Nghệ thuật thể hiện chiến tranh và người lính trong thơ 1975 2000 - Pdf 16

Mục lục
Trang
Mục lục 1
Phần mở đầu
2
1. Lí do chọn đề tài
2
2. Lịch sử vấn đề
4
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
7
4. Phơng pháp nghiên cứu
7
5. Đóng góp của luận văn
8
6. Cấu trúc của luận văn
8
Phần nội dung
9
Chơng 1: Khái quát về đề tài chiến tranh và ngời lính trong
văn học hiện đại Việt Nam.
9
1. 1. Đề tài chiến tranh và ngời lính trong văn học trớc 1975
9
1. 2. Đề tài chiến tranh và ngời lính trong văn học sau 1975
15
Chơng 2: Chiến tranh và ngời lính trong thơ 1975 - 2000
nhìn từ phơng diện nội dung trữ tình
22
2.1. Khái niệm trữ tình
22

đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội. Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý
thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi ngời và từng số phận" [46, tr.15]. Văn
học Việt Nam từ sau 1975, tồn tại, phát triển trong điều kiện lịch sử xã hội, trong
môi trờng ý thức, tinh thần có nhiều thay đổi. Những yếu tố đó đã tác động và chi
phối mạnh mẽ xu hớng vận động và đặc điểm của văn học. Đặc biệt là từ sau Đại
hội VI của Đảng, những ngời cầm bút hầu nh không phải "kị húy" hay né tránh khi
muốn đề cập đến các vấn đề trong xã hội. Những bất hạnh cá nhân, những thói đời
đen bạc, những xói mòn đạo đức, những nhu cầu bản năng đều đợc các nhà văn,
nhà thơ đi sâu khai thác.
Văn học từng bớc trở lại với chức năng và bản chất của chính nó. Cha bao giờ
nhu cầu sáng tạo trong dân chủ, nhu cầu sống trong mỗi vấn đề của đời sống để tìm
kiếm những giá trị phong phú của tinh thần con ngời lại đợc văn học quan tâm nh
lúc này. Văn học gắn bó với hiện thực, nhng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn
là suy ngẫm về hiện thực. Đối tợng nghiên cứu và khám phá của văn học không chỉ
là xã hội mà còn là con ngời với tất cả sự phức tạp và bí ẩn của nó. Vấn đề quyền
sống, nỗi đau khổ và hạnh phúc của con ngời đợc văn chơng khai thác với cảm hứng
nhân đạo sâu sắc.
1.2. Đất nớc bớc sang thời kì hòa bình, nhng hậu quả, d âm của nó vẫn tồn tại
dai dẳng trong đời sống của mỗi ngời. Sự khốc liệt của chiến tranh và hình tợng ngời
lính vẫn là cảm hứng của nhiều nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là những ngời mặc áo
lính. Tuy không chiếm vị trí số một nh văn học giai đoạn trớc, nhng đề tài chiến
tranh và ngời lính vẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học,
nhất là từ khi đất nớc bớc vào thời kì đổi mới. Trong quan niệm của nhiều nhà văn
chiến tranh vẫn là siêu đề tài", ngời lính vẫn là "siêu nhân vật", càng khám phá
càng thấy những "độ rung không mòn nhẵn" và công việc của những ngời cầm bút
trong những năm chiến tranh chỉ mới nói đợc một phần nào về cuộc sống, con ngời
thời chiến. Điều đó khẳng định, văn học thời bình vẫn luôn quan tâm dành cho đề tài
chiến tranh và ngời lính những trang viết có giá trị.
2
1.3. Trong sự nhập cuộc với đời thờng, thơ viết về chiến tranh và ngời lính tuy

3
ngời lính sau 1975, từ đó xác định một số bình diện đặc sắc trong cách cảm nhận và
cách thể hiện của các nhà thơ thời kì này.
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài chiến tranh và ngời lính là một dòng chảy không ngừng của văn học Việt
Nam. Mỗi giai đoạn lịch sử, các nhà văn, nhà thơ lại phản ánh vấn đề ở những điểm
nhìn và cách cảm nhận khác. Điều đó phản ánh sự trởng thành hơn trong nhận thức,
bút pháp thể hiện của các thế hệ cầm bút qua từng thời kì. Khi tập trung khảo sát
Nghệ thuật thể hiện chiến tranh và ngời lính trong thơ 1975 - 2000, chúng tôi
thấy đã có nhiều bài viết trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến vấn đề này. Những bài
nghiên cứu đó, chúng tôi chia thành hai nhóm dới đây:
2.1. Những bài nghiên cứu về văn xuôi: Ngời viết cần thấu hiểu chiến tranh
(Nguyễn Quang Hà), Tản mạn về tiểu thuyết sử thi (Hồ Phơng), Có gì mới trong tiểu
thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay (Hồ Phơng), Sử thi và hoành tráng câu trả lời
cho một đời (Chu Lai), Viết về chiến tranh đôi điều suy ngẫm (Chu Lai), Lại nói về
chiến tranh và viết về chiến tranh (Nam Hà), Bộ đội cụ Hồ - nhân vật trung tâm của
văn xuôi, một giá trị độc đáo của văn hóa kháng chiến (Ngô Vĩnh Bình), Văn xuôi
viết về ngời lính hôm nay - một thách đố nhà văn (Sơng Nguyệt Minh), Tiểu thuyết
về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lợng vũ trang sau 1975 - những thành tựu
nghệ thuật còn bị bỏ lỡ (Nguyễn Thiệu Vũ), Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết sử thi
về đề tài chiến tranh cách mạng (Nguyễn Thanh Tú), Ngời lính sau hòa bình trong
tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới (Nguyễn Hơng Giang), Văn học về ngời lính
(Ngô Thảo)
2.2. Những bài nghiên cứu về thơ: Thơ Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh
(Mai Hơng), Đổi mới ngôn ngữ thơ trong thơ kháng chiến (Vũ Duy Thông), Thơ về
ngời lính hôm nay (Vơng Trọng), Suy nghĩ về thơ Việt Nam từ sau năm 1975
(Nguyễn Văn Hạnh), Thơ cách mạng và kháng chiến - một dòng sông thơ rất mới và
tuyệt đẹp (Võ Gia Trị), Thơ chống Mĩ trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam (Lu
Khánh Thơ), Cái đẹp trong thơ kháng chiến 1945 - 1975 (Vũ Duy Thông), Một
phác thảo về thơ bộ đội sau 1975 (Nguyễn Hữu Quý), Thơ trữ tình Việt Nam 1975 -

thật và giá trị nhân văn đợc coi là những yêu cầu t tởng nghệ thuật bao trùm nhất,
nh là lẽ sống của mọi khuynh hớng văn học nghệ thuật chân chính. Với Những
chuyển động của thơ Việt đơng đại, Nguyễn Đăng Điệp đã so sánh: với thơ trớc
1975, dòng thơ phản ánh sự vĩ đại của dân tộc qua hai cuộc chiến tranh, có phần "hạ
tông" và chứa nhiều suy t chiêm nghiệm hơn. Khi cuộc chiến tranh đi qua, dù cha
5
nhiều nhng các nhà thơ đã có một độ lùi cần thiết để nhìn rõ hơn cái đợc cái mất"
[16, Tr. 43]. Tác giả Nguyễn Hữu quý trong bài Một phác thảo về thơ bộ đội sau
1975 cho rằng: "đó là sự bù đắp cho những gì nhà thơ cha viết ra đợc trong thời cả
nớc tng bừng ra trận, thời từng vết thơng đau cũng biết nín máu lại, giọt nớc mắt
tang tóc chảy ngợc vào lòng chiến tranh trong thơ các anh bây giờ có những đau
đớn, xót xa. Cái sự không trở về của những ngời lính trận, có lúc là nỗi ám ảnh nhức
nhối trong thơ" [62, tr. 173]. Lê Thành Nghị Trớc đèn thơ viết: "cha bao giờ thơ
diễn đạt nỗi đau bình thản đến tê dại nh vậy. Chỉ có khi "nớc mắt chảy vào trong",
khi sự nhức nhối đã lên đến cùng cực, khi "cấp độ" của bi kịch đã vợt lên trên giới
hạn, nỗi đau đã đi đến mút chót của cân não, lời lẽ mới trở nên lạnh lùng, ngôn ngữ
mới khoác cái vỏ "vô cảm" bề ngoài nh vậy. Nhng thực ra sau cái vỏ "vô cảm" ấy là
sự ám ảnh của số phận con ngời, là sự cảm thông sâu sắc với số phận con ngời Bên
cạnh bút pháp "tả thực" là bút pháp "biểu hiện" nh một bớc tiến mới của thơ sau
1975, chứa chất nhiều vấn đề của tâm lí, đạo đức, lối sống, nhiều vấn đề của tình
cảm, của tâm linh mà nghệ sĩ có thể khám phá, tái hiện, làm kết tinh, hiển lộ những
triết lí, t tởng mang ý nghĩa nhân sinh của hiện thực"[56, tr. 150].
Nhìn chung, các tác giả đều có nhận định là tác phẩm viết về chiến tranh và ng-
ời lính giai đoạn sau 1975 đa dạng, phong phú về hình thức biểu hiện, chân thực, táo
bạo, với nhiều suy ngẫm, nhiều đào xới, khám phá hơn trong nội dung. Hình tợng
ngời lính trở về sau chiến tranh, đợc các tác giả tập trung khai thác và tô đậm ở góc
nhìn số phận đời thờng. Nhân vật ngời lính đợc đặt ra với t cách con ngời cá thể,
trong mối quan hệ chung, riêng cùng tồn tại. Thơ viết về đề tài chiến tranh và ngời
lính sau 1975, từng bớc vợt qua những giới hạn lịch sử của thơ kháng chiến, để tiếp
cận những mảng màu đời sống còn nhức nhối sau chiến tranh.

5. Đóng góp của luận văn
- Với đề tài này, luận văn góp phần làm rõ diện mạo thơ viết về chiến tranh và
ngời lính giai đoạn 1975 - 2000.
- Luận văn khẳng định một số bình diện đặc sắc, thể hiện qua cách nhìn nhận,
lí giải về chiến tranh và ngời lính của các tác giả, những điểm vừa riêng biệt vừa làm
nên thành tựu của thơ sau 1975.
7
- Ngoài ra, cũng có thể sử dụng luận văn làm t liệu tham khảo cho việc học tập
và giảng dạy phần thơ hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thơ sau 1975.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đợc triển
khai trong ba chơng nh sau:
Chơng 1:
Khái quát về đề tài chiến tranh và ngời lính trong văn
học hiện đại Việt Nam
Chơng 2:
chiến tranh và ngời lính trong thơ 1975 - 2000 nhìn từ ph-
ơng diện nội dung trữ tình
Chơng 3:
Các phơng thức thể hiện cơ bản chiến tranh và ngời lính
trong thơ 1975 - 2000.
Phần nội dung
Chơng 1
Khái quát đề tài chiến tranh và ngời lính trong
văn học hiện đại việt nam
8
1.1. Đề tài chiến tranh và ngời lính trong văn học trớc
1975
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của bốn nghìn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc.
Lịch sử của một dân tộc kiên cờng, không cam chịu kiếp đời nô lệ đã đứng lên quyết

bởi đời sống cộng đồng và mang một ý nghĩa xã hội khác. Việc đa lên hàng đầu con
ngời tập thể, con ngời công dân đã khiến cho văn xuôi giai đoạn trớc 1975 tập trung
chủ yếu vào các biểu hiện tâm lí của nhân vật nh lòng yêu nớc, căm thù giặc, tình
nghĩa đồng bào, tình cảm tiền tuyến hậu phơng, ý thức giai cấp Nhân vật hiện lên
trong các tác phẩm đều là những con ngời hành động. Họ sống, chiến đấu và sẵn
sàng hi sinh cho Tổ quốc thân yêu, bởi thế tâm lí của họ đơn giản, dễ hiểu.
Khi cuộc kháng chiến nổ ra, nhân vật ngời lính đợc xem là nhân vật trung tâm
của văn học kháng chiến. Trở thành ngời lính Cụ Hồ với những đức tính tốt đẹp tiêu
biểu, là cả một chặng đờng giác ngộ rèn luyện của bản thân mỗi ngời. Nói nh
Nguyễn Huy Tởng "đó là kết quả của sự biến đổi của tất cả những con ngời khác
nhau thành ngời lính Việt Nam điển hình".
Ngời lính trong văn học thời kì này, đợc dấn thân vào những nơi gian khổ ác
liệt để thử thách ý chí kiên định và lí tởng mà họ đã chọn. Nhiều tác phẩm đặt các
chiến sĩ trớc sự lựa chọn nghiệt ngã của sự sống và cái chết để khẳng định ý nghĩa
cao cả của sự hi sinh. Đó là những con ngời đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh,
ý chí và khát vọng của cộng đồng, của dân tộc. Điểm nổi bật ở ngời lính văn học
thời kì này là ý thức về trách nhiệm và sự gắn bó với quê hơng, đất nớc. Ngời lính
thờng đợc thể hiện là hình ảnh của những con ngời lạc quan, sống vì mọi ngời, tin t-
ởng tuyệt đối vào lí tởng mà mình đã chọn. Họ là biểu hiện ý chí, khát vọng của
cộng đồng, dân tộc, cao hơn là của thời đại và nhân loại. Lý tởng và nhận thức ấy,
trở thành ý chí và hành động ở mỗi ngời lính. Cha bao giờ ý thức cộng đồng, chủ
nghĩa anh hùng tập thể lại đợc tôn vinh, đề cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa thẩm mĩ
nh vậy trong các tác phẩm. Văn xuôi thời kì này góp phần nâng cao vị thế con ngời
Việt Nam trong những khoảnh khắc lịch sử khốc liệt, làm phong phú thêm cho văn
chơng dân tộc bởi chủ nghĩa anh hùng cao cả.
Với đề tài chiến tranh và ngời lính, nhiều cây bút văn xuôi muốn vơn tới sự
khám phá, lí giải, khái quát sự vận động lịch sử của cuộc chiến. Dù dung lợng hạn
chế của một truyện ngắn, một bài tùy bút hay một bức tranh toàn cảnh trong một
10
tiểu thuyết, thì các tác phẩm đều đề cập đến vận mệnh của đất nớc và nhân dân. Có

tiêu biểu, tái hiện khá chân thực những thử thách và sự hi sinh to lớn của nhiều thế
11
hệ để làm nên chiến thắng. Văn xuôi đã tập trung biểu hiện, ca ngợi chủ nghĩa anh
hùng cách mạng nh một lối sống cao đẹp của hàng triệu con ngời Việt Nam khi đất
nớc có chiến tranh.
1.1.2. Chiến tranh và ngời lính trong thơ
Bên cạnh văn xuôi, thơ viết về cuộc kháng chiến của dân tộc là tiếng hát tự hào
của cái "Ta" nhân danh dân tộc, nhân danh chính nghĩa. Thơ viết về chiến tranh
cách mạng là "một dàn đồng ca" và tác phẩm của họ thuộc về những bài ca "giọng
cao". Với tính chất quyết liệt của cuộc chiến, điều đó có thể xem là một sự tập hợp
cần thiết để có những đóng góp kịp thời, hiệu quả, phục vụ cách mạng.
Qua hai cuộc kháng chiến, thơ Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu nhất định
khi viết về đề tài chiến tranh và ngời lính. Thơ ca của các thế hệ là tiếng nói sống
động và tự tin của những ngời trong cuộc. Ngời ta bắt gặp khá nhiều trờng hợp nhân
danh, nhng mọi sự nhân danh đều tìm đợc cảm thông của ngời đọc vì "thơ ở đây đợc
đảm bảo bằng máu" và bằng vị thế của ngời cầm bút.
Ba mơi năm qua, thơ luôn bám sát cuộc sống thời chiến để thực hiện tốt đề tài
chiến tranh cách mạng. Nổi bật trong thần thái của thơ 1945 -1975 là gam giọng hào
sảng, ngợi ca đời sống chiến đấu đậm chất sử thi, chất lý tởng. Cuộc kháng chiến đã
đa đến những biến đổi rộng lớn, sâu sắc cho thơ ca, mở ra một giai đoạn mới với
nhiều thành tựu và đặc điểm riêng trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam. Thơ thời
này tập trung biểu hiện tình cảm cộng đồng, tinh thần công dân mà bao trùm là tình
yêu nớc: "Đất nớc/ Của những ngời con gái, con trai/ Đẹp nh hoa hồng cứng hơn
sắt thép/ Xa nhau không hề rơi nớc mắt/ Nớc mắt để giành cho ngày gặp mặt"
(Chúng con chiến đấu - Nam Hà). Con ngời cá nhân lúc này cảm thấy nhỏ bé, thế
giới của cái tôi trở nên chật hẹp, thậm chí bị coi là lạc lõng, vô nghĩa khi nó không
hòa nhập vào cái ta cộng đồng. Con ngời kháng chiến sống với những biến cố dữ
dội, những sự kiện lịch sử, những rung động mới lạ và mạnh mẽ, họ chỉ thực sự tìm
thấy sức mạnh, niềm vui và niềm tin tởng ở trong đội ngũ tập thể, của giai cấp và
dân tộc.

nhìn xem, nhìn xem chiếc bàn/ Nơi giục giã ớc mơ, hoài bão/ Bom Mĩ tung, xác trẻ
máu tràn/ Ta thấm máu, viết lời thơ tố cáo" (Bài thơ máu - Phan Sinh Viên). T thế
của cái "tôi" sử thi cho nhà thơ có chỗ đứng ở đỉnh cao của thời đại để bao quát, để
phát hiện, suy ngẫm, hình dung, dự đoán mọi vấn đề mang tính hệ trọng, lớn lao của
đất nớc: "Ta đứng đây mắt nhìn bốn hớng/ Trông lại nghìn xa trông đến mai sau/
13
Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu" (Bài ca xuân 1961 - Tố Hữu). Nhờ thế mà
thơ thời kì này đã có sự mở rộng rất đáng kể về không gian và thời gian, nối liền quá
khứ lịch sử với hiện tại và tơng lai, liên kết dân tộc với thời đại và nhân loại.
Viết về đề tài chiến tranh và ngời lính giai đoạn này, luôn có một lực lợng sáng
tác hùng hậu, tiêu biểu nh các nhà thơ: Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông,
Nguyễn Đình Thi, Thôi Hữu, Hữu Loan, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Thu Bồn,
Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh
Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm
Thị Mĩ Dạ, Trần Mạnh Hảo Đối với thế hệ nhà thơ trởng thành trong kháng chiến,
việc phản ánh hiện thực cách mạng "vừa là trách nhiệm vừa là niềm say mê" và
"chiến trờng trở thành điểm tụ hội những cảm xúc, suy nghĩ của họ".
Văn học giai đoạn 30 năm chiến tranh, ngời lính luôn là nhân vật trung tâm, là
hình ảnh đẹp trong thơ ca. Tuy nhiên, bên cạnh nhân vật ngời lính, nhân vật trữ tình
trong thơ ngày càng đợc mở rộng đến nhiều đối tợng. Có một điểm chung là nhân
vật nào cũng đợc nhìn nhận từ góc độ bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân, t
cách chiến sĩ là chủ yếu. Vẻ đẹp rực rỡ nhất của con ngời trong giai đoạn này đợc
thể hiện ở chỗ biết hi sinh quyền lợi, hạnh phúc cá nhân, cống hiến tất cả, kể cả máu
xơng của mình cho Tổ quốc.
Có thể nói, tủ sách đồ sộ nhất, hay nhất của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -
1975 là sách viết về đề tài chiến tranh cách mạng, lực lợng sáng tác đông đảo nhất,
tài năng nhất là lực lợng các nhà văn chiến sĩ, nhân vật trung tâm đợc khắc họa
thành công nhất trong các tác phẩm văn học là ngời lính.
1.2. Đề tài chiến tranh và ngời lính trong văn học sau 1975
Sau 1975, cùng với hiện thực đa chiều, con ngời đợc nhìn nhận trong hoàn

quan, là kết quả của sự nhào nặn những chất liệu cuộc sống thông qua thế giới chủ
quan của nhà văn. Hiện thực không đơn giản, xuôi chiều, có thể biết trớc, mà chứa
đầy trong nó những yếu tố bất ngờ, phi lý, tác động sâu sắc đến cuộc sống của con
ngời. Nhờ vào chủ trơng đúng đắn của Đảng, đặc biệt là hớng dân chủ hóa trong đời
sống sáng tác mà hiện thực trong văn xuôi viết về chiến tranh đợc nhìn từ nhiều
chiều, đợc phản ánh toàn diện. Mỗi nhà văn có quyền trình bày ý kiến, quan điểm và
cách thể hiện của mình về hiện thực. Không còn ngại bị quan niệm cứng nhắc, đòi
hỏi hiện thực trong văn học phải trùng khít với hiện thực của đời sống, làm cản trở
đến việc sáng tạo.
15
Từ sau 1975, quan niệm về hiện thực của các nhà văn có sự thay đổi. Văn xuôi
có những chuyển biến rõ rệt về quan niệm hiện thực. Trong các tác phẩm, phạm vi
hiện thực đợc mở rộng, có sự bổ sung những miền hiện thực mới mà trớc đây cha có
hoặc rất ít nói đến. Nếu hiện thực trong chiến tranh đề cập đến những cam go, khốc
liệt nhng rất hào hùng của dân tộc, thì hiện thực sau chiến tranh còn nêu lên đợc mặt
trái của cuộc chiến với những thất bại, những sai lầm, thiếu sót, thậm chí cả sự tha
hóa, phản bội, hèn nhát trong hàng ngũ cách mạng.
Hiện thực lúc này, đợc nhận thức là cái cha biết, không thể biết hết, hiện thực
phức tạp cần phải khám phá, tìm tòi. Hiện thực trong tác phẩm là hiện thực đợc lựa
chọn, chắt lọc, khái quát, tái tạo. Theo Nguyễn Minh Châu "phản ánh hiện thực
không có nghĩa là xâu chuỗi các sự kiện nh lâu nay văn xuôi viết về chiến tranh đã
làm, tất cả các thể loại văn học đều phải lấy con ngời làm đối tợng phản ánh".
Những sáng tác thời kì này, không chỉ mô tả hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện
thực. Nhà văn đóng vai trò chủ động đối với việc lựa chọn hiện thực, thoát ra khỏi sự
ràng buộc của chủ nghĩa đề tài, vì thế t tởng và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn trở
nên quan trọng.
Là những ngời đã trải qua chiến tranh, những nhà văn mặc áo lính hiểu rằng,
con đờng đi đến vinh quang phải bớc trên xơng máu, nớc mắt, của biết bao đồng
bào, chiến sĩ nhng điều đó trong chiến tranh cha thể viết ngay đợc. Chiến tranh
chấm dứt, đòi hỏi văn học phải phản ánh, ghi nhận đúng tính khách quan của lịch

đến cho ngời đọc những cảm nhận khác biệt so với các tác phẩm trớc đây. Trong số
các tác phẩm đó, phải kể đến Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh), ăn mày dĩ vãng, Phố, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai ), Chim én bay (Nguyễn
Trí Huân), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Sao đổi ngôi (Chu Văn) Các
tác phẩm có cách nhìn nhận, đánh giá hiện thực trong chiến tranh một cách trung
thực, mạnh dạn hơn. Các nhà văn dành nhiều sự quan tâm về số phận con ngời thời
hậu chiến. Họ tìm thấy ở đó niềm vui - nỗi buồn, yêu thơng - căm hận, dũng cảm -
đớn hèn, trung thành - phản bội khoảng cách thời gian giúp những ngời cầm bút
bình tĩnh nhìn lại cuộc chiến với tầm nhìn đầy nhân văn và mong muốn đóng góp
một tiếng nói có giá trị cho văn học nớc nhà.
1.2.2. Chiến tranh và ngời lính trong thơ
Trớc 1975, vì điều kiện cuộc chiến, các nhà thơ cha có đủ thời giờ để nhìn nhận
chiến tranh và ngời lính một cách thấu đáo và sâu sắc. Họ thờng chỉ nhìn ở những
mặt "đợc", những niềm vui nên thơ thờng tập trung ca ngợi vẻ đẹp của quê hơng, ca
17
ngợi lí tởng, ca ngợi những con ngời từng lập bao chiến công hiển hách cho đất nớc.
Thơ có nói đến mất mát nhng là để tố cáo tội ác của kẻ xâm lợc, bởi họ ý thức tất cả
những mất mát đó sẽ thôi thúc mọi ngời càng quyết tâm chiến thắng kẻ thù xâm lợc.
Trở về thực tế cuộc sống thời bình, đối mặt với muôn vàn khó khăn của cuộc
mu sinh, cảm hứng thế sự đậm màu hơn trong sáng tác văn học. Vẫn những vấn đề
con ngời, chiến tranh, cuộc sống, tình cảm nhng lại đợc các tác giả cảm nhận một
cách sâu lắng, đầy trăn trở: "Tôi bớc ra ngoài bậc cửa chiến tranh/ Trời đã cao
xanh, đất đã bình yên/ Nhng lòng còn khắc khoải/ Tôi sợ sự kiếm tìm/ Của những
ngời mẹ mất con/ Những ngời vợ mất chồng" (Xin đừng của riêng ai - Phạm Minh
Tâm).
Trong hành trình trở về cuộc sống thời bình, thơ đang có sự vận động cân bằng
trở lại với các mối quan hệ của đời thờng. Trớc kia con ngời quên mình vì cộng
đồng thì nay con ngời có nhu cầu khẳng định mình, thể hiện rõ những tình cảm
riêng t, những nỗi buồn thời cuộc: "Chiến tranh qua rồi/ Không ai còn bấm đốt
ngón tay/ Những ngời lính cùng thời với anh tóc cha phai màu lửa/ Đâu chỉ lỡ một

(Gia tài ngời lính - Hải Đờng)
Nếu nh trớc 1975, khát vọng độc lập - tự do nh một biểu hiện đặc trng cho tinh
thần thời đại thì sau 1975, đặc biệt từ 1986 trở đi, khát vọng dân chủ nh một đòi hỏi
bức xúc, để từ đó thiết lập những mối quan hệ xã hội khác, đáp ứng xu thế đổi mới
toàn diện cuộc sống. Đối với sáng tạo văn học nghệ thuật, tinh thần dân chủ nếu đợc
tôn trọng, chủ thể thẩm mĩ đợc tự do bộc lộ, con ngời cá nhân sẽ là những tiền đề để
tạo nên một "tiếng nói nghệ thuật riêng biệt" của từng ngòi bút. Trong xu hớng dân
chủ hóa của xã hội, văn học còn đợc xem là một phơng tiện cần thiết để tự biểu
hiện, bao gồm cả việc phát biểu t tởng quan niệm, chính kiến của mỗi ngời nghệ sĩ
về xã hội và con ngời. Ngời đọc hôm nay, đòi hỏi mỗi nhà thơ không phải là ngời đ-
ợc quyền ban bố, phán truyền các chân lí, mà còn khơi gợi suy nghĩ, để cùng đối
thoại với họ về mọi vấn đề của cuộc sống. Từ đó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, ng-
ời đọc thực sự đợc tôn trọng, đợc quyền bàn luận.
Cùng với sự thay đổi quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thực nh là đối
tợng phản ánh, khám phá của văn học cũng đợc mở rộng và mang tính toàn diện.
Hiện thực trong thơ không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử mang tính
cộng đồng, mà đó còn là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự đa
đoan, đa sự phức tạp, đan dệt nên những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống. Hiện
19
thực đó còn là cuộc sống riêng t của mỗi con ngời, bao gồm cả hạnh phúc lẫn bi
kịch. Tóm lại, hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không
gian vô tận cho thơ thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ.
Các nhà thơ giai đoạn này đi sâu vào phản ánh mặt sau của cuộc chiến, để phát
hiện ra những vấn đề còn bỏ ngỏ mà văn học giai đoạn trớc cha kịp nói đến. Vì thế, sự
khốc liệt của chiến tranh, chiều sâu tâm lý của nhân vật trữ tình, những trăn trở và
giằng xé trong thế giới tinh thần của ngời lính hiện lên qua mỗi thi phẩm ngày càng rõ
nét: "Giải phóng rồi gặp nhau ở thành phố Hồ Chí Minh/ Chúng ta cùng một tuổi/
Tôi phơi phới hồng hào, anh xanh xao gầy guộc/ Đợc giao một việc làm nhũn nhặn/
Anh không còn thời gian để học hành/ Công tác mới anh vụng về kém cỏi/ Chẳng lẽ
tôi hèn hạ tự vỗ về rằng trong kiến thức tôi có máu anh đổ ra ở chuồng cọp/ Trả ơn

trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội
dung tác phẩm, "cái tôi" trữ tình thờng là nhân vật trữ tình.
Do tác phẩm trừ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con ng-
ời, nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời điểm hiện tại. Ngay cả khi tác phẩm
trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc động trữ tình vẫn đợc xuất hiện
nh một trạng thái sống động, một quá trình đang diễn ra. Nhờ đặc điểm này mà
những rung động thầm kín mang tính chất chủ quan, cá nhân, thậm chí cá biệt của
tác giả dễ dàng đợc ngời đọc tiếp nhận nh những rung động của chính bản thân họ.
Đây là cơ sở tạo nên sức mạnh truyền cảm lớn lao của tác phẩm trữ tình. Hơn thế,
việc tập trung thể hiện những nỗi niềm thầm kín, chủ quan đã cho phép tác phẩm trữ
tình thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con ngời nh sống, chết,
tình yêu, lòng chung thủy, ớc mơ, tơng lai, hi vọng. Đây là nhân tố tạo nên sức khái
quát và ý nghĩa xã hội to lớn của tác phẩm trữ tình [ 23, tr. 373].
2.2. Chiến tranh và ngời lính trong thơ 1975 - 2000 từ góc
nhìn sử thi
2.2.1. Sử thi là một khái niệm dùng để chỉ đặc điểm của một thể loại hoặc một
loại hình nội dung văn học, thờng xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Văn học sử thi phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính toàn dân.
Nhân vật trung tâm của nó thờng là những con ngời đại diện cho giai cấp, dân tộc
với tính cách dờng nh kết tinh đầy đủ những phẩm chất cao quý của cộng đồng.
Khuynh hớng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn. Con ngời sống chủ yếu với lịch
sử và tơng lai [58, tr. 82].
Hiện thực phong phú của cách mạng giải phóng dân tộc, những cuộc chiến đấu
anh hùng của quân và dân ta, sự thất bại của bọn đế quốc, những huyền thoại từ
chiến trờng Đó là cơ sở xã hội, lý do thời đại, là nền tảng sâu xa của cảm hứng sử
thi - anh hùng ca. Gắn với các sự kiện, các biến cố lịch sử có tầm thời đại đó,
khuynh hớng sử thi trong thơ viết về chiến tranh và ngời lính có thể đợc xem nh một
tất yếu.
Sau 1975, d âm sử thi vẫn còn vang vọng trong những bài thơ về chủ để chiến
tranh, nhân dân, Tổ quốc, ngời lính. Trong các tác phẩm, tính sử thi vẫn tiếp tục

Những ngời lính tham gia cuộc chiến khi còn rất trẻ nhng họ lên đờng đánh
giặc tự tin kiêu hãnh. Họ chấp nhận cuộc sống gian khổ, thiếu thốn nơi chiến trờng
khắc nghiệt để đánh thắng kẻ thù. Ngay từ đầu, họ đã nhận thức đợc trách nhiệm
23
nặng nề của mỗi ngời đối với lịch sử dân tộc. Cả một thế hệ thể hiện tình yêu Tổ
quốc không phải bằng những lời nói suông mà bằng hành động. Họ tự hào vì đợc ra
trận cùng những năm đất nớc mình khốc liệt nhất: "Trờng Sơn một thời chẳng thể
nào quên/ Những binh đoàn sống giữa rừng xanh sống trong lòng đất/ Ngủ võng
ngủ hầm/ Lính trẻ lng còng dáng lệch/ Chính ủy tuổi năm mơi bạc trắng đầu/ Cô gái
thanh niên xung phong tóc rụng da nhàu/ Chẳng thể tránh thứ bom tọa độ/ thờng
rơi bất thần trong giấc ngủ, bữa ăn/ Mảnh bom phạt ngang/ Rắn độc quấn chân/
Chất độc da cam ngấm vào cây cỏ" (Mây Trắng - Nguyễn Thái Sơn).
"Chiến tranh nh một cơn bão dữ quật lên những cuộc đời, những số phận, ở đó
sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đốt ngón tay, phẩm chất anh hùng và sự hèn
nhát chỉ cách nhau một tầng thép gai" [79, tr.153]. Viết về chiến tranh và ngời lính,
điều cốt tử nhất, cơ bản nhất của cuộc chiến đã đợc các nhà thơ cảm nhận một cách
thật bình dị mà cũng thật sâu sắc. Ngời ra đi trong sự "không bình thờng" của chiến
tranh đã trở thành bình thờng của những con ngời biết đặt quyền lợi của dân tộc lên
trên hết. Các tác giả ngoài việc khắc họa không gian chiến trờng, còn chú trọng đến
những vùng không gian khác nh ở hậu phơng, ở những nơi vùng địch tạm chiếm.
Mở rộng không gian thơ nh thế chính là một sự khẳng định cuộc chiến đấu này là
cuộc chiến đấu toàn dân, chứ không phải của riêng những ngời xông pha lửa đạn,
khắp mọi nơi trên đất nớc, đâu đâu cũng là không khí chiến trờng.
Chiến tranh không chỉ kéo các chàng trai ra trận, mà còn kéo hàng vạn nữ
thanh niên dấn thân vào lửa đạn. Khó có thể cắt nghĩa nổi sức mạnh nào đã nâng bớc
những con ngời trẻ tuổi quả cảm nh vậy. Phải chăng vì nghĩa lớn của cuộc đời,
truyền thống lịch sử hàng nghìn năm giữ nớc của cha ông, ý thức trách nhiệm thế hệ
đã nâng họ lên ngang tầm những dũng sĩ thời đại, nâng sức mạnh của dân tộc đạt
đến những giá trị tinh thần cao cả. Cũng là trách nhiệm với Tổ quốc khi có giặc
ngoại xâm, nhng trách nhiệm của thế hệ lúc này nghiêng về suy nghĩ, phân tích, lí

hi sinh và lòng trung thành với Tổ quốc. Các anh đợc tôn vinh là "những con ngời
đẹp nhất", lập nên những kì tích vĩ đại. Cuộc đời của những ngời lính gắn liền với
những cuộc hành quân không nghỉ. Gian khổ, ác liệt nơi chiến trờng, không làm ng-
ời lính nao núng tinh thần, bởi trong họ luôn có tình cảm dành cho hậu phơng, cho
đồng đội. Thời điểm sau chiến tranh, thơ về ngời lính không chỉ đợc đánh giá qua ý
thức, trách nhiệm, lòng dũng cảm, mà các nhà thơ còn tìm thấy ở họ đời sống tình
cảm tinh tế, sâu sắc: "Anh thơng em rồi đơn độc/ Chỉ mình em hờn giận buồn vui/
Ngôi sao kia còn tìm đôi để mọc/ Một vầng trăng góa bụa ở ven trời/ Con thơng má
chẳng thể về với má/ Để đẵn cây dựng tạm một căn lều/ Nỗi đau lớn má không cần
25

Trích đoạn Ngời lính luôn đợc ngợi ca bởi khí phách hào hùng, thái độ bất khuất, sự hi sinh và lòng trung thành với Tổ quốc Các anh đợc tôn vinh là "những con ngờ chiến tranh và ngời lính trong thơ 1975 2000 từ góc nhìn thế sự đời t Thể loại thơ 1 Trờng ca Ngôn ngữ thơ Giọng Điệu thơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status