THUẬT NGỮ "SƠN MÀI VIỆT NAM" NHỮNG
VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT
Theo ý kiến của họa sĩ Trần Khánh Chương thì nguyên liệu của tranh sơn mài là
dùng nhựa cây sơn ta và nên đưa ra nhiều quan niệm mới hơn khi vẽ tranh ngoài
các kỹ thuật đã có. Truyền thống cần được gìn giữ và phát huy nhưng nếu giữ gìn
truyền thống một cách bảo thủ thì nghệ thuật sơn không thể phát triển được. Ví dụ
như tranh sơn dầu, nếu chỉ dừng lại ở thời kỳ Phục Hưng, lấy tiêu chí nhẵn, phẳng
thì sơn dầu không phát triển như ngày nay được. Sơn Nhật cũng là một chất liệu
sơn và nên gọi tên nó là sơn Nhật. Dùng chất liệu sơn ta thì nên gọi tên là tranh sơn
ta. ý kiến của họa sĩ Nguyễn Đỗ Bảo cho rằng: sơn ta từ nghệ thuật trang trí đến
nghệ thuật tạo hình rồi lại trở về nghệ thuật trang trí nhưng ở tầng cao hơn và phải
đẩy nghệ thuật trang trí lên tới đỉnh cao là nhiệm vụ của người họa sĩ sơn mài. Có
lẽ nên gọi là tranh sơn hay sơn Phú Thọ (tức là tranh sơn ta) để phân biệt giữa chất
sơn của mình với chất sơn các nước bạn.
Có ý kiến lại cho rằng “lý tưởng nhất của sơn mài là mài” và phải giữ thuật ngữ
sơn mài là vì lý do đó. Khi mài cũng là vẽ và mài tạo cho sự thay đổi cảm hứng
sáng tạo. Gọi là tranh sơn mài vì nhất định phải mài ra mới thấy hết hiệu quả.
Tranh sơn mài Việt Nam khác với các tranh của Trung Quốc ở điểm này, mang
tính độc đáo, tính dân tộc của Việt Nam, càng không giống như cách vẽ sơn dầu ở
các nước Tây Âu khác. Theo ý kiến của một nghệ nhân sơn mài, cũng có thể chia
làm ba dòng tranh: tranh sơn Phú Thọ, tranh sơn Nhật và tranh sơn Điều cho thật
rõ ràng, dựa trên chất liệu mà người họa sĩ chọn. Người vẽ sẽ tự tìm đến chất liệu
sơn nào phù hợp khi sáng tác.
mài. Xuất hiện tranh “sơn giả” thay cho sơn mài: Dùng cách vẽ bột màu phủ PU,
dùng thiếc thay bạc cựu, dùng nhũ giả thay vàng. Tranh sơn giả có thể bóng bẩy,
hào nhoáng nhưng mất đi chiều sâu đằm thắm và duyên dáng của sơn mài truyền
thống. Về độ bền của tác phẩm, tranh sơn giả cũng có tuổi thọ ngắn hơn tranh sơn
mài truyền thống.
Song, công bằng mà nói, tranh sơn Việt Nam ở giai đoạn hiện nay cần được xem
xét toàn diện ở nhiều khía cạnh. Những tranh tuy không sử dụng nguyên liệu sơn ta
truyền thống, những nguyên liệu đắt tiền, vẫn có chỗ đứng của nó. Bởi lẽ, giá trị
của tác phẩm nghệ thuật không chỉ được khẳng định ở việc sử dụng nguyên liệu và
biện pháp kỹ thuật mà còn được khẳng định ở các giải pháp tạo hình, đặc biệt là sự
tổng hòa các quan hệ giữa bố cục, hình tượng, màu sắc và những dạng chất trên bề
mặt tranh. Bản chất nghệ thuật là khám phá, tác phẩm sơn mài “phi truyền thống”,
như sử dụng nguyên liệu sơn Nhật chẳng hạn, nếu giải quyết tốt được những mối
quan hệ trên thì vẫn có thể mang lại hiệu quả nghệ thuật trừ một tiêu chí là nó
không được chế tác công phu và dùng nguyên liệu quí hiếm giống như sơn mài
truyền thống. Như vậy, bên cạnh tranh sơn mài được chế tác theo phương pháp
truyền thống là loại tranh đã được xếp đẳng cấp cao của nghệ thuật tranh sơn,
những tranh sơn thể loại khác (mài và không mài toàn bộ) vẫn có thể làm cho nghệ
thuật tranh sơn của ta phát triển phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nghệ
thuật. Các họa sĩ hiện nay có thể dùng vóc vẽ trên cốt mặt phẳng composit, dùng
các kỹ thuật gắn, đắp, phun sơn trên bề mặt với nhiều thay đổi kỹ thuật, có chỗ tạo
độ bóng, có chỗ không nhẵn, có chỗ gắn các chất liệu khác, đó là sự “phóng tác”
ngoài kỹ thuật truyền thống.
Nghệ thuật vẽ sơn sẽ còn phát triển và cho nhiều thành tựu sáng tạo. Thuật ngữ
“sơn mài Việt Nam” sẽ còn tồn tại mãi. Nhưng thuật ngữ “tranh sơn Việt Nam”
cũng nằm trong tầm tay của các thế hệ họa sĩ đang tiếp cận với một loại hình nghệ
thuật có nhiều đặc trưng kỳ thú. Gìn giữ những gì đã có hay tiếp biến sang một
trang mới cũng đều là những thành tựu cần có thời gian để trả lời.