1
2
3
4
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Suốt thời kỳ phong kiến có thể thấy về kỹ thuật và chất liệu làm sơn ta không có biến đổi nhiều, về
sản phẩm nghề sơn cũng vậy. Cha bao giờ nghề sơn lại có những biến đổi nhanh nh thời gian gần đây.
iều này không chỉ thể hiện rõ ở lĩnh vực nghệ thuật chuyên nghiệp mà cả trong một số loại hình sản
phẩm của mỹ nghệ dân gian nơi các làng nghề cũng có những biến đổi để phù hợp với thị trờng, đáp
ứng thẩm mỹ đa dạng hơn.Trong rất nhiều sự biến đổi đó điều đáng phải suy nghĩ nhất chính là những
biến đổi về kỹ thuật sản xuất và chất liệu sơn mài bởi đây chính là việc còn hay không một nghệ thuật
sơn mài truyền thống vốn đã đạt đợc những giá trị đáng tự hào. Vì vậy, nghiên cứu về biến đổi kỹ
thuật, chất liệu sơn mài để thấy đợc những gì đợc mất của nghệ thuật sơn mài sau những biến đổi thăng
trầm.
5
Nghiên cứu về nghệ thuật sơn mài luôn là vấn đề đợc nhiều nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ
quan tâm dới nhiều góc độ. Nhng cho đến nay vẫn cha có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ
thống về quá trình phát triển của kỹ thuật, chất liệu và hiệu quả thẩm mĩ của những phát kiến này, vì
vậy tôi nhận thấy đây là một vấn đề cần đợc tiếp cận nghiên cứu để thấy đợc biến đổi của nghề sơn
trong dòng chảy của nghệ thuật và đời sống hiện đại và cũng để thấy đợc một hớng đi trong việc bảo
tồn và phát huy bản sắc dân tộc trong một lĩnh vực nghệ thuật và một lần nữa khẳng định sức sáng tạo
vô cùng phong phú của những ngời nghệ sĩ, nghệ nhân Việt Nam. Xuất phát từ những lý do trên, tôi
chọn đề tài Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam hiện đại làm
đề tài luận án.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Luận án đi sâu vào nghiên cứu những biến đổi về kỹ thuật và chất liệu của nghệ thuật sơn mài
Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau để thấy đợc những yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến
những biến đối đó và qua đó khẳng định đợc những biến đổi trong nghệ thuật sơn mài là theo qui luật
khách quan để tồn tại và phát triển.
2.2. Luận án cũng trình bày thành quả của nghệ thuật sơn mài từ khi là chất liệu dùng để trang trí,
cơ bản của nghệ thuật sơn mài Việt Nam; khẳng định vị trí, vai trò của sơn mài trong nền văn hóa Việt,
để từ đó khai thác và ứng dụng những tiềm năng, tính u việt của nó trong xã hội hiện đại.
5.2. Bản luận án khi đợc hoàn thành sẽ hệ thống hóa rõ nét sự biến đổi, chuyển đổi của chất liệu,
kỹ thuật nghề sơn qua từng giai đoạn trong lịch sử. Xác định rõ vai trò của các yếu tố trên trong việc
ứng dụng, sáng tạo của các nghệ nhân, nghệ sỹ và khẳng định đây là một trong những yếu tố căn bản
tạo nên sức sống, bản sắc của nghề sơn truyền thống, nền tảng của sự hình thành nên ngành sơn mài
hội họa Việt Nam.
8
5.3. Luận án đồng thời cũng góp phần khẳng định thêm rằng: vận động, biến đổi là quy luật khách
quan, là yếu tố tạo nên sự đa dạng và phát triển và đồng thời cũng đa ra một vài kiến nghị nhằm bảo
tồn nghệ thuật sơn mài truyền thống cho hiện tại và tơng lai.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án chia làm ba chơng:
Chơng I. Sự phát triển và định hình về chất liệu, kỹ thuật của nghề sơn cổ truyền trớc năm
1925
Chơng II. Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu từ nghề sơn cổ truyền thành sơn mài hội họa
Chơng III. Những thay đổi về kỹ thuật, chất liệu của nghệ thuật sơn mài từ sau đổi mới
9
CHNG I
Sự phát triển và định hình về chất liệu, kỹ thuật của nghề sơn cổ truyền trớc năm 1925
1.1. Tổng quan về nghệ thuật sơn mài
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu
Nghề sơn đã có một lịch sử lâu đời, nhng viết về nghề sơn (trong thời kỳ phong kiến), và sự nghiên
cứu về nghề sơn vẫn còn nhiều hạn chế và phiến diện. Những t liệu về nghề sơn đợc viết trong nhiều
th tịch là do sử gia, nhà nghiên cứu viết về vấn đề khác nhân đấy đề cập đến nghề sơn nh một hiện tợng
hay sự vật. Những ngời nớc ngoài đến Việt Nam làm các công việc: ngoại giao, truyền giáo, buôn bán
họ viết sách mà nội dung chủ yếu đề cập đến nhiều vấn đề xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam
thời phong kiến. Trong đó họ có nhắc đến cây sơn, việc chế biến nhựa sơn, và đồ mỹ nghệ làm bằng
chất liệu sơn tiêu biểu là cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của William Dampier.
nghề sơn truyền thống (kỹ thuật bảo quản nhựa cây sơn, kỹ thuật pha chế sơn sống thành sơn chín, kỹ
thuật chế tác một số sản phẩm tiêu biểu của nghề thủ công mỹ nghệ bằng chất liệu sơn) với những kinh
nghiệm thực tế của một họa sỹ sơn mài, ông viết công trình này có tính chất nh là sách giáo khoa về
nghề sơn mài, nhằm hớng dẫn học sinh khoa sơn mài trờng mỹ thuật công nghiệp và những ngời thực
hành chế tác sản phẩm, sáng tác tác phẩm bằng chất liệu sơn.
Tiến sỹ Lê Huyên là ngời học sử, công tác lâu năm tại trờng Đại học Mỹ thuật công nghiệp, đã có
một số bài viết thể hiện rõ xu hớng tiếp cận nghiên cứu nghề sơn trong góc nhìn lịch sử. Ông là tác giả
cuốn Nghề sơn cổ truyền Việt Nam, ở cuốn sách này tác giả đã tập trung nghiên cứu nghề sơn giai
đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, qua các sản phẩm nghề đợc lu giữ tại đình, chùa, đền, miếu, phủ
và một số làng nghề. Thông qua hệ thống t liệu trên tác giả đã xác định giá trị của nghề sơn trong kho
tàng lịch sử văn hóa nghệ thuật Việt Nam.
12
Hội họa sơn mài Việt Nam của tác giả Quang Việt là công trình su tập các tác phẩm sơn mài của
nhiều họa sỹ Việt Nam. Từ cơ sở các tác phẩm tác giả muốn giới thiệu một cách hệ thống với công
chúng thành tựu của nghệ thuật sơn mài hội họa Việt Nam.
Điểm lại các công trình trên để thấy cha có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu những biến đổi về
kỹ thuật và chất liệu của nghệ thuật sơn mài qua từng giai đoạn. Song đó thực sự là những tài liệu tham
khảo rất có giá trị đối với ngời viết luận án.
1.1.2. Giới thuyết một số khái niệm
- Cây sơn và nhựa sơn: Nguyên liệu chính đợc sử dụng trong nghề sơn truyền thống là nhựa sơn
lấy từ cây sơn. Cây sơn xa kia vốn là loài cây hoang dại trồng ở rừng, trải qua nhiều đời, con ngời đã
thuần hóa, trồng cây sơn chuyên để khai thác nhựa và xếp cây sơn vào loại cây công nghiệp.
Từ chất nhựa sống đó trải qua một qui trình chế biến (trình bày ở phần sau) sẽ tạo nên các loại sơn
chín nh sơn then, sơn cánh gián, sơn quang , các loại sơn này là những nguyên liệu cơ bản của nghề
sơn cổ truyền.
- Đồ sơn: Đồ sơn là khái niệm để chỉ những vật đợc bọc sơn bên ngoài. Đồ sơn có thể có cốt bằng
các chất liệu khác nhau, trớc kia cốt đồ sơn chủ yếu là các vật liệu nh đá, đồng, gỗ, mây, tre , hiện tại
cốt của đồ sơn đã mở rộng thêm các chất liệu mới nh gốm, xơ dừa, giấy ép
13
- Nghề sơn: Nghề sơn Việt Nam chắc cũng đã có từ rất lâu đời bởi, theo những gì ghi lại trong sách
Qua những hiện vật khai quật đợc cho thấy đồ sơn xuất hiện khá sớm ở đồng bằng Bắc bộ vào
khoảng thế kỷ 4 trớc CN. Xuất hiện sớm nh vậy nhng suốt 1000 năm Bắc thuộc không tìm thấy dấu vết
của đồ sơn ở Việt Nam, đây là khoảng trống lớn trong lịch sử phát triển nghề sơn. Từ thời Lý Trần
(thế kỷ 11-14), là thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh vợng ở Việt Nam. Nhiều chùa tháp của triều đình
15
và địa phơng ra đời. Nghề sơn cũng nhờ đó mà phát triển để tô vẽ cho những kiến trúc Phật giáo này.
Tuy vậy, so với các thời kỳ sau này thì đồ sơn thời Lý Trần cha phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Đồ
sơn cũng chỉ có mặt trong một số loại hình đơn giản, đơn điệu, chủ yếu là đồ thờ tự, hoặc là đồ tùy
táng, quan tài cho tầng lớp vua, quan, quý tộc mà cha xuống đến tầng lớp dân chúng.
Thời kỳ nhà Nguyễn đặc biệt chú trọng việc trùng tu đình chùa, miếu mạo, tô tợng, bổ sung các đồ
thờ cúng bằng những vật phẩm đợc sơn. Đồ sơn thời Nguyễn không chỉ phát triển ở trong các di tích
kiến trúc đình chùa mà nó còn phát triển rộng rãi trong nhân dân ở những gia đình giầu có. Những sản
phẩm mà dân gian sử dụng đợc phủ sơn nh: mâm, đũa, bàn, ghế, tráp đựng trầu cau, sập, tủ, tràng kỷ,
ống hơng. Kỹ thuật đồ sơn thời Nguyễn cũng đã có những bớc tiến đáng kể, sơn sống đợc pha với dầu
trẩu tạo ra dầu sơn quang lên các sản phẩm đồ sơn tạo cảm giác bóng và đẹp hơn. Kỹ thuật thếp vàng
cũng đã thịnh hành ở thời Nguyễn.
Từ thế kỷ 17 nghề sơn khá phát triển, phơng thức làm việc chủ yếu là phát triển thành các làng
nghề trong làng đó hầu nh cả làng làm nghề, trong mỗi gia đình cả nhà làm nghề và truyền nghề theo
phơng thức cha truyền con nối. Mỗi một làng nghề sơn lại đi vào những lĩnh vực riêng nh sơn quang,
khảm trai, làm vóc Khởi đầu từ Bắc bộ, nghề sơn Việt Nam cũng theo chân Chúa Nguyễn Nam tiến,
hình thành nên những làng nghề sơn ở Nam bộ.
16
Bắt nguồn từ làng quê sau do triều đình có nhu cầu xây dựng kinh đô đã đón các hiệp thợ từ nông
thôn ra kinh thành làm việc và dần hình thành nên các phờng, phố nghề sơn. Vào nửa cuối thế kỷ 18,
khi hàng sơn có cơ hội đợc xuất sang các nớc Tây Âu, và thị trờng sơn đợc mở rộng thì các cửa hàng
chuyên bán đồ sơn lần lợt mọc lên ở nhiều nơi trong nội thành nh: Hàng Khay, Hàng Hòm, Hàng Quạt,
Hàng Mành, Tô Lịch
1.2.2. Chất liệu truyền thống của nghề sơn
Nguyên liệu chính để làm đồ sơn là nhựa sơn. Cây sơn Việt Nam đợc trồng chủ yếu trên vùng
trung du Bắc bộ thuộc giống Rhus succedenéa họ Anacrdiacea cho loại nhựa đợc coi là tốt nhất thế
điểm mà Việt Nam đang là thuộc địa của Pháp với nền tảng xã hội phong kiến, đây là thời kỳ tiếp xúc
đầu tiên của văn hóa cổ truyền Việt Nam với văn hóa phơng Tây thông qua văn hóa Pháp du nhập. Văn
minh phơng Tây cùng với những luồng t tởng và văn hóa nghệ thuật mới lạ, hấp dẫn, tràn vào Việt
Nam, đã tác động đến thế hệ trẻ Việt Nam. Sự đan xen, pha tạp, hòa quyện giữa các luồng t tởng, văn
hóa Đông Tây đã tạo nên những biến động không nhỏ trong đời sống văn hóa nghệ thuật. Nhiều
loại hình và thể loại văn hóa nghệ thuật mới xuất hiện: ca kịch cải lơng, kịch nói, tiểu thuyết, báo chí,
đồ họa ấn loát
2.1.2. Sự ra đời của tranh sơn mài hội họa
Vẽ tranh hội họa bằng kỹ thuật sơn ta truyền thống là một sự kiện đặc biệt quan trọng, một bớc
ngoặt lớn ở thời kỳ đầu của mỹ thuật Việt Nam. Năm 1932 Trần Quang Trân, thể nghiệm bức Cành tre
bóng nớc. Cùng với ông còn có Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Hậu, Tô
Ngọc Vân, Nguyễn Khang là những ng ời nhìn thấy khả năng kỳ diệu của chất liệu sơn truyền thống,
đi sâu vào nghiên cứu để phát triển thành hội họa. Thời kỳ đầu, các họa sĩ bớc đầu thể nghiệm hiệu quả
19
với chất liệu sơn ta gồm vài màu cơ bản vốn có: đen, đỏ, nâu và vàng quỳ trong việc tạo ra bố cục hội
họa chân xác bằng kỹ thuật vẽ, mài, đắp sơn cổ truyền.
2.2. Những tìm tòi để cải tiến kỹ thuật, chất liệu để thành sơn mài hội họa
2.2.1. Những tìm tòi về kỹ thuật
Từ nghề sơn cổ truyền đến sơn mài hội họa đòi hỏi một loạt những cải tiến về mặt kỹ thuật, nhng
kỹ thuật có tính chất quyết định có thể nói chính là việc nhựa thông thay dầu trẩu, trớc kia khi làm sơn
ta thợ sơn chỉ có thể mài sơn then còn sơn son thì không. Sơn ta vốn là chất liệu trang trí, vì vậy đơng
nhiên ngời nghệ nhân phải thực hiện chính xác từng thao tác, các họa tiết trang trí đợc can chuẩn lên
mặt vóc rồi nghệ nhân dùng thép sơn tô màu gọn gàng trong hình can, để khô là đợc. Cách làm này
không thể phù hợp với cách vẽ tranh kiểu châu Âu mà các họa sĩ Việt Nam lúc bấy giờ đang thực hành.
Một bức tranh sơn dầu của châu Âu cũng thờng đợc vẽ nhiều lớp do họa sĩ điều chỉnh tơng quan giữa
các mảng miếng, điều chỉnh đậm nhạt, vờn khối hoặc diễn tả ánh sáng. Trong lúc vẽ có thể họa sĩ đợi
khô lớp này rồi mới chồng lớp khác lên, cũng có thể ngay khi lớp dới còn ớt họ đã chồng lớp khác lên
để các lớp mầu nhuyễn vào nhau theo ý đồ riêng của họa sĩ. Tranh sơn mài sẽ không thực sự trở thành
tác phẩm hội họa nếu chất liệu sơn ta không làm đợc tơng đơng nh sơn dầu. Các họa sĩ sẽ không thể tự
do sáng tác nếu phải vẽ theo kiểu trang trí mảng nào đi mảng ấy hoàn toàn phẳng, không có khối,
2.3.1. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí: Từ hiện thực đến siêu thực
2.3.2. Họa sĩ Nguyễn Sáng: khuynh hớng biểu hiện
2.3.3. Nguyễn T Nghiêm: khuynh hớng dân gian đơng đại
2.4. Sự biến đổi của sơn mài mỹ nghệ
22
Thời kỳ này kỹ thuật làm đồ sơn mài mỹ nghệ ở các làng nghề cũng có những biến đổi cơ
bản nh việc pha nhựa thông thay dầu trẩu vào sơn để có thể mài, và kỹ thuật pha thêm bột màu vào
sơn. Bột màu đợc pha vào sơn làm sơn bảng màu đồ sơn mỹ nghệ phong phú hơn nhng chỉ có một số
màu lên đợc trong sơn ta, các màu này đợc pha theo mẫu và phải đợc đánh tan kỹ trong sơn. Thờng
từ sơn ngả, ngời ta đánh màu thêm một ngày nữa. Ngời ta có thể pha màu son tơi, son sẫm, nâu, xanh
crôm, trắng, vàng và xám Sơn mài thời điểm này không còn mang cảm giác quá trang nghiêm,
sang trọng nữa mà bắt đầu len lỏi vào các gia đình bình dân với nhiều thể loại, có thể là bình phong,
tranh từ bình có thể hộp đựng đồ trang sức, khay nớc, hộp đựng mứt tết
Chơng III
Biến đổi về kỹ thuật, chất liệu của
nghệ thuật sơn mài từ sau đổi mới
3.1. Bối cảnh văn hóa, kinh tế -xã hội sau năm 1986
Năm 1986 đợc chọn nh một cái mốc lớn trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu bằng văn kiện đại hội
Đảng VI, tháng 12 năm 1986, do Tổng bí th Nguyễn Văn Linh đọc. Văn kiện này mở ra một thời ky
Đổi Mới cho đất nớc mà từ đây xã hội có những biến đổi cơ bản lớn lao, trọng tâm là đổi mới kinh tế:
23
Phá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế giá thị trờng, cùng với đổi mới về kinh tế là đổi mới trên các
mặt khác nh chính trị, xã hội, t duy, cơ chế, văn hóa
Đờng lối chính trị của Đảng và Nhà nớc Việt Nam luôn ảnh hởng tới sự phát triển của đất nớc
trong mọi lĩnh vực, trong đó có văn nghệ, cùng với xu hớng hội nhập toàn cầu và những biến động trên
thế giới, tất cả đã ảnh hởng trực tiếp tới đời sống mỹ thuật Việt Nam.
3.2. Những biến đổi của hội họa sơn mài
3.2.1. Biến đổi về nội dung, ngôn ngữ tạo hình
Cho đến phong trào mở cửa đổi mới mỹ thuật chủ yếu rơi vào thế hệ trẻ, tiến rất nhanh trên con đ -
ờng thử nghiệm và tìm tòi ngôn ngữ riêng để chuyển sang giai đoạn phát triển mô đéc, có sự tiếp thu
trong nớc và quốc tế cho giảng viên, sinh viên cũng rất quan trọng trong việc hình thành bản lĩnh, cá
tính sáng tạo.
ở Việt Nam hiện nay, việc bán tranh diễn ra tơng đối tự do và phần nhiều do những ngời chuyên
kinh doanh tranh mà không hiểu biết nhiều về giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Nếu chúng ta có đợc
những tổ chức hoặc một cá nhân đủ mạnh làm công việc này, ngoài việc bán tranh họ có quảng bá
phân loại những tác phẩm theo giá trị đích thực thì có lẽ phần nào cũng làm nghiêm túc hơn thị trờng
tranh trong nớc nói chung và tranh sơn mài riêng.
Tóm lại, việc gìn giữ những giá trị truyền thống của tranh sơn mài là ở chính những ng ời sáng
tác tranh sơn mài, không gì có tác động tốt hơn là việc giáo dục, định hớng của nhà trờng, hội nghề
và các phơng tiện truyền thông. Sự cần thiết của nguồn chất liệu luôn sẵn có và dồi dào là một
trong những tiềm năng lớn lao của nghệ thuật sơn mài trong tơng lai.
3.3. Biến đổi về kỹ thuật, chất liệu của sơn mài mỹ nghệ trong các làng nghề