BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM Nguyễn Văn Minh
SƠN MÀI BÌNH DƯƠNG
CHẤT LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. NGUYỄN LƯƠNG TIỂU BẠCH
2. TS. TRỊNH DŨNG
Hà Nội – 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ: Sơn mài Bình Dương-chất liệu và
nghệ thuật thể hiện là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các trích dẫn, số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận án
1.3.1. Các loại hình sơn mài truyền thống 38
1.3.2. Mối quan hệ giữa chất liệu và nghệ thuật thể hiện trong sơn mài VN 45
Tiểu kết chương 1 52
Chương 2: NGHỆ THUẬT SƠN MÀI ỨNG DỤNG BÌNH DƯƠNG
2.1. Lịch sử sơn mài Bình Dương 54
2.1.1. Vài nét về vùng đất, con người Bình Dương 54
2.1.2. Tiến trình hình thành và phát triển nghề sơn mài và làng nghề…. 57
2.1.3. Làng nghề sơn mài Bình Dương 69
2.2. Chất liệu sơn mài Bình Dương 72
2.2.1. Các loại chất liệu 72
2.2.2. Quy trình xử lý chất liệu 75
2.3. Nghệ thuật thể hiện 88
Tiểu kết chương 2 96
Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT SƠN MÀI BD
3.1. Những giá trị của nghệ thuật sơn mài Bình Dương 99
3.1.1. Giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội 99
3.1.2. Giá trị thẩm mỹ 103
3.2. Bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật sơn mài BD 117
3.2.1. Một số định hướng phát triển sơn mài ứng dụng Bình Dương 117
3.3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật sơn mài BD 123
Tiểu kết chương 3 141
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 161
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Ngày nay, khi nói đến mỹ thuật VN, đồ sơn và nghệ thuật sơn mài
được xem như là một trong những loại hình truyền thống, mang đậm nét văn
hóa dân tộc, luôn được thế giới quan tâm.
Đồ sơn đã xuất hiện từ rất sớm và lưu truyền qua nhiều thế hệ, ở nhiều
nơi trên đất nước ta, từ Phú Thọ, Hà Nam, Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định đến
Quảng Bình, Thuận Hóa và đặc biệt là Bình Dương, nơi tập trung nhiều thợ
sơn giỏi và phát triển mạnh nghề sơn mài ở phía Nam. Với lịch sử phát triển
gần ba trăm năm, nghề sơn mài trên đất BD được xem là vốn quý về mỹ
thuật, thể hiện bản sắc văn hóa của địa phương. Nó kế thừa đồ sơn và sơn mài
cổ truyền, vừa phát huy những giá trị nghệ thuật của dân tộc, vừa tiếp cận với
các xu hướng mỹ thuật hiện đại, nên đã sớm định hình và ghi dấu ấn sâu sắc
trong lịch sử phát triển vùng đất.
Đất nước ta, giống như các nước trong khu vực, có kho tàng văn hóa
quý báu, đó là hàng trăm nghề thủ công truyền thống với hàng ngàn chủng
loại sản phẩm đa dạng và phong phú, đóng góp tích cực cho văn hóa tiêu
dùng trong quá khứ cũng như hiện tại. Song, hiện nay lối sống đô thị, hiện đại
đang làm cho một bộ phận người dân VN giảm đi ý thức tiêu dùng những sản
phẩm thủ công mỹ nghệ, một số khác có xu hướng sùng bái hàng ngoại nhập
với các chất liệu mới Sơn mài truyền thống cũng dần bị mai một và không
còn nhiều tác phẩm đỉnh cao, có kỹ thuật chế tác tinh xảo cũng như sự phong
phú trong kiểu dáng của mỗi sản phẩm.
Với kiểu sản xuất hàng loạt, tiêu dùng ồ ạt, một số người làm sơn mài
theo kiểu “hàng chợ”, khiến cho nhiều sản phẩm và tranh sơn mài không còn
giữ được vẻ đẹp của sơn mài truyền thống. Người ta chạy theo thị hiếu khách
hàng cùng sự hào nhoáng của nhiều loại chất liệu “phi sơn ta”, dẫn đến tình
trạng sơn mài giả hiệu, kém chất lượng có mặt ở khắp các cửa hàng, nhà sách,
6
văn hóa phẩm và cả các phòng triển lãm Từ đó, bắt đầu có dư luận chê kỹ
chất liệu và nghệ thuật thể hiện, về vai trò của chất liệu trong sự phát triển của
mỹ thuật đương đại. Từ đó, giúp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn và phương
pháp chuẩn mực hơn, sâu sắc hơn trong nghiên cứu, sáng tác và giảng dạy.
2. Tình hình nghiên cứu
Về nghề sơn, đồ sơn cổ truyền và sơn mài Việt Nam
Theo sách Hải Dương cảnh chí, phần truyện Trần Ứng Long, cho thấy
rằng, ngay từ đầu thời Đinh (giữa Tk X), chất liệu sơn đã được dùng để trát
thuyền phục vụ chiến đấu. Còn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, điều thứ XX có
ghi: “Huyện Sơn Vi có trĩ trắng, sơn, tơ” [74, tr.56-58]. Trong quyển Nghề
sơn cổ truyền Việt Nam của Lê Huyên, tác giả đã trình bày, thống kê một cách
khoa học và đầy đủ về nguồn gốc nghề sơn, về kỹ thuật, về loại hình và chức
năng của đồ sơn Tk XVII-XIX ở đồng bằng Bắc Bộ. Phần lịch sử nghiên cứu,
cùng với nhiều tài liệu khác, có đề cập đến một số quyển sách như: Bình Vọng
Trần thị gia phả, viết ở thời Lê, nói về ông tổ nghề sơn làng Bình Vọng,
huyện Thường Tín là Trần Lư, sinh năm Canh Dần (1476), đỗ Đồng Tiến sĩ
năm Nhâm Tuất (1502). Quyển Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử
quán triều Nguyễn, có nói đến một số quy định dùng màu sơn trên kiệu đối
với tôn thất là các quan Tướng quốc thời Trần, hoặc dùng nón sơn đỏ đối với
quân Cấm vệ thời Lê Quyển Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, vào thời
Tống (Trung Quốc) cũng có nói về kiệu “Đinh giai” sơn đen mát và đẹp của
VN đã được dùng làm đồ cống nạp cho phương Bắc và rất được ưa chuộng
[44, tr.16-18], [52, tr.29-33], [74, tr.56-63], [110, tr.953-1007].
Các học giả và các nhà buôn người Pháp cũng có viết đôi điều về đồ
sơn VN Tk XVIII như: William Dampier trong cuốn Một chuyến đi Đàng
Ngoài có nhắc đến việc dùng sơn làm kiệu, làm quan tài và làm mũ (nón) thời
Tây Sơn; Những cây sơn ở Đông Dương của Ch. Crevost và cuốn Sơn và dầu
sơn Bắc Bộ, Trung Quốc và Nhật Bản của Mountier ghi chép khá sâu về cây
8
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài viết, nghiên cứu, khảo luận và giới
thiệu về đồ sơn và sơn mài ứng dụng của các họa sĩ, nhà nghiên cứu như: “Đồ
sơn cổ truyền” của Du Chi và Hoài Linh [52]; “Sơn quang dầu-một loại hình
mỹ thuật trang trí dân gian cần được phục hồi phát triển” của Lê Quốc Lộc
[55]; Sơn mài Việt Nam của Nguyễn Đăng Quang [77]; “Thủ công mỹ nghệ
có còn là một bộ phận của mỹ thuật?” của Vũ Hy Thiều [84]; “Cần quan tâm
đến các nghề thủ công truyền thống” của Vũ Huy Thiều [85]; “Về ngành nghề
sơn mài và sơn quang dầu của ta” của Nguyễn Đức Cường [18]; “Cụ phó
Thành với nghề sơn mài” của Nguyễn Xuân Nghị [64]; v.v… Những bài viết
trên đã khẳng định giá trị tinh thần và ứng dụng của nghề sơn truyền thống
như là một bộ phận không thể thiếu của mỹ thuật nước nhà, vừa phục vụ nhu
cầu thẩm mỹ vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng trong đời sống hàng ngày, cần
phải được quan tâm gìn giữ và phát triển.
Đặc biệt, về nghệ thuật sơn mài VN có các công trình nghiên cứu tổng
hợp của Nguyễn Quang Phòng trong quyển Các họa sĩ Trường Cao đẳng mỹ
thuật Đông Dương [73]; Quang Việt trong quyển Hội họa sơn mài Việt Nam
[106] và một số bài viết gần đây của ông trên Tạp chí Mỹ thuật của Hội Mỹ
thuật VN, đã giới thiệu chi tiết về lịch sử nghề sơn, sự ra đời và phát triển của
hội họa sơn mài VN qua các trích dẫn tư liệu nước ngoài, các nhân chứng, đối
chiếu và bình chú hết sức sâu sắc. Về kỹ thuật có sách Kỹ thuật sơn mài [19]
của Phạm Đức Cường; Kỹ thuật sơn của Nguyễn Văn Lộc [56], giới thiệu đầy
đủ các quy trình, phương pháp thể hiện từ việc đánh sơn, làm cốt vóc đến thể
hiện màu sắc, phủ toát, ủ và đánh bóng… Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, trao
đổi trên các báo, tạp chí chuyên ngành như “Nét độc đáo của tranh sơn mài”
của Nguyễn Quang Hải [31]; “Sơn mài cổ truyền qua bút pháp hiện đại” của
Lê Hiểu [37]; “Về khả năng diễn tả của sơn mài Việt Nam” của Lê Kim Mỹ
[62]; “Về bước phát triển của tranh sơn mài” của Sỹ Ngọc [68]; “Chất liệu
sơn ta và giá trị của nó trong hội họa” của Nguyễn Vinh Phúc [74]; “Sơn mài
10
11
đăng rải rác trên các báo Bình Dương, Phụ nữ, Thanh niên, Tuổi trẻ…, các
tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Mỹ thuật, một số trang web:
www.thuvienbinhduong.org.vn/; http://www.baobinhduong.org.vn; v.v… Nội
dung giới thiệu về làng nghề Tương Bình Hiệp, về nét đẹp sơn mài BD…
Tài liệu nước ngoài có bài viết “Art et technique de la laque au
Vietnam” đăng trong tạp chí của Viện Pháp tại Sài gòn (Institut Français de
Saigon) số 7-15, tháng 1 năm 1974, có đề cập đến giá trị ứng dụng của chất
liệu sơn ta và sự hình thành nghề sơn ở VN, đặc biệt từ năm 1940 với sự phát
triển mạnh của sơn mài mỹ nghệ tại TDM [119].
Nhìn chung, tuy các bài viết, các bài nghiên cứu không hoàn toàn đề
cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu hay chỉ đề cập đến khía cạnh tổng quát
hoặc một phần của đề tài nhưng đó là những tư liệu quý, có giá trị khoa học,
gợi mở cho tác giả luận án nghiên cứu về đặc điểm, tiến trình hình thành nghề
sơn và các giá trị nghệ thuật sơn mài BD trong bối cảnh sơn mài truyền thống
VN.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về đồ sơn và nghệ thuật sơn mài VN, để thấy
được tiến trình hình thành và phát triển sơn mài BD trên nền tảng của sơn mài
truyền thống VN.
Nghiên cứu nghệ thuật sơn mài BD, qua đó, khẳng định những thành
tựu, giá trị nghệ thuật và đóng góp của các nghệ nhân, họa sĩ đối với sự phát
triển vượt bậc của nghề sơn mài, đặc biệt là loại hình sơn mài ứng dụng.
Qua nghiên cứu chất liệu và nghệ thuật thể hiện sơn mài BD, tổng hợp
và đúc kết các giá trị thẩm mỹ để làm cơ sở đưa ra các yếu tố hợp lý, cần thiết
trong việc thể nghiệm và sử dụng chất liệu và xây dựng tiêu chí các loại sản
phẩm sơn mài.
Nghiên cứu thực trạng và xu hướng phát triển của sơn mài ứng dụng
BD. Từ đó, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật của
13
qua đó tổng hợp, đánh giá rút ra những giá trị cơ bản, những đặc trưng chất
liệu và nghệ thuật thể hiện của sơn mài BD.
Tác giả còn sử dụng phương pháp dựa trên thành tựu của các ngành
khoa học có liên quan như phương pháp tiếp cận liên ngành (sử học, văn hóa
học, xã hội học, dân tộc học, triết học, mỹ thuật học… ) để nghiên cứu một
cách tổng quát mối quan hệ biện chứng giữa chất liệu và nghệ thuật thể hiện,
giữa sơn mài ứng dụng và sơn mài hội họa, nhằm giải quyết các vấn đề mỹ
thuật ứng dụng nói chung và sơn mài BD nói riêng một cách căn bản theo quy
luật phát triển của lịch sử, văn hóa, xã hội VN.
6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống lý luận tổng hợp về lịch sử hình thành nghề sơn và nghệ thuật sơn mài
BD trong tiến trình phát triển của sơn mài truyền thống VN.
Luận án đã chứng minh và lý giải: sự phong phú và đa dạng về chủng
loại, thể loại và đề tài của sơn mài ứng dụng BD trong nền kinh tế thị trường
là tích hợp của nhiều yếu tố mang giá trị truyền thống. Giá trị đó chính là bệ
đỡ đảm bảo cho sơn mài BD phát triển theo hướng hiện đại với xu hướng
thẩm mỹ-ứng dụng có tính nghệ thuật cao.
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế của sơn
mài ứng dụng BD trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội. Sơn mài BD có
những cái chung với các vùng khác, nhưng cũng có những đặc trưng của địa
phương, góp phần vào kho tàng văn hóa dân tộc.
Luận án bổ sung vào nguồn tư liệu tham khảo, nghiên cứu chung cho
chuyên ngành và là nguồn tài liệu cho quá trình biên soạn giáo trình, bài
giảng, chuyên đề về sơn mài.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu (10 trang), kết luận và kiến nghị (7 trang), tài liệu
thức diễn tả chất của bề mặt vật thể bằng sáng tối, đậm nhạt trên mặt phẳng,
không gian mà ta hoàn toàn có thể cảm nhận được bằng thị giác chứ không
thể tiếp xúc trực tiếp bằng xúc giác. Như vậy, chất liệu vừa là một khái niệm
cụ thể, vừa là một khái niệm trừu tượng. Cụ thể khi ta hiểu chất liệu là vật
chất, là cái hữu hình, cái có thể sờ được, thấy được và trừu tượng khi chất liệu
là cảm giác về chất, là cái vô hình, hay nói cách khác, là xúc cảm về chất liệu
thông qua nghệ thuật thể hiện của người nghệ sĩ.
Chất liệu tạo hình không những gây ấn tượng hấp dẫn người xem bởi
tính vật lý của nó, mà còn tạo nên sự say mê lắng đọng trong lòng người xem
bằng ngôn ngữ biểu cảm riêng của từng chất liệu. “Nếu hiểu chất (matière) là
lớp biểu bì màu (épiderme coloré) của bức tranh thì nó phải được hiện ra
trong hiệu quả điều hòa của hình và sắc. Kết cấu (texture), ở khía cạnh nào
16
đó, cũng vậy” [106, tr.40]. Do đó, mối quan hệ tương tác ở hai mặt lý tính và
cảm tính này đòi hỏi phải được đặt ra khi nghiên cứu về chất liệu.
1.1.1.1. Sơn ta
Theo Tự điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, sơn ta là “nhựa của cây
sơn, mọc nhiều ở vùng rừng núi trung du nước ta-nhất là vùng Phú Thọ. Cây
sơn ta từ lâu đã được trồng theo quy hoạch. Nhựa cây sơn được chế để dùng
nhiều trong nghệ thuật tạo hình, mỹ nghệ, công nghệ và xuất khẩu. Sơn ta
không giống sơn tây. Sơn tây được làm bằng hóa chất, pha lỏng, có nhiều
màu, đựng trong hộp và thường dùng để sơn lên gỗ, kim loại, nhằm trang trí
hoặc để chống gỉ, chống ẩm, chống mối mọt…”[63, tr.130-132].
Sơn ta có tên khoa học là Rhus Succdanea, có đặc tính cao trong độ kết
dính, giãn nở, chịu các yếu tố nhiệt, ẩm, axít, mài mòn… Nhờ các đặc tính
này khi chuyển sang các loại sơn chín như cánh gián, then cho hiệu quả trong
trẻo, sâu thẳm, có độ bóng cao, có khả năng diễn tả trong hội họa.
1.1.1.2. Sơn Nam Vang
điều làm vật liệu chủ yếu, cho dù chất lượng sơn điều kém hiệu quả hơn so
với sơn ta và sơn Nhật.
1.1.2. Sơn mài
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “sơn mài là chất liệu hội họa, chế từ nhựa
sơn, trong và bóng, dùng để vẽ tranh” hay còn gọi tắt là “tranh sơn mài”. Còn
“sơn son thếp vàng là phủ sơn đỏ, dát vàng ở ngoài (thuộc loại đồ đạc quý,
sang trọng thời xưa)” [12, tr.1463].
Qua chặng đường phát triển từ đồ sơn cổ truyền đến sơn mài nghệ
thuật, nghề làm sơn của ông cha ta đều được gọi là “sơn ta”. Nói là sơn ta để
phân biệt với loại sơn tổng hợp của Pháp và các nước du nhập vào nước ta
dùng cho sơn nhà, sơn cửa, gọi chung là “sơn Tây”. Sơn ta bao gồm toàn bộ
kỹ thuật làm sơn, có khâu nhựa sơn cần pha dầu trẩu, có khâu cần phải pha
nhựa thông, nhưng nước sơn áo cuối cùng vẫn là loại sơn pha dầu trẩu, sơn
phủ bên ngoài, nên còn được gọi là sơn quang dầu. Những hàng mỹ nghệ như:
18
tráp, quả, lẳng, thúng, cơi trầu… đều làm bằng chất sơn quang dầu. Mặt hàng
dân dụng này khi được trang trí toàn bằng nét vẽ thếp bạc phủ sơn quang dầu
thì được đặt tên là hàng nét. Còn các loại tượng thờ làm bằng gỗ mít không
phủ sơn quang, khâu cuối cùng là sơn thếp-thếp vàng, bạc quỳ.
Vào trước năm 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ
cúng, làm hàng mỹ nghệ. Vào thời gian này, một số họa sĩ VN đầu tiên đang
học trường mỹ thuật Đông Dương, đã cùng với các nghệ nhân, kiên trì tìm tòi,
thể nghiệm kỹ thuật dùng sơn sống có pha nhựa thông để tạo ra sơn cánh
gián, cho khả năng mài và đánh bóng được. Từ đó kỹ thuật làm sơn mài được
nhiều nghệ nhân, họa sĩ áp dụng và họ đặt luôn cái tên kỹ thuật đó là “sơn
mài” (nhưng người Pháp không dùng thuật ngữ này mà vẫn gọi là “la laque”-
là chất sơn có nguồn gốc thảo mộc để phân biệt với “la gomme laque” hoặc
“stick-laque”-là chất sơn công nghiệp được pha chế từ côn trùng; hay “le
thẩm mỹ. Hội họa sơn mài được xem là một ngành của mỹ thuật tạo hình và
được thể hiện thông qua nhiều thể loại như: sơn mài phẳng, sơn mài đắp nổi,
sơn khắc…
Sơn mài phẳng: xuất phát từ kỹ thuật vẽ lặn (vẽ chìm), nhiều lớp, sau
đó mài phẳng để tạo các hiệu ứng bề mặt, cuối cùng là đánh bóng bằng tay
với bột than (bột chu). Đây là kỹ thuật khá phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian
và kinh nghiệm. Mặt tranh luôn phẳng nhưng vẫn đảm bảo được quy trình
khắt khe qua nhiều công đoạn từ gắn vỏ trứng đến nét đen, từ thể hiện màu
sắc đến cách xử lý vàng, bạc… từ mài vẽ đến đánh bóng. Dạng tranh sơn mài
phẳng này đã và đang được rất nhiều họa sĩ, nghệ nhân tuân thủ trong quá
trình sáng tác và thao tác.
Sơn mài đắp nổi: dựa trên khả năng kết hợp cao của chất liệu sơn ta với
các chất liệu khác, sơn mài đắp nổi là dạng sơn mài cho phép tạo nền tranh
bằng cách pha trộn sơn ta với bột đất theo một tỷ lệ nhất định để đắp nổi các
chi tiết trong tranh theo nguyên tắc của nghệ thuật chạm nổi hoặc tạo độ cao
20
thấp và chi tiết cho bề mặt của tranh theo nội dung và cách tạo hình riêng, sau
đó ứng dụng các kỹ thuật vẽ màu, kỹ thuật xử lý vàng quỳ, bạc quỳ trong sơn
mài truyền thống để vẽ lên bề mặt của tranh đã được đắp nổi. Dạng sơn mài
này chỉ mài ở những mảng phẳng hoặc mài từng chỗ theo ý đồ của người vẽ.
Sơn mài đắp nổi thường thấy trong các tấm bình phong giai đoạn đầu của hội
họa sơn mài (những năm 1930-1940), trong các tranh sơn mài mỹ nghệ hiện
đại cũng như trong các tác phẩm sơn mài đương đại của các họa sĩ trẻ.
Sơn khắc (Coromandel): tranh được khắc lên tấm vóc đã được chuẩn bị
sẵn (sơn đen, mài phẳng và đánh bóng trước), sau đó tô màu vào chỗ đã khắc.
Sơn khắc đòi hỏi thao tác tỉ mỉ, công phu và khả năng tạo hình cao.
Coromendel là bãi biển của bờ biển Tây Á, Ấn Độ-nằm trong vịnh
Bengale-là hải cảng rất tiện lợi cho việc giao thương giữa châu Âu với Trung
Cho đến nay, thuật ngữ “ứng dụng” đã được sử dụng rộng rãi và bao
quát cho nhiều loại hình mỹ thuật như: “mỹ thuật sản phẩm”, “mỹ thuật môi
trường”, “mỹ thuật sân khấu-điện ảnh”, “mỹ thuật công nghiệp”, hay “mỹ
thuật ứng dụng”… Trong luận án, khái niệm “sơn mài ứng dụng” là loại hình
sơn mài sử dụng các phương tiện tạo hình để sáng tạo nên thế giới đồ vật
mang tính thẩm mỹ và công năng. Nó là sản phẩm được hình thành qua một
quá trình sáng tác mỹ thuật và được thể hiện bởi quy trình công nghệ nhất
định, vừa mang tính thực dụng, phục vụ nhu cầu đời sống vật chất của con
người, đồng thời vừa mang tính chất thẩm mỹ, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh
thần. Sơn mài ứng dụng ngày nay bao gồm các sản phẩm đồ sơn dân gian, sơn
mài mỹ nghệ, có phương thức chế tác cả thủ công, công nghiệp và có hình
thức mỹ thuật mang yếu tố thẩm mỹ của thời đại thông qua sự chi phối của
các ngành đi-dai (design).
Cụm từ “design” ở VN được hiểu là “mỹ thuật công nghiệp”, “thiết kế
tạo dáng công nghiệp” hay “mỹ thuật ứng dụng”. Thuật ngữ này xuất hiện tại
VN khoảng thập niên 1960, bắt nguồn từ “Industrielle Formgestaltung” trong
tiếng Đức khi các giáo sư trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Halle (Die
22
Hochschule für Industrielle Formgestaltung-Halle) sang trường Mỹ nghệ Hà
Nội (nay là trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp) trao đổi học thuật và đã
được dịch thành “mỹ thuật công nghiệp”. Từ đó, mỹ thuật công nghiệp trở
thành thuật ngữ của ngành và trở nên thông dụng, quen thuộc.
Sơn mài mỹ nghệ là những sản phẩm trang trí nhỏ hoặc đồ trang sức,
đồ lưu niệm, đồ dùng… do các nghệ nhân (thợ thủ công) làm bằng tay với
chất liệu nhựa sơn, trong đó có tranh sơn mài mỹ nghệ là một loại tranh trang
trí được sản xuất hàng loạt theo mẫu nhất định. Tùy theo chủ đề mà tranh sơn
mài mỹ nghệ còn có những tên riêng như: tranh Tứ thời (Mai, Lan, Cúc,
Trúc), tranh Cá vàng (vẽ chuyên về cá vàng), tranh Lục đền (bình phong sáu
sơn mài mỹ nghệ. Hai thể chất: sơn ta và vỏ trai, xà cừ đã được nghệ nhân kết
hợp thể hiện đầy tính trang trí trong những bộ bàn ghế, những chiếc trường
kỷ, tủ thờ, bàn viết, những bức tranh bộ qua đề tài dân gian… đã tạo nên nét
lung linh cho sản phẩm.
Ngày nay do phát triển phong phú về đề tài, với nhiều chất liệu của cốt,
nền như: gỗ, đồng, nhựa, đất, đá, thủy tinh, tre nứa, giấy, quả bầu, v.v… có
kích thước khác nhau nên sơn mài mỹ nghệ được thể hiện với nhiều gam màu,
hòa sắc, thậm chí chuyển sắc độ sáng tối để diễn đạt không gian, tôn vẻ đẹp
riêng cho từng chủng loại sản phẩm, phục vụ mọi thị hiếu người tiêu dùng.
Khi nền công nghiệp phát triển, những sản phẩm trang trí này được làm bằng
máy móc, giống nhau hàng loạt, nên đôi lúc còn gọi là sơn mài kỹ nghệ. Do
đó, ở góc độ nhìn chung cho các sản phẩm sơn mài mỹ nghệ ngày nay, chúng
ta cũng có thể hiểu và tạm gọi qua thuật ngữ “sơn mài ứng dụng”.
1.2. Khái quát lịch sử nghề sơn và nghệ thuật sơn mài Việt Nam
1.2.1. Nghề sơn từ thời tiền sử đến năm 1858
Thời tiền sử là giai đoạn bản địa của văn hóa VN, có tính chất quyết
định sự hình thành, phát triển và định vị của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Cách
nay khoảng 4000 năm, cư dân VN, từ lưu vực sông Hồng cho đến lưu vực
sông Đồng Nai đã bước vào thời đại kim khí với ba trung tâm văn hóa lớn là
24
Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai. Trong đó, thời đại Hùng Vương (văn hóa
Đông Sơn), đã xây dựng được nền văn minh cao, trước khi văn hóa Hán và
người Hán xâm nhập. Cư dân thời đó sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, rau
củ và cây ăn quả. Ban đầu con người làm ruộng bằng những cái cuốc đá, đến
giai đoạn Đông Sơn đã xuất hiện lưỡi cày bằng đồng và trâu bò được dùng
làm sức kéo. Các nghề thủ công phát triển, nghề làm công cụ đá đã có trước
giai đoạn Đông Sơn, sau đó chuyển thành nghề làm đồ trang sức. Nghề làm
đồ đồng đã phát triển cao trong giai đoạn Đồng Đậu, đến giai đoạn Đông Sơn