1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
cõd
TRẦN THỊ MỸ LÀNH
DẠY KIẾN THỨC SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HỌC SINH
LỚP 4 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC THUỘC
TỈNH ĐỒNG THÁP
Ngành đào tạo: Sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trình độ đào tạo: Đại học
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2
ĐỒNG THÁP, NĂM 2012
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ……………………………………………………………. i
Lời cam đoan ………………………………………………………… ii
Lời cảm ơn ……………………………………………………………… iii
Mục lục………………………………………………………………… 1
Danh mục các cụm từ viết tắc …………………………………… 4
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………… 5
NỘI DUNG………………………………………………………………. 11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY KIẾN
THỨC SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HS LỚP 4
1.1 Cơ sở lý luận…………………………………………………….… 11
1.1.1 Vấn đề câu tiếng Việt …………………………………………. 11
1.1.2 Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng Việt ……………………… 16
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của HS lớp 4 với việc dạy kiến thức sơ giản
về câu tiếng Việt ……………………………………………………… 17
1.2 Cơ sở thực tiễn …………………………………………………… 20
3.1.3 Địa bàn và đối tượng thử nghiệm ……………………………. 61
3.1.4 Kế hoạch thử nghiệm ………………………………………… 61
3.2 Tổ chức thử nghiệm ……………………………………………… 61
3.3 Phân tích kết quả thử nghiệm và nhận xét ………………………… 62
3.3.1 Ý kiến của nhóm dự giờ ……………………………………… 62
3.3.2 Kĩ năng lĩnh hội tri thức về câu của HS ở lớp 4 ………………. 63
4
3.3.3 Kĩ năng sử dụng câu của HS qua các giờ luyện tập …………… 65
3.3.4 Đánh giá về hoạt động tích cực học tập, hứng thú và sự chú ý
của HS qua tiết dạy …………………………………………………… 65
3.4 Tiểu kết chương 3 …………………………………………………… 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………… 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………… 70
PHỤ LỤC
5
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Để cho việc nghiên cứu đề tài được thuận lợi và tránh cách viết dài của một số
từ ngữ thường được dùng lặp lại, đề tài đã sử dụng một số chữ viết tắt như sau:
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NXBGD : Nhà xuất bản Giáo dục
LTVC : Luyện từ và Câu
SGK : Sách giáo khoa
TV 4a : Tiếng Việt 4, tập 1
TV 4b : Tiếng Việt 4, tập 2
TH : Tiểu học
Tr. : Trang
VBT : Vở bài tập
ĐDDH : Đồ dùng dạy học
VN : Vị ngữ
chưa nắm rõ kiến thức sơ giản về câu trong chương trình dạy LTVC, sử dụng phương
pháp và hình thức dạy học không phù hợp, dẫn đến việc dạy câu trong LTVC không
đúng ý đồ mà SGK đưa ra và chưa khai thác hết những kiến thức các em vốn có. Vì
vậy, chúng tôi chọn đề tài “Dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ở một số
Trường Tiểu học Thuộc tỉnh Đồng Tháp” để nghiên cứu nhằm giúp HS hiểu rõ về
câu và sử dụng câu một cách có hiệu quả.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề về câu và câu tiếng Việt trong chương trình tiếng Việt ở TH đã được
nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm từ lâu và được thể hiện ở nhiều
phương diện khác nhau.
* Vấn đề về câu tiếng Việt đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm có thể kể đến
một số tác giả như: Diệp Quang Ban, Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Bùi Minh
Toán, Cao Xuân Hạo, Đỗ Việt Hùng,…
- Trước hết, chúng tôi xin đề cập đến bài viết của tác giả Diệp Quang Ban
(1992), trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” [5]. Tác giả đã nghiên cứu về câu ở phương
diện từ loại, các thành tố nghĩa của câu. Khi đề cập đến câu, tác giả đi sâu vào nghiên
cứu cấu tạo ngữ pháp của câu. Trong đó, tài liệu có đề cập đến vấn đề về câu và việc
nghiên cứu câu trong tiếng Việt.
- Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành" [17]. Các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ
Việt Hùng (1997) đã trình bày về việc rèn kĩ năng đặt câu, dùng từ và kĩ năng viết
chính tả. Trong đó, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu được chú trọng hơn qua các dạng bài
chữa lỗi về cấu tạo câu, dấu câu, sắp xếp từ thành câu, thêm dấu câu vào để thành câu
hoàn chỉnh, giải nghĩa từ hay chữa lỗi chính tả,…Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến
vấn đề dạy kiến sơ giản về câu trong giờ LTVC.
8
- Tác giả Cao Xuân Hạo (2003), trong cuốn “Câu trong tiếng Việt” [8]. Tác giả
trình bày các đơn vị ngữ pháp từ thấp đến cao: từ, cụm từ, câu. Đặc biệt, do vấn đề về
câu rất phong phú và phức tạp nên tác giả dành phần lớn vào việc nghiên các thành
phần câu cũng như việc phân loại câu theo mục đích khác nhau.
* Vấn đề về dạy câu và học câu ở TH được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
thế mạnh riêng. Tuy nhiên, việc tìm hiểu và vận dụng kiến thức sơ giản về câu để áp
dụng vào việc dạy học trong chương trình TH và đặc biệt ở lớp 4 cần phải được quan
tâm. Những ý kiến về câu và câu tiếng Việt trong chương trình TH của các nhà nghiên
cứu có ý nghĩa quan trọng giúp ích cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi nhằm vào những mục đích sau:
- Tìm hiểu sâu hơn dạy học kiến thức sơ giản về câu trong chương trình tiếng Việt
ở TH, nắm vững phương pháp cũng như hình thức dạy học.
- Khảo sát thực tế dạy và học kiến thức sơ giản về câu ở một số trường TH, từ đó
rút ra những thuận lợi và khó khăn của GV và HS trong quá trình dạy và học các bài
học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC.
- Đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài LTVC có nội dung
kiến thức sơ giản về câu ở lớp 4.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ SGK Tiếng việt 4 tập 1 và tập 2.
+ Việc dạy học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC cho HS lớp 4 ở
một số trường Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Phạm vi nghiên cứu
10
Nội dung dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 trong phân môn LTVC ở
một số trường TH, Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu, đề tài xác định các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về câu có liên quan làm cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu đề tài.
- Tìm hiểu nội dung dạy học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC ở
lớp 4.
- Khảo sát thực tế nội dung chương trình, phương pháp và hình thức dạy học kiến
thức sơ giản về câu nói riêng và LTVC nói chung ở một số trường TH, Thị xã Sa Đéc.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài kiệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của khóa luận gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy kiến thức sơ giản về câu cho
học sinh lớp 4.
Chương 2: Tổ chức dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ở các trường
Tiểu học Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm.
12
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY KIẾN THỨC
SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HS LỚP 4
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vấn đề câu tiếng Việt
1.1.1.1 Các quan điểm về câu tiếng Việt
Trong lịch sử ngôn ngữ học so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình
vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất – nó được nghiên
cứu từ thời cổ đại. Từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam câu đã được
các khuynh hướng, các trường phái ngôn ngữ học nghiên cứu về câu từ nhiều phương
diện khác nhau và có rất nhiều định nghĩa về câu.
Từ thời cổ đại các nhà ngữ pháp Ấn Độ giải thích: “Câu là đơn vị cơ bản, bởi vì
chỉ có câu mới có thể diễn đạt được tư tưởng”.
Ngôn ngữ nói chung và câu nói riêng được nghiên cứu theo quan điểm các
khuynh hướng mà cũng có các định nghĩa về câu cũng khác nhau. Theo khuynh hướng
logic – ngữ pháp (ở Nga) quan điểm câu trùng với phán đoán – logic và rút ra kết luận:
“Câu là một phán đoán được biểu thị bằng từ”, ngược với khuynh hướng trên khuynh
hướng lịch sử – tâm lí lại phản đối với quan niệm trên và cho rằng: “Câu (ngữ pháp)
tuyệt nhiên không trùng và không song song với phán đoán logic”. Riêng khuynh
hướng hình thức ngữ pháp do quá thiên về hình thức ngôn ngữ đã định nghĩa: “ Câu là
một tổ hợp từ với ngữ điệu kết thúc”.
a. Câu tiếng Việt phân loại theo cấu trúc cú pháp chủ - vị
Việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt theo cấu trúc cú pháp chủ – vị bắt nguồn
từ sự tiếp thu thành tựu của ngữ pháp về các ngôn ngữ Châu Âu.
14
Bộ phận câu là những thành tố tham gia cấu tạo nên câu với chức vụ cú pháp
nhất định và được phân thành hai bộ phận: bộ phận chính và bộ phận phụ.
a1. Bộ phận chính
Bộ phận chính là bộ phận ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề của câu
gọi là nồng cốt câu.
- Chủ ngữ
CN là bộ phận chính thứ nhất trong mối quan hệ với VN nêu đối tượng được nói
tới.
Đặc điểm của CN
+ Về chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa: CN là bộ phận chính nêu đối tượng nói
tới trong câu, biểu thị đối tượng nhận thức trong nội dung mệnh đề của câu.
+ Về quan hệ cú pháp: CN có quan hệ với VN tạo nên câu trúc cú pháp cơ bản
biểu thị nội dung mệnh đề.
Cấu tạo của CN
+ Danh từ, cụm danh từ.
+ Tính từ, cụm tính từ.
+ Số từ.
+ Kết hợp phụ từ “có” + danh từ
+ Kết hợp từ phủ định + danh từ.
+ Kết hợp giới từ + từ.
+ Cụm đẳng lập và cụm chủ vị.
- Vị ngữ
VN là bộ phận chính thứ hai trong câu nói về đối tượng được nêu ở chủ ngữ.
Đặc điểm của VN
+ Về chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa: VN là thành phần chính thứ hai, nói về
CN, biểu thị thuộc tính (hành động, trạng thái, quá trình, đặc điểm, tính chất,…) của
Câu đơn là câu có nòng cốt đơn do một kết cấu CN và VN hoặc tương đương
đảm nhiệm.
Dựa vào đặc điểm cấu tạo của nòng cốt câu mà phân thành hai loại câu đơn:
Câu đơn bình thường là câu có nòng cốt một kết cấu CN và VN.
Ví dụ: Cô tiên // phất chiếc quạt màu nhiệm. (TV 4a)
CN VN
Câu đơn đặc biệt là câu có nòng cốt được cấu tạo bởi một từ hoặc một cụm từ
không phân định được CN và VN.
Ví dụ: Trong óc chàng sinh viên trẻ tuổi bỗng lóe lên một tia sáng. (TV 4b)
b2. Câu ghép
Câu ghép là câu có nòng cốt ghép, do hai hay nhiều kết câu CN và VN hoặc
tương đương không bao hàm lẫn nhau, liên kết với nhau theo một kiểu quan hệ ngữ
nghĩa và ngữ pháp nhất định.
Dựa vào tính đầy đủ hai bộ phận chính (CN và VN) của nòng cốt câu, câu ghép
được chia thành câu ghép bình thường và câu ghép đặc biệt.
Câu ghép bình thường là câu ghép có nòng cốt đầy đủ bộ phận CN và VN.
Ví dụ: Những chiếc chân vàng //giẫm trên thảm lá vàng // và // sắc nắng //
C1 V1 C2
cũng rực vàng trên lưng nó.
V2
- Câu ghép đẳng lập là câu ghép các vế câu có quan hệ bình đẳng về quan hệ cú
pháp và ngữ nghĩa.
- Câu ghép chính phụ là câu ghép mà hai vế câu có quan hệ chính phụ.
Câu ghép đặc biệt là câu ghép mà nòng cốt có ít nhất một vế không xác định
được bộ phận CN và VN.
17
Ví dụ: Chim, thu, nhụ, đé.
Lụt thì lút cả làng.
b3. Rút gọn câu
Do hoàn cảnh giao tiếp cụ thể có thể rút gọn bộ phận cấu tạo như CN và VN.
tham gia, bộc lộ bản thân, trang bị tri thức nền và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt
trong giao tiếp.
- Về hình thức: các kĩ năng giao tiếp được rèn luyện thông qua hệ thống các bài
học lý thuyết và các bài tập thực hành. Trong đó, được chú trọng nhiều đến các bài tập
mang tính tình huống giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm lí ngôn ngữ của HS. Các bài
tập này thực chất là các bài tập tình huống giao tiếp yêu cầu HS phải thực hiện. Khi tổ
chức dạy các hoạt động giao tiếp GV phải dạy các kĩ năng thông qua hoạt động giao
tiếp cho HS, làm sao cho mỗi HS, em nào cũng được hoạt động và bằng nhiều hình
thức khác nhau, các em được nói ra, trao đổi, trình bày suy nghĩ riêng để nâng cao
năng lực diễn đạt phù hợp với nhu cầu học tập và giao tiếp.
Trong quá trình thực hiện yêu cầu của các bài tập trong giờ LTVC thì GV có thể
tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm hoặc cá nhân,… để các em trao đổi thảo luận
trình bày ý kiến với nhau. Để tạo tính tích cực của HS, GV phải luôn thay đổi phương
pháp và hình thức dạy học để các em khắc sâu thêm kiến thức đã học và sử dụng chúng
có hiệu quả.
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của HS lớp 4 với việc dạy kiến thức sơ giản về câu
tiếng Việt
Đặc điểm tâm lí của HSTH nói chung và HS lớp 4 nói riêng thể hiện ở một số
mặt sau:
- Tri giác: Tri giác của HSTH mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết không
chủ động. Do đó, các em phân biệt những đối tượng chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có
19
khi còn lẫn lộn. Tuy nhiên, HS lớp 4 khi tri giác, các em có sự phân tích một cách có tổ
chức và sâu sắc hơn, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác.
Tri giác và đánh giá về thời gian và không gian của HSTH còn hạn chế và gặp
khó khăn khi phải quan sát các sự vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ. HS lớp 4
các em có thể tri giác các sự vật có hình dáng khác nhau hoặc tri giác về thời gian.
Tri giác không tự bản thân nó phát triển. Trong quá trình học tập khi tri giác trở
thành hoạt động có mục đích, đặc biệt trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động
có phân tích. Điều này rất cần thiết cho việc hình thành các khái niệm về câu cho HS.
và chữ viết, mà nó còn thúc đẩy sự phát triển tư duy của HS.
- Tưởng tượng: tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng.
Tưởng tượng của HS phát triển không đầy đủ sẽ gặp khó khăn trong mọi hoạt động đặc
biệt là quá trình học tập của HS. Tưởng tượng của HSTH đã phát triển và phong phú
hơn so với các em chưa đến trường. Lứa tuổi HSTH là lứa tuổi thơ mộng giúp cho
tưởng tượng phát triển, tuy vậy tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít tổ chức, còn
đơn giản hay thay đổi, chưa bền vững. Đối với HS lớp 4, tưởng tượng của các em gần
hiện thực hơn. Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm, đã lĩnh hội tri thức khoa
học mà nhà trường đem lại và các em biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hiện tượng
ngôn ngữ mang tính khái quát và trừu tượng hơn. Bên cạnh đó, tưởng tượng tái tạo
từng bước hoàn thiện gắn liền với hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hình
tượng phù hợp với những điều mô tả, các biểu tượng của tưởng tượng dần trở nên hiện
thực hơn, phản ánh đúng nội dung của môn học. Như vậy tưởng tượng của HSTH dần
thoát khỏi những ảnh hưởng của ấn tượng trực tiếp. Mặt khác, tính hiện thực trong
tưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triển của tư duy ngôn ngữ. Vì vậy, GV cần
hình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ chính
xác, giàu nhạc điệu và tình cảm của GV là yêu cầu bắt buộc. Trong dạy học, GV sử
21
dụng đồ dùng dạy học và tài liệu dạy học sinh động để làm tăng trí tưởng tượng cũng
như phát triển trí nhớ và tư duy của HS.
- Tư duy (hay nhận thức cảm tính): Tư duy của HSTH là tư duy cụ thể, mang tính
hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.
Nhờ ảnh hưởng của việc học tập các em dần dần chuyển từ hoạt động nhận thức các
mặt bên trong của hiện tượng đến nhận thức những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của
hiện tượng vào tư duy, trên cơ sở đó HS lĩnh hội khái niệm khoa học.
Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu hoạt động phân tích – trực
quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng. Tuy nhiên HS lớp 4 có thể phân tích
đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn với đối tượng đó. Hơn nữa các
em có thể phân biệt các dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng
ngôn ngữ. Khi học tiếng Việt, HS biết phân biệt âm và chữ cái, phân biệt những chữ
giản về câu ở TH, GV cung cấp một cách đầy đủ những kiến thức và cho các em luyện
tập – thực hành thường xuyên, các em sẽ nắm vững kiến thức đã học và viết được
những câu đúng và hay rất dễ dàng. Tuy nhiên, hiện nay HSTH cũng vẫn còn viết câu
sai. Mặt khác, khi dạy kiến thức sơ giản về câu GV thực sự chưa quan tâm nên việc
truyền đạt kiến thức về câu của GV đến HS còn hạn chế làm cho HS không hứng thú
khi học kiến thức sơ giản về câu. Những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đã nêu về việc
dạy kiến thức sơ giản về câu của HSTH làm tiền đề để tôi nghiên cứu các chương sau.
1.2.2 Hệ thống hóa nội dung dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4
Nội dung chương trình dạy kiến thức sơ giản về câu lớp 4 nằm trong phân môn
LTVC được dạy trong 26 tiết. Việc HS học kiến thức sơ giản về câu, cung cấp cho HS
một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo câu. Bên cạnh đó, ôn luyện kiến thức về công dụng
và luyện tập sử dụng một số dấu câu.
23
Bảng 1.1 Thống kê nội dung chương trình dạy kiến thức
sơ giản về câu ở lớp 4
Tuần Chủ điểm Tên bài Trang
2
8
13
14
14
15
16
17
17
19
20
21
22
23
- Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi.
- Câu kể.
- Câu kể Ai làm gì?
- Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?
- Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?
- Luyện tập về câu kể Ai làm gì?
- Câu kể Ai thế nào?
- Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào?
- Chủ ngữ trong câu kể Ai thế
nào?
- Dấu gạch ngang
- Câu kể Ai là gì?
- Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?
- Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì?
- Luyện tập về câu kể Ai là gì?
- Câu khiến.
- Cách đặt câu khiến.
- Giữ phép lịch sự khi trình bày
22 (tập 1)
82
131
137
142
151
161
166
171
6 (tập 2)
16
23
- Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho
câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện
cho câu.
120
126
129
134
140
150
160
Từ bảng thống kê trên ta thấy số tiết dạy kiến thức sơ giản về câu trong phân
môn LTVC tăng lên 2 tiết /1tuần và được dạy thành một nội dung riêng trong một tiết.
Cụ thể là nội dung dạy kiến thức sơ giản về câu cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ
giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu.
+ Câu hỏi (tuần 13, 14 và 15 – 4 tiết) với các kiểu câu: câu hỏi và dấu chấm
hỏi, luyện tập về câu hỏi, dùng câu hỏi với mục đích khác nhau.
Câu hỏi dùng để hỏi về những điều chưa biết và khi hỏi cần giữ phép lịch sự.
Các câu hỏi dùng để hỏi người khác có khi tự hỏi mình, với các từ (ai, gì,…).
+ Câu kể (tuần 16, 17, 19, 20, 21, 22, 24, 25 và 26 – 12 tiết) dùng để kể, tả giới
thiệu về sự vật, sự việc. Cuối câu kể thường có dấu chấm.
Câu kể Ai làm gì? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi:
Ai (con gì), bộ phận thứ hai là VN trả lời cho câu hỏi: Làm gì? Vị ngữ có thể là động từ
nêu lên hoạt động của người hoặc vật.
25
Câu kể Ai thế nào? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi:
Ai (cái gì, con gì), bộ phận thứ hai là VN trả lời cho câu hỏi: Thế nào? CN do danh từ
hoặc đại từ tạo thành. VN do tính từ (cụm tính từ), động từ (cụm động từ) tạo thành.
Câu kể Ai là gì? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi: Ai