Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
A. phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Người Việt Nam dù đi đâu nhưng tâm hồn vẫn hướng về
cội nguồn “Cây đa, giếng nước, sân đình’’ là nơi người ta
được cởi tấm lòng, vì lẽ đình làng là công trình kiến trúc
cổ truyền mang những đặc điểm của nghệ thuật kiến
trúc, điêu khắc trong sáng độc đáo, tính dân tộc phong
phú đậm đà sắc thái dân gian ít chịu ảnh hưởng của
ngoại lai hơn tất các loại hình nghệ thuật ở Việt Nam
được xây dựng trong x• hội phong kiến xưa.
Hầu như ở mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình,
nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, nó là sản phẩm chung
của cộng đồng, do tất cả các thành viên góp công tạo
dựng nên. Bởi vậy đình làng là mối quan tâm, là niềm tự
hào của mọi người trong làng. Vì thế, ngôi đình làng
càng to càng đẹp bao nhiêu càng chứng tỏ làng đó giầu
có và phúc đức.Do đó, dù nghèo đói, dù phải ở nhà tranh
vách đất, nhưng mọi người dân đều cố gắng góp tiền của,
công sức, để cùng nhau xây dựng cho được một ngôi
đình khang trang đẹp đẽ, ngôi đình trở thành bộ mặt cho
cả làng, nó gắn chặt với đời sống tinh thần của cả cộng
đồng. Cũng vì vậy, ngôi đình trở thành bộ phận dường
như không thể thiếu trong cấu trúc tổng thể của bất cứ
một làng quê lâu đời nào ở Việt Nam.
Đình làng là nơi sinh hoạt, hội họp, vui chơi của cả cộng
đồng làng…Những sinh hoạt của tình làng nghĩa xóm,
tạo nên mối giao cảm gắn bó chung giữa những thành
viên trong một cộng đồng. Đặc biệt, Đình cũng là một
công trình, nơi biểu đạt tư tưởng tình cảm, những rung
động của người thợ, những nghệ sĩ dân gian thể hiện
thuật thì sự học hỏi phong cách tạo hình, sắp xếp bố cục,
cách tạo không gian, tả hình khối rất bổ ích cho sinh viên
trong việc tìm hiểu tiếp thu nghệ thuật của cha ông. Đối
với công tác giảng dạy mỹ thuật, đem những kiến thức
của mình giúp cho học sinh say mê, tìm hiểu, học hỏi mỹ
thuật dân tộc nói chung và nghệ thuật chạm khắc đình
làng nói riêng là rất cần thiết, nó sẽ giúp các em không
quên cái hồn của cha ông, cái tinh tuý của dân tộc.
2
2
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
Xuất phát từ những suy nghi trên, tôi mạnh dạn lấy tên
đề tài là “tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc
đình làng”.
2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Giúp bản thân cảm nhận, nhìn nhận một cách đúng
đắn về tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình
làng.
- Hiểu biết, tiếp nhận giá trị hồn nhiên trong chạm khắc
đình làng nhằm nâng cao chất lượng thực tế sáng tác mỹ
thuật cũng như trong giảng dạy mỹ thuật.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ được tính hồn nhiên chạm khắc đình làng
và khẳng định chạm khắc đình làng có giá trị to lớn, là
nguồn cảm hứng cho các hoạ sĩ Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính hồn nhiên trong chạm khắc đình làng qua một số
bức chạm khắc tiêu biểu ở các đình làng miền Bắc.
Mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình. Đó là nơi
thờ Thành Hoàng làng (vị thần bảo trợ của làng ).Vào
mỗi dịp lễ tết, đình trở thành trung tâm văn hoa của làng
mà ở đó, tất cả kho tàng văn hoá tích luỹ từ đời này qua
đời khác được thể hiện đầy đủ nhất.
Đình “Đình Bảng” (Từ Sơn, Bắc Ninh)
“Đình” theo nghĩa Hán tự là một ngôi nhà để chú ngụ,
nghỉ tạm. Theo một số nhà nghiên cứu, từ “đình” xuất
hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỷ thứ
4
4
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
II đến thứ III.Tuy nhiên giả thiết này còn thiếu cơ sở
khoa học. Thời nhà Trần đình với tư cách là trạm nghỉ
chân đ• được nghi trong Đại việt sử ký toàn thư
“Thượng hoàng xuống chiếu rằng, trong nước ta phàm
chỗ nào có đình trạm đều phải đặt tượng phật để thờ”.
Thời nhà Mạc, từ chức năng ngôi nhà công cộng, đình
trở thành công trình đa chức năng. Nó là nơi thờ thành
Hoàng Làng và là nơi hội họp của làng x•. Điều này đ•
được các nhà trong và ngoài nước ghi nhận, người đầu
tiên khái quát tên là M.Giran “Đình là nơi thờ Thành
Hoàng làng và là một ngôi nhà chung cho sinh hoạt cộng
đồng. Nơi đây thường diễn ra các cuộc hôi họp của các
hương l•o, chức sắc trong làng về việc công, hoặc phân
sử kiện tụng, đồng thơì là nơi cúng lễ. Có thể nói nơi đ•
xảy ra hết thảy các hoạt động của cuộc sống, x• hội người
Việt”
Đình đ• xuất hiện ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam.
Trần Hưng Đạo …Chiếm số đông trong các nhân thần là
những người ít nổi tiếng hơn như quan lại, Nho sĩ và đặc
biệt là các bộ tướng của Hai Bà Trưng, nhất là các nữ
tướng. Những vị thần này thực ra là những nhân vật
truyền thuyết có tính “giả lịch sử” hơn
Loại Thành Hoàng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản
địa như tục thờ cây thờ đá thời nguyên thuỷ.
Thành Hoàng làng còn có thể là những người xuất thân
hèn kém, có người chết vào giờ thiêng cũng được thờ
làm thần. Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta
thờ các tổ làng nghề, được gọi là “tiên sư”
* Chức năng hành chính.
Đình làng thực sự trở thành trụ sở hành chính của
làng,còn được gọi là “nhà việc”, nơi mọi việc thuộc về
hành chính của làng đều được tiến hành ở đó, từ việc xét
xử các việc tranh chấp phạt vạ, khao vọng, đến thu tô,
thuế, việc bắt lính, thu dịch …
Các làng đều có hương ước riêng với nội dung cụ thể
khác nhau. Tuy nhiên, các hương ước thường bao gồm
những nội dung chủ yếu sau:
6
6
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
- Những quy ước về ruộng đất: Việc phân cấp công điền,
công thổ theo định kỳ và quy ước về việc đóng góp (tiền
và thóc)
- Quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xuất, duy tu
đê đập, cấm lạp sát trâu bò, cấm bỏ ruộng hoang, chặt
cây bừa b•i…
- Những quy ước về tổ chức x• hội và trách nhiệm của
sông…
1.2. Khái quát về nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc
đình làng.
1.2.1. Kiến trúc của ngôi đình trong tín ngưỡng, tôn giáo
truyền thống Việt Nam.
Đình làng là gương mặt của nền kiến trúc mà không chỉ
là công trình oai nghiêm và đồ sộ nhất trong khung cảnh
làng quê Vịêt Nam nghèo nàn thời quân chủ, mà còn là
nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm của nền kiến
trúc dân tộc.
Kiến trúc đình làng phát triển với sự đóng góp của quần
chúng nhân dân và thực sự trở thành những công trình
đầu tư sáng tác tập thể trong thi công kiến trúc và trang
trí nội thất bên trong.Kiến trúc đình làng với đặc trưng
cân bằng, ổn định và linh hoạt là hệ quả của thế ứng xử
của cư dân đồng bằng Bắc Bộ đối với môi trường vừa
chế ngự, hạn chế sự khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa
linh hoạt khôn khéo tận dụng những điều kiện thuận lợi
để tồn tại và phát triển.
Hướng đình rất quan trọng, người ta tin rằng hướng
dựng đình ảnh hưởng trực tiếp đến công việc làm ăn cuả
cả làng. Đình thường được dựng trên b•i đất cao ráo,
bằng phẳng rộng r•i và được xây dựng gần khu đông
dân cư. Kiến trúc đình làng là công trình to lớn nhất ở
làng, nhưng nó không vượt trội, phá vỡ cảnh quan xung
quanh Ngôi đình là nơi con người tìm thấy sự gắn bó,
hoà điệu với thiên nhiên, cũng như tìm thấy sự đồng cảm
của con người với con người . Xét về mặt tổng thể trước
đình làng luôn là ao đình(tròn hoặc bán nguyệt), tiếp đến
là sân đình với nhiều hàng cây cổ thụ .đây là yếu tố quan
Đông, dựa trên sự liên kết của các bộ vì, kèo. Sức nặng
của toà nhà do cột trong vì đảm nhiệm nên khi ấy, tường
nhà không phải là cơ sở chịu lực mà chỉ làm nhiệm vụ
ngăn che nắng mưa, gió b•o. Tuy nhiên, khác với các
dân tộc khác, kiến trúc đình làng Việt ban đầu là một
không gian mở, mỗi khi làng có viêc, cửa bích bàn bốn
mặt đình được dùng làm bàn tiệc, khiến bốn mặt đình
9
9
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
càng trở nên thông thoáng. ỏ đình làng, chúng ta rất rễ
nhận ra hầu hết các thành phần kiến trúc đều được
chạm khắc trang trí trên các vì kèo, đầu bẩy, đầu dư,
ván nong, cốn…. Trang trí đình làng lấy gian giữa làm
trung tâm nên được chạm khắc hình các vật như chúng
ta vẫn thường thấy ở mỹ thuật cổ điển phong kiến Việt
Nam như Long –Ly- Quy- Phượng, các loại hoa lá được
cách điệu cao như Tùng- Cúc – Trúc- Mai…có thể nói
gian giữa của đình được trang trí bằng lối mỹ thuật
chính thống song có một nét riêng là rất gần gũi với
người dân lao động. Từ gian giữa toả ra các gian bên là
thường thể hiện những đề tài sinh hoạt của người dân có
tính chất thoải mái, tự do và cả những những lời lên án
chế độ quân chủ hà khắc thời phong kiến. Tất cả những
điều ấy là dấu ấn tuyệt vời cho cấc thế hệ mai sau hiểu và
cảm được không khí sinh hoạt của cộng đồng làng x•
thời xưa. Đồng thời là bản sắc của nền kiến trúc Việt
Nam- một bản sắc văn hoá và lịch sử sâu sắc nhất.
1.2.2. Nghệ thuật chạm khắc đình làng
ở làng x• của Việt Nam đình làng là nơi bảo lưu nhiều
của x• hội nông nghiệp hơn ai hết. Và những người dân ở
đây, mỗi khi có hội làng, lễ lạt họ lại co điều kiện tiếp xúc
thưởng thức, họ cũng chính là những người lao động
trong đó hầu hết là nông dân. Trong quá trình xây
dựng hình tượng, nghệ nhân không ràng buộc bởi những
cái vụn vặt của hình mẫu. Từ những cái họ thường gặp
đ• dần đọng lại trong đầu môĩ hình tượng không cụ thể
nhưng thật tiêu biểu. Nghệ nhân cũng không bị lệ thuộc
bởi những định luật, phép tắc, trường quy nào cả, họ
được tự do sáng tác theo sự suy nghĩ và sự thôi thúc của
tình cảm .Lý và tình đ• quyện vào nhau để cùng làm
sáng tỏ chủ đề, tư tưởng bằng những hình tượng gây ấn
tượng mạnh mẽ cho người xem.
Do khái quát cao, hình lại vừa hư vừa thực khiến người
xem nhìn thuận mắt, nghĩ thuận tình và ngắm m•i không
chán.
Các nghệ nhân làm ra những tác phẩm điêu khắc ấy
không ở một trường lớp chính quy nào cả nhưng họ học
11
11
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
suốt đời, học trong cuộc sống, lăn lộn với nghề từ nhỏ
tiếp cận những kinh nghiệm của lớp người đi trước, chan
hoà với quần chúng, tạo được sự đồng cảm với người
thưởng thức, cái trường học thực tế ấy đ• giúp cho nghệ
nhân nắm được cái “duyên” của nhân vật, cái “thần”
của sự vật để các hình ảnh được tạo ra là “truyền thần”
chứ không phải “truyền hình”thoát ra khỏi trạng thái
giống một cách lạnh lùng.
Như trên đ• nói Đình là ngôi nhà chung, “là bảo tàng
kỹ thuật làm mộng, chốt nên bắt buộc phải dư thừa ra
ngoài những khối gỗ cục mịch và nặng nề, nay được các
nghệ nhân biến thành những đầu rồng ngậm ngọc với
những bờm lửa dài sinh động và thú vị.
Chương 2
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng
Cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ thứ XVIII, đình
làng Việt Nam được xây dựng khá nhiều, gắn với kiến
trúc các bức chạm khắc được trang trí với nhiều nội
dung, đề tài phong phú, qua đó thể hiện được những tâm
tư tình cảm của con người về x• hội đương thời, bộc lộ
những khát khao về cuộc sống hạnh phúc yên bình,
thịnh trị và vui vẻ, đồng thời các bức chạm cũng toát lên
vẻ đẹp dung dị hồn nhiền, vẻ đẹp đó được thể hiện ở một
số yếu tố sau:
13
13
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
2.1. Về đề tài
Đề tài phản ánh trong điêu khắc đình làng rất phong
phú và vị trí để thể hiện các đề tài trong không gian của
ngôi đình không giống nhau. Khi vào bên trong đình
làng ta thường thấy gian giữa là nơi thờ Thành hoàng
làng làm trọng tâm, không gian ở đây là không gian
thiêng liêng, thần bí không dành cho con người do đó
thường được trang trí bằng các đề tài mang tính chất
trang nghiêm quy phạm như tứ quý: Sen, Cúc, Trúc,
Mai. Tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng . Tứ linh và tứ quý
thường gắn với phật giáo và có biểu tượng của sự cao
quý, Sen, Cúc, Trúc, Mai có sức sống bền bỉ trước thiên
mang tính chất phê phán thói xấu trong x• hội của
những kẻ thuộc tầng lớp trên, những cảnh quan quân
cướp bóc, hà hiếp dân lành như „Cảnh quan quân cướp
bóc“ở Đình Liên Hiệp- Hà Tây, „Đến hát nhà
quan“Đình Ngọc Cảnh- Vĩnh Phúc hay „Quan trêu ghẹo
phụ nữ“Đình Đệ Tam- Hà Nam. Các nghệ nhân còn
chạm cả những đề tài nhắc nhở mọi người về cuộc sống
lành mạnh, phê phán lối sống đa thê như cảnh đánh
ghen.
2.2 Về bố cục
Bố cục trong chạm khắc đình làng mang tính độc đáo
khác lạ do đó tạo sự cuốn hút, hấp dẫn người xem thể
hiện ở ngay cách sắp xếp hình mảng, khối, ánh
sáng Đặc biệt người nghệ nhân đ• sử dụng lối bố cục
không theo quy luật xa gần và thủ pháp nhiều điểm nhìn,
họ lấy con mắt làm đồng cân mà họ cho rằng thuận mắt
ta ra mắt người và không theo quy cách ước định nào, nó
là những cảm hứng sinh động và giản dị của người lao
động. Các nghệ nhân đ• chạm nhiều hình khối ngẫu
hứng kết hợp với ánh sáng phong phú do đó tạo sự
tương phản giữa khối lồi, khối lõm, bút pháp thô khoẻ
nhưng vẫn tinh tế, các hình tượng di chuyển tự nhiên
thoải mái có nhịp điệu.
15
15
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
Tác phẩm “Đánh cờ’’ ở Đình Hương Canh – Vĩnh Phúc,
„Uống rượu’’ Đình Ngọc Canh- Vĩnh phúc, là một ví
dụ .
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
chách nhìn, cách hiểu của họ nhưng vẫn toát lên một vẻ
đẹp thật giản dị, hồn nhiên,bố cục chặt chẽ rõ ràng,đơn
giản mà không sơ sài, ngèo nàn. Tất cả đ• tạo nên thành
công cho tác phẩm. Những điều tưởng chừng như bất
hợp lý trong cách tạo hình lại làm người xem thấy hấp
dẫn, hóm hỉnh và say sưa ngồi ngắm nhìn, bức chạm
mang một nét đẹp riêng mà người nghệ sĩ hiện đại cần
phải học hỏi.
Với lòng say mê hào hứng và vô tư trong nghề nghiệp
cùng những khát vọng vươn tới tự do, các nghệ sỹ dân
gian trong chạm khắc đình làng đ• tìm cho mình cách
thể hiện giản dị, trong sáng với óc quan sát tinh tế, sự
từng trải trong cuộc sống đ• làm nên những hình tượng
nghệ thuật phù hợp với quy luật nhận thức và cảm thụ
cái đẹp người dân Việt Nam từ thời xưa. Đó là một thành
công rất lớn của nghệ thuật chạm khắc đình làng.
2.3. Hình khối
Như trên đ• nói, các nghệ nhân khi thực hiện các bức
chạm khắc họ không bị lệ thuộc và bị ràng buộc bởi
những cái vụn vặt của hình mẫu. Từ nhứng cái họ
thường gặp đ• dần đọng lại trong đầu môĩ hình tượng
không cá thể nhưng thật tiêu biểu, chính điều đó đ• tao
nên cách tạo khối đơn giản, mộc mạc thể hiện một vẻ đẹp
hồn nhiên.
Hình và khối được các nghệ nhân chạm khắc một cách
khá đơn giản nhưng lại rất tinh tế. Hình và khối ở trong
bức chạm như chỉ bằng những hình khối đơn giản,
không quá cầu kỳ láng bóng. Hình của nhân vật được
thể hiện với những quan niệm tạo hình dân gian giầu
trống của chiều dài (ngang). Nếu để nhân vật tương đối
với tỷ lệ đặt vào bố cục sẽ bị lo•ng, chứ không thể đẩy do
những điêu khắc đình làng đ• có. Người nghệ nhân đ•
tìm ra cách giải quyết thông minh: xử lý phép biến dạng
hình thể rất táo bạo, nhiều khi xoá bỏ hẳn cái thông
thường vốn có. Họ đ• đánh lùn chiều cao hình tượng con
18
18
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
người chỉ còn khoảng 3 đầu, đồng thời mở rộng chiều
ngang gấp đôi, gấp 3 lần với chuẩn mực có thể. Và chúng
ta thấy nghệ nhân đ• làm cho hình tượng trở nên đẹp
một cách ngộ nghĩnh, táo bạo, họ đơn giản hoá nhưng lại
rất tinh tế. Thử hỏi, nếu các bức chạm khắc đình làng
được thể hiện bằng nhũng nét đục kĩ xảo, hình vẽ đúng
luật xa gần… liệu cái đẹp ấy có tồn tại được đến bây giờ
không?
Ai đó đ• nói đại ý rằng:nhiều khi cái đúng chưa chắc đ•
là cái đẹp, nhưng cái không đúng lại trở thanh cái đẹp.
Vâng, cái chưa đúng về hình trong chạm khắc đình làng
nhưng lại toát nên đuợc ý nghĩ cái thần của tác phẩm
ngẫu nhiên nó laị trở thành cái đẹp. Cái đẹp hồn nhiên
đáng trân trọng!
Danh họa Trần Văn Cẩn (1977) nhận định “xem trong
nghệ thuật cổ truyền dân tộc, thì rõ ràng chính cái vốn
về chạm trổ lại giầu có, độc đáo còn hơn cả vốn hội họa
về những đức tính tạo hình rất sáng tạo của người xưa,
đ• kết hợp nhuần nhuyễn tài tinh hai tính chất tưởng
như không đi được với nhau: tính hiện thực với tính
trang trí”
Chèo thuyền. Đình Tây Đằng- Hà Tây (cũ)
2.6 Phản ánh cái cảm cái thấy
Xuất phất từ thế giới quan triết học phương đông cổ,
người nghệ sỹ làm đình xưa xây dựng tác phẩm mong
đạt được cái ý, chứ không mong đạt được lý luận cao xa.
Đối với cách cảm của người lao động, quan trọng nhất là
truyền được cái thần của nhân vật, của tác phẩm, vượt
lên trên mối quan tâm về tỉ lệ, vẽ hình sao cho giống
thực.
Đề tài trong chạm khắc đình làng luôn đi thẳng vào đời
sống của người dân lao động do đó nghệ sĩ dân gian luôn
có sẵn trong đầu. Khi đục chạm chỉ cần hiện ra trong gỗ
những gì mình đ• thuộc, đ• nhớ đến thuộc lòng. Cuộc
sống ngoài đời rất động, sự gắn bó giữa các nhân vật khi
chụp được khoảnh khắc điển hình mà họ đưa ra được
cái thần, cái cảm, cái thấy. Trong “trai gái nô đùa” cái
20
20
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
thấy rõ nét để bộc lộ cái cảm, rất vui vẻ, hóm hỉnh người
ta thấy được âm hưởng cuộc sống thanh bình, trai gái tự
do tìm hiểu. Họ muốn vươn lên trên những quy định
khắt khe của chế độ phong kiến, vươn tới những tình
cảm tự nhiên của con người. Bức „Trai gái đùa vui“.
Đình Hương lộc- Nam Hà là một sự thể hiện như thế.
Trai gái vui đùa. Đình Hương Lộc – Nam Hà
Bốn nhân vật ở trong bức chạm với bốn trạng thái
tình cảm khác nhau.Cùng là cười nhưng ở hai nhân vật
nam mỗi người một nét cười không giống nhau, người
tác phẩm dường như có màu sắc.
Những khối lớn do nhận được ánh sáng nhiều nhất trong
bố cục, những khố vừa và các nét nhận được ít hơn các
mảng trung gian…tuy vị trí đón nhận khác nhau mà độ
lung linh hư ảo ở các tác phẩm trên cũng có sự thay đổi
không giống nhau.
Trai gái vui đùa (Đình Phù L•o- Bắc Giang)
ánh sáng của đình khác hẳn với ánh sáng của chùa. ở
đình là ánh sáng tự nhiên tràn vào, trong khi ánh sáng
chùa chủ yếu là ánh sáng đèn nhang, nếu phát ra tạo
cảm giác càng thâm u càng tốt cùng với các tượng phật
linh thiêng làm cho chùa càng thâm nghiêm.
ánh sáng của đình lại càng khác xa ánh sáng của trang
phục hưng bởi vì đó là ánh sáng trong nhà, còn ánh sáng
tự nhiên trong đình luôn thay đổi khác hẳn với ánh sáng
bất kiến trong tranh Phục Hưng.
Sở dĩ tôi đưa phần hình khối sáng tạo ánh sáng bởi ánh
sáng cũng là yếu tố quan trọng tạo nên thành công của
tác phẩm, tôi không nói ánh sáng là linh hồn trong chạm
khắc nhưng nó cũng gần như thế.
2.8. Sự ảnh hưởng của giá trị chạm khắc đình làng với
Mỹ thuật hiện đại
22
22
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
Nhà phê bình mỹ thuật Lê Quốc Bảo đ• khẳng định khi
ông viết “về tài năng mỹ thuật trẻ”: “cái mới, cái đẹp
trong nghệ thuật chỉ ra đời trên cơ sở truyền thốngvà
23
23
Tính hồn nhiên trong nghệ thuật chạm khắc đình làng – Đinh Thuỳ Chinh
luyện). Mà rụt rè, nhút nhát và tinh xảo của mỹ nghệ thì
nghệ thuật không chấp nhận!
Trong điêu khắc đình làng, phải thừa nhận kỹ thuật
chạm khắc khá hoàn hảo. Song ở đây ta không hề thấy
sự phô diễn kỹ thuật. Cái tinh khéo ở đây hòa hợp trong
cái thô mộc. Cái duyên cái đẹp lại chính ở trong cái
tưởng như vụng về bản năng. Do đó, nếu chỉ thấy sự
khoe khoang kĩ thuật, chắc hẳn cái thần của nhân vật
cũng như cái phần hồn của người nghệ sỹ đ• không bộc
lộ ra được?!
Ngày nay chúng ta thực hiện khẩu hiệu “dân tộc-hiện
đại”là rất đúng đắn. Nhưng hiểu cho rõ ràng và tiếp thu
khai thác vốn cổ nhu thế nào cũng không phải việc đơn
giản. Chính vì sự hiểu biết không cặn kẽ mà một số họa
sỹ đ• đưa vốn cổ vào tranh của mình như là một hành
động “ăn sống nuốt tươi” họ sao chép, nệ cổ một cách
khá sống sượng.
Tất nhiên cũng không nên quan niệm việc tìm hiểu khai
thác vốn cổ một cách cứng nhắc. Một mặt, không nên
đơn giản hóa dẫn tới việc sao chép, lệ cổ một cách sơ
lược và công thức khô khan cho dù có thể đạt được về
mặt thủ thuật, thủ pháp. Mặt khác, cũng không nên kỳ
bí hóa dẫn đến thách đố, khó hiểu.
Thừa kế, phát huy vốn cổ phải có sự sáng tạo tìm tìm tòi
để cho tác phẩm mang ngôn ngữ tạo hình của thời đại
mới. Nếu bắt chước cử chỉ, dáng điệu hay ghép một số
họa tiết cổ rồi thêm một vài nhân vật thì tác phẩm sẽ trở
sinh lại truyền thống đến mưc nào.
Do vậy,tranh của Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Sáng,
Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm và tượng của
Nguyễn Hải, Lê Công Thành là những tấm gương tiếp
thu truyền thống có phong cách riêng độc đáo, xứng
đáng để lớp thế hệ sau noi gương.
Tìm hiểu, phân tích những nét đẹp trong điêu khắc đình
làng sẽ có tác động tốt cho việc sáng tạo ra những tác
phẩm hội hoạ Cũng như điêu khắc hiện đại.
25
25