số phận bi kịch của
nhà thơ bởi những nỗi oan dồn dập, chồng chất, liên tiếp gieo xuống cuộc
đời ông.
Nh vậy, với hệ thống từ chỉ nỗi oan, Tự tình khúc của Cao bá Nhạ
chính là một bản tố oan rất sâu sắc mà ở đó nạn nhân chính là tác giả.
Qua đó ta cũng thấy đợc tiếng nói đòi quyền đựơc minh oan cho gia đình,
dòng họ Cao và bản thân mình của nhà thơ họ Cao.
3.2.2. Hệ thống từ ngữ chỉ tâm trạng
3.2.2.1. Từ láy

thứ hai trong câu, khi thì giữa câu, cuối câu. Có khi nó đợc đặt trong sự kết
hợp với danh từ, số từ Tất cả đã góp phần tô đậm tấn bi kịch tâm trạng
mà Cao Bá Nhạ phải chịu đựng trong cuộc đời.
3.2.2.3. Từ chỉ nỗi xót thơng
Theo thống kê, tác phẩm có 14/75 câu thơ có sử dụng từ chỉ nỗi xót
thơng, chiếm tỷ lệ 19% trong tổng số các câu thơ có từ chỉ tâm trạng (xem
phần phụ lục, bảng12). Đặc biệt, việc xuất hiện nhiều từ thơng trong tác
1
1
phẩm đã tạo nên nỗi xót xa cho ngời đọc khi chứng kiến số phận bi kịch
của nhân vật trữ tình. Trớc hết đó là nỗi xót thơng cho chính thân phận khổ
đau của mình. Ngoài ra, nó còn đợc nhà thơ sử dụng để nói về những tấm
lòng nhân ái trong thiên hạ dành cho bản thân mình.
Bên cạnh đó phải kể đến sự xuất hiện của từ thơng tâm (4 lần) nh để
tô đậm cảm giác ngậm ngùi chua xót của nhà thơ khi ông phải đối mặt với
muôn vàn gian nan thử thách khắc nghiệt của cuộc đời.
Nh vậy, cùng với hệ thống các từ chỉ tâm trạng, các từ chỉ nỗi xót th-
ơng đã góp phần không nhỏ trong việc khắc hoạ tâm trạng bi kịch của nhân
vật trữ tình khi rơi vào cảnh ngộ đau xót. Điều đó đã mang lại cho tác
phẩm một giọng điệu trầm buồn triền miên, da diết.
3.2.2.4. Từ chỉ nỗi lo sợ
Khác với Thu dạ lữ hoài ngâm, nhân vật trữ tình trong Tự tình khúc
không chỉ có nỗi buồn đau, thơng nhớ mà còn có cả nỗi lo sợ khi bản thân
bị rơi vào hoàn cảnh éo le. Đó là khi dòng họ chịu án oan thảm khốc, nhà
thơ phải rời xa quê hơng sống cuộc đời lu lạc nơi đất khách. Đặc biệt là khi
ông bị quan quân triều đình đến bắt giam, nỗi sợ hãi đã vây kín ông.
Nh vậy có thể thấy tâm trạng lo sợ là một nỗi ám ảnh lớn trong tấn bi
kịch tinh thần mà Cao Bá Nhạ phải chịu đựng trong cuộc đời. Nó cho ta
thấy cuộc sống đầy phong ba bão táp của nhà thơ. Qua đó ta nhận thấy sự
thâm độc của lòng dạ con ngời và sự bạo tàn của chính quyền phong kiến

Việc sử dụng thành ngữ nh vậy là sự thể hiện khá rõ nét mô hình chung và
phổ biến của thành ngữ tiếng Việt. Nó chứng tỏ đợc tài năng và sự hiểu biết
sâu rộng của nhà thơ về ngôn ngữ đời sống - là yếu tố mang đậm bản sắc
văn hoá dân tộc Việt.
Mặc dù các thành ngữ đợc sử dụng mang mô hình chung của thành
ngữ tiếng Việt nhng ngời đọc vẫn cảm nhận đợc sự hấp dẫn mới lạ. Đó là
do sự vận dụng tài tình, linh hoạt các thành ngữ dân gian trong tác phẩm.
Trong số 30 thành ngữ đợc dùng có một nửa đợc lấy từ nguyên mẫu trong
dân gian, số còn lại là sự sáng tạo rất độc đáo của tác giả. Sự sáng tạo của
nhà thơ theo hai cách: Thứ nhất là giữ nguyên cấu trúc câu ở vị trí 1-3 và
thay vào vị trí 2-4 các từ khác. Thứ hai là đảo vị trí các từ trong câu để tạo
nên thành ngữ mới nhng vẫn gần gũi, dễ hiểu.
Nh vậy, so với Thu dạ lữ hoài ngâm, Tự tình khúc đã chứng minh đợc
tài năng của Cao Bá Nhạ trong việc vận dụng thành ngữ dân gian trong tác
phẩm để tạo nên một vẻ đẹp đậm đà bản sắc Văn hoá đân tộc Việt.
Cùng với hệ thống thành ngữ, Tự tình khúc còn sử dụng hệ thống từ,
ngữ mang phong cách khẩu ngữ. Theo thống kê của chúng tôi, tác phẩm có
241 từ khẩu ngữ đợc sử dụng trong toàn tác phẩm, chiếm tỉ lệ 40% (xem
phần phụ lục, bảng 14). Nhìn chung, từ khẩu ngữ đợc sử dụng trong tác
2
2
phẩm này có mật độ không dày nh trong Thu dạ lữ hoài ngâm. Tuy nhiên
cũng có nhiều từ, ngữ xuất hiện nhiều lần tạo nên nỗi ám ảnh, day dứt
trong lòng ngời đọc, đó là các từ: còn (30 lần), lại (19lần), chăng (5 lần),
Bên cạnh đó nhà thơ còn sử dụng một lợng lớn các từ, cụm từ thông dụng
trong đời sống hàng ngày nh: sao nỡ, huống chi, đã chắc hẳn, Tất cả
nhằm khắc hoạ rõ nét hình tựơng nhân vật trữ tình là một ngời giản dị, chất
phác.
Chỉ xét trên phơng diện ngôn ngữ nghệ thuật, việc kết hợp hài hoà hai
hệ thỗng ngôn ngữ bác học và bình dân đã tạo cho khúc ngâm phong vị vừa

Bá Nhạ còn sử dụng khá nhiều lối điệp liên hoàn. Nhờ vậy nó tạo nên cảm
giác về sự triền miên không dứt của tình cảm.
Nhờ những cách điệp theo nhiều kiểu mà đời sống nội tâm của nhân
vật đợc soáy sâu với những điệp khúc đều đều, buồn tẻ, chán ngắt. Bi kịch
tâm trạng của nhân vật trữ tình vì thế càng thê thảm, não nề hơn.
4.2.2. Nghệ thuật điệp khổ thơ
Điệp khổ là sự lặp đi lặp lại cấu trúc của một khổ thơ có chứa những
từ ngữ giống nhau để tạo nên ấn tợng mạnh về dòng tâm trạng cứ triền
miên không dứt của nhân vật trữ tình.
Điệp khổ đợc sử dụng khá nhiều trong Thu dạ lữ hoài ngâm. Nó đợc
sử dụng theo hai kiểu: là điệp khổ theo lối liên tiếp (có 6 cặp) và điệp khổ
theo lối gián cách - thờng cách nhau một khổ thơ(có 2 cặp).
Trong Tự tình khúc điệp khổ xuất hiện không nhiều (có khoảng 5
cặp). Tác phẩm chỉ sử dụng điệp khổ theo lối gián cách. Có khi các khổ thơ
đợc điệp cách nhau rất xa nh khổ 133 và 138, có khi cách nhau một khổ thơ
nh trong Thu dạ lữ hoài ngâm. Nhờ cách điệp khổ này mà ngời đọc cảm
nhận đợc những đau đớn, khắc khoải của nhân vật trữ tình nh những đợt
sóng ngày càng xô lên mạnh mẽ.
Tiểu kết
Có thể thấy không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ
nghệ thuật và nghệ thuật trùng điệp là bốn phơng diện cơ bản tạo nên
những thành công nghệ thuật cho khúc ngâm. Có thể thấy, mỗi phơng diện
nghệ thuật có một chức năng thẩm mĩ riêng nhng tất cả đều tập trung khắc
họa tâm trạng bi kịch của hai nhà thơ - là hai hình tợng trữ tình trong tác
phẩm.
Riêng với Tự tình khúc, ta có thể khẳng định sự thành công nổi trội
về phơng diện ngôn ngữ nghệ thuật. Việc đa hệ thống thành ngữ vào tác
phẩm, khúc ngâm đã cho ta thấy tài năng và phong cách nghệ thuật của
nhà thơ. Chính điều đó làm cho khúc ngâm có một sứ hấp dẫn mới lạ bởi
vẻ đẹp mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt.

tình khúc là khúc ngâm lớn nhất trong số các khúc ngâm STLB.
2
2
4. Với những thành tựu về nội dung và nghệ thuật mà hai khúc ngâm
đạt đợc, Đinh Nhật Thận và Cao Bá Nhạ đã tự khẳng định tài năng, nhân
cách và phẩm giá của mình trớc cuộc đời đen bạc. Điều đáng nói là những
tác phẩm mà họ để lại không chỉ là sáng tạo nghệ thuật vô giá mang dấu ấn
của thời đại mà còn là những tiếng nói tiêu biểu nhất cho số phận bi kịch
của những ngời đàn ông. Bởi vậy, hai khúc ngâm này cần đợc xem xét,
đánh giá đúng đắn để chúng có một vị trí xứng đáng trong chơng trình giáo
dục hiện nay.
2
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status