BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
TRÁM BÍT HỐ RÃNH DỰ PHÒNG SÂU RĂNG BẰNG
G.I.C FUJI VII CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU
HỌC HUYỆN GIA LỘC - HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Nha khoa
Mã số: CK 62.72.28.01
LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN ĐỨC THẮNG
HÀ NỘI - 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt
Trung ương Hà Nội và các Thầy, Cô trong Trung tâm đào tạo cùng toàn thể
các Thầy, Cô của bệnh viện RHM TW Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ts Nguyễn Đức Thắng - Trưởng Khoa Nha
chu - Bệnh viện RHM TW Hà Nội người đã tận tình truyền đạt những kiến
thức, kinh nghiệm chuyên môn trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS - Ts Trịnh Đình Hải - Giám đốc Bệnh
viện RHM TW Hà Nội, Chủ tịch Hội RHM Việt Nam đã tận tình giảng dạy
và tạo điều điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại bệnh viện.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
PGS – TS. Mai Đình Hưng và các Thầy, Cô trong héi ®ång đã đóng ý
kiến giúp tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
RHM : Răng hàm mặt
3
SMTR/smtr : Chỉ số sâu mất trám Răng
TCYTTG : Tổ chức Y tế Thế giới
TS : Tổng số
VSRM : Vệ sinh răng miệng
TBHR : Trám bít hố rãnh
G.I.C : Glass ionomer cement
CAO : Carie Absent Obturation
CMF : Carie Missing Filling
CMF(T): : Carie Missing Filling Tooth
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất với tỷ lệ
người mắc rất cao, có nơi trên 90% dân số có sâu răng. Ở Việt Nam theo kết
quả điều tra trên phạm vi toàn quốc của Trần Văn Trường, Trịnh Đình Hải,
Lâm Ngọc Ấn năm 2001 về tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ lứa tuổi 9 - 11 tuổi
là 54,6% [1].
Trong đó tỷ lệ sâu răng số 6 của lứa tuổi 6 - 10 theo điều tra của Vũ
Mạnh Tuấn và Trần Văn Trường tại Trường Tiểu học Đông Ngạc A - Từ
Liêm - Hà Nội là 56,8% (khám bằng mắt thường) và 78,1% (khám bằng
Laser) [2], theo Phan Thị Kim Tuyết tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện
Cai Lậy - Tiền Giang tỷ lệ sâu răng số 6 lứa tuổi 7 - 15 là 47,2% và 0,97%
mất răng 6 do sâu răng và không có răng nào được trám [3].
Để điều trị bệnh sâu răng và khắc phục hậu quả của nó cần chi phí rất
cao, theo Tổ chức Y tế Thế giới “Chi phí chữa răng rất lớn, vượt quá khả
năng của mọi Chính phủ kể cả những nước phát triển”. Do vậy, dự phòng sâu
răng là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm giảm tỷ lệ sâu răng và gián tiếp làm
giảm chi phí cho vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng.
Tình hình sâu răng trên các mặt răng khác nhau trong những năm gần
2. Đánh giá hiệu quả dự phòng sâu răng bằng phương pháp trám bít hố,
rãnh dùng G.I.C Fuji VII.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sâu răng ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1. Tình hình sâu răng trẻ em trên thế giới.
- Ở các nước phát triển:
Trong những năm từ 1940 đến 1960, tình hình sâu răng ở những nước
này rất nghiêm trọng. Tại các nước này chỉ số SMTR (chỉ số răng sâu, mất,
trám) ở mức rất cao và trong khoảng từ 7,4 – 12,0 có nghĩa là trung bình mỗi
trẻ em có từ 7,4 – 12,0 răng sâu. Đến những năm từ 1979 - 1982 chỉ số này đã
giảm xuống. Nghiên cứu tại Mỹ năm 1946 cho thấy chỉ số SMTR là 7,6
nhưng đến năm 1980 thì chỉ số này chỉ còn là 2,0. Tương tự như vậy tại Phần
Lan, năm 1975 là 7,5 và năm 1981 là 4,0 [4], [5], [6].
Từ năm 1983 đến gần đây, theo các báo cáo nghiên cứu về tình hình
sâu răng tại các nước công nghiệp hóa và ở nhiều nước Châu Âu khác đều
cho thấy chỉ số SMTR và tỷ lệ sâu răng có nhiều biến động nhưng nhìn chung
là tiếp tục giảm xuống nhờ có sự phối hợp của các chương trình dự phòng sâu
răng như: chương trình Fluor hóa nước uống, Fluor dùng tại chỗ, chương
trình nha học đường [6].
- Ở các nước đang phát triển và trong khu vực:
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 1982 tại các nước đang
phát triển tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng cao. Ở những nước trong khu vực
theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1994, 1997 hầu hết trên
90% dân số bị sâu răng và chỉ số SMTR tuổi 12 ở nhiều nước còn cao hơn.
Bên cạnh đó, ở một số nước như Malaysia và Singapo tình trạng sâu răng trẻ
em có xu hướng giảm xuống do đã làm tốt công tác dự phòng sâu răng.
Từ năm 1983 đến nay có nhiều tác giả công bố tình trạng sâu răng ở trẻ
em. Tại nhiều nước đang phát triển thì tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMTR ở các
12 56,6 1,87
Tại Hải Dương, là một trong những tỉnh được phủ kín chương trình
NHĐ từ năm 1999 song những năm gần đây (nhất là từ 2005 đến nay) do có
biến động về tổ chức bộ máy y tế cơ sở do vậy việc chăm sóc răng miệng cho
học sinh chưa được chu đáo, do vậy sự gia tăng sâu răng tại tỉnh cũng nằm
trong giới hạn gia tăng sâu răng chung của trẻ em Việt Nam trong lần điều tra
răng miệng toàn quốc năm 2002 của Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn và
Trịnh Đình Hải [1].
1.2. Cơ sở khoa học của dự phòng sâu răng.
1.2.1. Hình dạng giải phẫu của hố rãnh mặt nhai răng vĩnh viễn [14], [15], [16].
* Giải phẫu mặt nhai răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới:
Răng 6 dưới được xem là răng neo chặn của bộ răng dưới và mang đặc
điểm cơ bản đặc trưng cho các răng hàm lớn dưới.
9
Hình 1.1: Các mặt của răng số 6 hàm dưới
Răng hàm lớn dưới (Răng cối lớn hàm dưới).
- Răng hàm lớn dưới thường có 2 chân: một gần, một xa
- Thường có bốn múi lớn và một múi thứ năm nhỏ hơn.
- Thân răng có chiều gần xa lớn hơn chiều ngoài trong.
- Là những răng có 2 múi lớn phía trong có kích thước gần tương đương nhau.
- Các múi gần ngoài và xa ngoài cũng có kích thước gần tương đương nhau.
Răng 6 trên và dưới là các răng vĩnh viễn đầu tiên mọc lên trong miệng
khoảng 6 tuổi, ngay phía xa răng hàm sữa thứ hai, đánh dấu sự khởi đầu của
giai đoạn bộ răng hỗn hợp, với sự có mặt đồng thời của cả răng sữa lẫn răng
vĩnh viễn trên cung răng. Răng 6 dưới được xem là răng neo chặn của bộ răng
dưới và mang đặc điểm cơ bản đặc trưng cho các răng hàm lớn dưới [14].
10
* Kích thước và tuổi mọc.
Bảng 1.2. Kích thước và tuổi mọc răng hàm lớn dưới [14].
Kích thước (mm) Răng 6 (răng lớn dưới)
Mặt nhai có 3 hõm:
- Hõm giữa: rộng, sâu ở vùng trung tâm mặt nhai.
- Hõm tam giác gần: cạn, hình tam giác ở kế gờ bên gần.
- Hõm tam giác xa: lõm nhẹ ở phía gần của gờ bên xa.
Năm múi của mặt nhai tạo thành một mẫu hố rãnh đặc biệt. Rãnh giữa
chạy theo chiều gần xa, băng qua mặt nhai ở vùng trung tâm, kết thúc ở hố
gần và hố xa. Ở khoảng giữa mặt nhai, rãnh giữa gặp rãnh trong và rãnh gần
ngoài: rãnh trong ngăn cách hai múi trong (và còn tiếp tục trên mặt trong);
rãnh gần ngoài ngăn các hai múi ngoài và kéo dài trên mặt ngoài. Giao điểm
của rãnh trên là hố giữa. Rãnh xa ngoài ngăn cách múi xa ngoài với múi xa và
cắt rãnh trung tâm tại một điểm ở phía xa của hố giữa.
Ngoài các rãnh chính nói trên, mặt nhai còn có nhiều rãnh phụ tỏa ra từ
hai hố (gần và xa). Thường có hai rãnh tỏa ra từ hố gần, một đi về phía góc
gần ngoài, một băng qua gờ bên gần.
12Hình 1.2: Các rãnh mặt nhai răng 6 hàm trên
Hình 1.3: Các rãnh mặt nhai răng 6 hàm dưới
13
Giải phẫu và mô học của hố rãnh mặt nhai[14].
Hình dạng các rãnh mặt nhai thay đổi trên mỗi người, trên mỗi răng
khác nhau. Để đơn giản có thể chia hố rãnh làm 2 dạng chính:
- Dạng nông, rộng: rãnh thường có dạng hình chữ V.
- Dạng sâu, hẹp: thường các rãnh có dạng hình chữ I, chữ V, hình giọt
nước, hình chùy hay hình chữ U
Trên mỗi răng thường có nhiều loại hình dạng rãnh khác nhau, thường
rãnh chữ V chiếm nhiều nhất (40%), rãnh I (20%), rãnh dạng chùy (15%),
dạng chữ U (15%), và dạng giọt nước (10%).
Hình 1.4: Rãnh chữ I Hình 1.5: Rãnh chữ V
thành công phát hiện sâu hố rãnh sớm bằng thám trâm chỉ khoảng 25%.
15
Hình 1.6: Nút chặn hữu cơ
1.2.2. Sinh lý bệnh quá trình sâu răng.
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa được đặc
trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu
cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng lý
hóa liên quan đến sự di chuyển của các ion giữa bề mặt răng và môi trường
miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ
của vật chủ.
* Sự hủy khoáng
Là hiện tượng muối khoáng được vận chuyển từ răng ra môi trường
miệng, nếu hiện tượng này xảy ra trong thời gian dài sẽ gây tổn thương tổ
chức cứng của răng. Trên lâm sàng và thực nghiệm đã chứng minh rằng ở giai
đoạn này nếu các chất tựa hữu cơ chưa bị phá hủy thì thương tổn có khả năng
phục hồi, muối khoáng từ dịch miệng và cơ thể lắng đọng trở lại răng. Khi các
chất tựa hữu cơ bị phá hủy thì sâu răng không thể hồi phục được, tổn thương
cần được hàn lại.
16
* Sự tái khoáng
Là hiện tượng muối khoáng được vận chuyển ngược lại vào răng, quá
trình này có thể được làm tăng bởi các ion Fluor ở vùng phản ứng.
Nước bọt là nguồn cung cấp chất khoáng cho sự tái khoáng. Nếu sự tái
khoáng mạnh sẽ tạo nên lớp tổ chức cứng rắn dày vài µm có khả năng đề
kháng các yếu tố sâu răng.
Sâu răng xảy ra khi sự hủy khoáng chiếm ưu thế hơn sự tái khoáng.
Bản chất của quá trình hủy khoáng và tái khoáng của men, ngà, cement là như
nhau. Tuy nhiên do cấu trúc, thành phần muối khoáng và chất tựa hữu cơ của
chúng khác nhau nên tiến triển tổn thương sâu răng có sự khác nhau.
SÂU RĂNG
VI KHUẨN MIỆNG
BỀ MẶT RĂNG
Trong sơ đồ trên đề cập chủ yếu đến chất đường, vi khuẩn Streptococus
và bề mặt răng. Do đó, việc dự phòng sâu răng quan tâm nhiều đến chế độ ăn
hạn chế đường và vệ sinh răng miệng. Tuy nhiên vấn đề thời gian cũng cần
được nhấn mạnh, sự phối hợp của ba yếu tố này phải xảy ra trong thời gian
nhất định mới có thể gây tổn thương sâu răng.
Năm 1975, White giải thích bệnh học sâu răng bằng việc thay vòng
tròn chất đường trong sơ đồ Keyes bằng vòng tròn chất nền và đề cao vai trò
bảo vệ của nước bọt, dòng chảy pH nước bọt quanh răng và vai trò của Fluor.
Theo sơ đồ White, quá trình sâu răng được giải thích qua sự mất cân bằng
giữa các yếu tố bảo vệ và yếu tố mất ổn định.
Hình 1.9: Sơ đồ White (1975)
Năm 1995, Hội Nha Khoa Hoa Kỳ đưa ra một sơ đồ mới trong đó nhấn
mạnh 3 yếu tố là vi khuẩn (tác nhân gây sâu răng), răng (vật chủ) và môi
trường (thức ăn có glucid có khả năng lên men).
Răng Vi khuẩn
Chất nền
Sâu
răng
19
Trên cơ sở những hiểu biết đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra
nhiều biện pháp dự phòng sâu răng mang lại hiệu quả cao.
Trước đây, người ta cho rằng sâu răng bắt nguồn từ đáy hố rãnh, nơi
sâu nhất trước khi lan rộng ra thành bên và sườn múi. Nhưng các nghiên cứu
gần đây cho thấy các thành bên của hố rãnh mới là nơi bắt đầu tiến trình sâu
răng. Đầu tiên tổn thương sâu răng xuất hiện ở miệng rãnh thường dưới dạng
tổn thương kép, độc lập nhau ở hai bên sườn nghiêng. Sau đó các tổn thương
- Giáo dục vệ sinh răng miệng là biện pháp phòng chống sâu răng mang
lại hiệu quả cao. Nhiều quốc gia trên thế giới đã có các chính sách hoạt động
giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ em. Trong khu vực có Singapo là nước có
chính sách giáo dục vệ sinh răng miệng cho trẻ em rất tốt, thì tỷ lệ dmft giảm
từ 3,0 năm 1960 xuống còn 0,4 năm 1999 [23]. Tại Trung Quốc từ năm 1950
trở lại đây, do các chính sách và hoạt động giáo dục vệ sinh răng miệng cho
trẻ em tốt, nên tình trạng sâu răng đã được cải thiện rất nhiều. Một số kỹ thuật
vệ sinh răng miệng phải đáp ứng được các yêu cầu:
+ Phải làm sạch tất cả các mặt răng, đặc biệt vùng rãnh lợi và kẽ răng.
+ Sử dụng bàn chải không được để tổn thương các phần mềm và
tổ chức cứng của răng. Do vậy phải chải răng theo hướng thẳng đứng và kéo
ngang có thể làm co lợi và mòn răng.
+ Kỹ thuật đơn giản đễ học, dễ hướng dẫn cho cộng đồng.
+ Phương pháp chải răng được thực hiện sao cho tất cả các phần
của răng đều được chải và không có vùng nào bị bỏ qua.
+ Hai phương pháp hay được sử dụng là kỹ thuật cuốn (the roll
technique) được dùng khi lợi nhạy cảm và kỹ thuật Bass (the Bass technique)
được dùng khi lợi lành mạnh.
+ Tùy từng trường hợp mà có thể sử dụng một biện pháp hoặc
phối hợp một số biện pháp như dùng chỉ tơ nha khoa (Dental floss), tăm gỗ,
21
bàn chải kẽ răng hoặc dùng bàn chải tự động để làm sạch kẽ răng. Phương
pháp phun tưới là biện pháp bổ sung cho chải răng.
1.3.2. Sử dụng Fluor [6], [15], [21], [24].
Theo khuyến cáo của TCYTTG và Liên đoàn Nha Khoa Quốc tế, việc
sử dụng Fluor hóa nước uống là một biện pháp dự phòng sâu răng có hiệu quả
và ít tốn kém [25].
* Fluor hóa nước công cộng:
- Fluor hóa nguồn cung cấp nước sinh hoạt với độ tập trung Fluor từ 0,7
đến 1,2gF/lít nước mà độ tập trung tối ưu tùy thuộc vào khí hậu.
1.3.3. Trám bít hố rãnh mặt nhai [20], 17], [2], [28].
Dựa trên cơ sở sâu răng thường xuất phát từ rãnh răng nên ngay từ
những năm đầu thế kỷ 20 một số thầy thuốc nha khoa trên thế giới đã sử dụng
một số vật liệu như ciment và amalgam dể trám bít hố rãnh dự phòng sâu răng
[29], [30].
Trám bít hố rãnh là sử dụng vật liệu trám bít hố rãnh hàn phủ lên trên
mặt hố rãnh của các răng vĩnh viễn ngăn cản sự tiếp xúc trực tiếp của mặt
nhai với môi trường miệng.
Do có trên 50% sâu răng xuất hiện ở mặt nhai và Fluor ít có tác dụng
dự phòng sâu răng ở hố rãnh nên trám bít hố rãnh được đưa ra như một giải
pháp hữu hiệu để dự phòng sâu răng.
Chất trám bít hố rãnh có tác dụng ngăn ngừa sâu răng chủ yếu trong
thời gian tồn tại trên răng. Thời gian lưu giữ chất trám bít hố rãnh phụ thuộc
vào kỹ thuật trám bít và có thể lưu giữ được nhiều năm.
Ngày nay người ta kết hợp Fluor vào trong các vật liệu trám bít để tăng
khả năng kiểm soát sâu răng.
23
Với sự phát triển của khoa học công nghệ những năm gần đây đã có rất
nhiều các vật liệu để trám bít răng có hiệu quả, sau đây xin được nêu một số
vật liệu được các thầy thuốc trên thế giới và Việt Nam thường sử dụng [31]
[32], [33], [34], [26], [35], [36].
- Nhựa Compsite:
- Chất trám bít có Fluor:
- Chất có nguồn gốc Glassionomer:
- Chất trám bít nhựa – Glassionomer:
1.3.4. Chế độ ăn hợp lý [8], [20], [37].
Thành phần hóa học, lý học của thức ăn cũng ảnh hưởng đến bệnh sâu
răng như thức ăn xơ… làm sạch răng, thức ăn mềm, có đường lại tạo mảng
bám răng do đó cần lưu ý tính chất hóa, lý trong thực phẩm. Thay đổi đường
trong các loại thực phẩm bằng các chất làm ngọt nhân tạo. Một số chất làm
thương khi chúng gặp nhau ở đáy rãnh. Bề dày men ở đáy rãnh giảm đáng kể
so với những nơi khác làm cho sâu răng dễ lấn sâu vào ngà do vậy trên lâm
sàng tổn thương sâu vào đến ngà nhưng vẫn thấy men răng mặt nhai còn
nguyên vẹn [18]. Mặt khác do ngà mềm hơn men nên khi tổn thương đã lan
tới ngà thường tiến triển nhanh hơn. Do vậy sâu răng ở giai đoạn đầu thường
khó phát hiện bằng thám trâm [39].
Theo một số tác giả, sự hình thành sâu răng trên bề mặt các rãnh phụ
thuộc chủ yếu vào độ hẹp của rãnh, ngoài ra các nút chặn hữu cơ trong rãnh
giữ vai trò làm vùng đệm chống lại các sản phẩm acid của mảng bám, do đó
sự tấn công của acid sẽ giảm đi ở đáy rãnh trong suốt giai đoạn khởi đầu của
sâu răng.
Các nghiên cứu cho thấy có sự giảm đột ngột đáng kể số lượng vi khuẩn
trong các tổn thương sâu răng ở hố rãnh được bít kín hoàn toàn. Tiến trình sâu
25