TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN
LỚP 1 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC
THUỘC KHU VỰC ĐÔNG ANH – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
HÀ NỘI – 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN
LỚP 1 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC
THUỘC KHU VỰC ĐÔNG ANH – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học
Th.s. TRẦN THANH TÙNG
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Phương Thảo
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDTH
Giáo dục Tiểu học
PP
Phương pháp
PPDH
Phương pháp dạy học
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
MỤC LỤC
1.3.5. Đồ dùng trực quan trong dạy học........................................................ 19
1.4. Môn Toán lớp 1 với vấn đề sử dụng phương pháp trực quan ................. 22
1.4.1. Đặc điểm môn Toán 1 ........................................................................ 22
1.4.2. Ưu thế của phương pháp trực quan ..................................................... 24
1.4.3. Các hình thức trực quan thường được sử dụng trong quá trình dạy học
môn Toán 1 .................................................................................................. 25
1.5. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 ................................................ 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC
QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 1 .................................... 27
2.1. Vài nét về địa bàn và phạm vi nghiên cứu ............................................. 27
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu.............................................................. 27
2.1.2. Vài nét về phạm vi nghiên cứu ........................................................... 27
2.2. Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát ................................................ 28
2.3. Kết quả điều tra, khảo sát ...................................................................... 29
2.3.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của phương pháp
trực quan trong dạy học môn Toán lớp 1 ...................................................... 29
2.3.2. Thực trạng sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học môn Toán
lớp 1 ............................................................................................................. 32
2.3.3. Thực trạng thiết bị dạy học được sử dụng trong môn Toán lớp 1 ở các
trường tiểu học ............................................................................................. 36
2.3.4. Thực trạng những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi sử dụng
phương pháp trực quan trong dạy học môn Toán lớp 1................................. 37
2.2.5. Những đề xuất của giáo viên về những điều kiện để việc sử dụng
phương pháp trực quan trong dạy học môn Toán lớp 1 đạt hiệu quả............. 37
Chương 3. NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC THỰC
TRẠNG ....................................................................................................... 40
3.1. Nguyên nhân của thực trạng .................................................................. 40
3.2. Giải pháp ............................................................................................... 42
Mức độ sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học
32
môn Toán lớp 1
4
Mức độ sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học các
loại bài học ở môn Toán lớp 1
34
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội, Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng đối
với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày
nay, Giáo dục – Đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng
đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là
ngoại lệ.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển, muốn
phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh thần, nhất
là về học vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phần xây
dựng và cải tạo xã hội. Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu” bởi không có tri thức, hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân
mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trước những thế lực và sức mạnh
cản trở sự phát triển của dân tộc mình, đất nước mình.
Giáo dục là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là Giáo dục Tiểu
học, vì đây là bậc học nền tảng hình hành ở học sinh những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng
vấn đề đáng quan tâm.
Xuất phát từ nhiệm vụ, nội dung của môn học cũng như đặc điểm của
phương pháp trực quan cho thấy việc sử dụng phương pháp trực quan trong
dạy học là phương pháp dạy học phù hợp với nội dung môn Toán và đặc điểm
sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học. Kế thừa những thành tựu của các công trình
nghiên cứu và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc dạy học Toán ở tiểu học
nên khóa luận chọn vấn đề là “Thực trạng sử dụng phương pháp trực quan
trong dạy học môn Toán lớp 1 tại một số trường tiểu học thuộc khu vực
Đông Anh” làm đề tài nghiên cứu.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học trực quan được sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai
nhất của Khổng Tử để con người nhận thức được thế giới. Bởi lẽ, theo họ thế
giới hòa tan trong ta và con người có thể nhận thức được chính bản thân họ.
Mối quan tâm của Khổng Tử đó là tri thức kinh nghiệm không có sẵn trong
mỗi con người, nó được hình thành trong mỗi con người thông qua học tập.
Ông khẳng định: “Tính người ta vốn gần nhau”, Khổng Tử rất coi trọng nhận
thức cảm tính, con người nhận thức được thế giới phải dựa vào kết quả quan
sát các sự vật trực quan. Từ những điều nghe, hai ông rút ra được nội dung
dạy học. Từ đó “phương pháp trực quan gắn liền với dạy học”.
Đầu thế kỉ XVII, nhà giáo dục nổi tiếng người Tiệp Khắc
J.A.Cômenxki (1592 - 1670) đã gây dựng nhà trường, coi trọng trường học.
Ông đã đưa ra nguyên tắc dạy học, lí luận dạy học và phương pháp dạy học
của quá trình nhận thức. Ông cho rằng kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó
càng xác thực. Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người ta quan sát,
chứng minh mà phải căn cứ vào cái chính mắt mình nhìn, chính tai mình
nghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ… Ý
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trực quan trong
dạy học môn Toán lớp 1 của giáo viên các trường tiểu học khu vực Đông Anh
nhằm đề xuất những biện pháp khắc phục thực trạng để nâng cao chất lượng
dạy và học môn Toán ở tiểu học.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Phương pháp dạy học môn Toán lớp 1.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học môn Toán
lớp 1.
4
5. Giả thuyết nghiên cứu
Trong quá trình dạy học môn Toán lớp 1, nếu xây dựng và vận dụng
phương pháp trực quan vào từng nội dung bài học một cách phù hợp với
chương trình môn học, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh sẽ giúp học sinh
hứng thú học tập, giảm căng thẳng và áp lực cho học sinh khi học Toán; nâng
cao hiệu quả và chất lượng dạy học môn Toán góp phần đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích cực hóa tư duy người học, đảm bảo hiệu quả quá
trình dạy học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc sử dụng phương pháp trực quan trong
dạy học môn Toán lớp 1.
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học
Toán lớp 1 ở tiểu học.
- Đưa ra nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học môn Toán 1.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu giáo án của giáo viên dạy môn Toán có sử dụng
phương pháp trực quan để xem trong giáo án giáo viên tổ chức giờ học có
đúng với quy trình, đúng mục đích của phương pháp không.
8.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp này để lượng hóa thông tin thu thập được, trên cơ
sở đó rút ra những kết luận cần thiết.
8.2.6. Phương pháp hỏi chuyên gia
Với những vấn đề quá phức tạp có liên quan tới đề tài nghiên cứu có
thể nhờ sự trợ giúp của giảng viên hướng dẫn hoặc giảng viên chuyên ngành
Giáo dục học.
6
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, khóa luận bao gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học
môn Toán lớp 1
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp khắc phục thực trạng.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 1
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm phương pháp
thụ động thực hiện những điều thầy dạy. Quan niệm của Phan Trọng Ngọ,
Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ và Nguyễn Ngọc Quang có những nét tương
đồng khi cho rằng đó là cách thức phối hợp của cả thầy và trò nhằm đạt được
mục đích dạy học. Như vậy quan niệm về PPDH này phù hợp với quan điểm
dạy học lấy người học làm trung tâm, chúng tôi đồng ý với quan điểm của hai
tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “PPDH là tổ hợp cách thức
hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, mà thầy và trò sử dụng
để đạt được mục đích dạy học”.
1.1.3. Khái niệm trực quan
+ Trực là trực diện, toàn diện, rõ ràng, toàn bộ, sự thật hoàn toàn.
+ Quan là quan sát, nhìn thấy bằng mắt, tức đang quan sát một sự vật, hiện
tượng thật.
Tức trực quan là có thể nhìn rõ các vấn đề bằng mắt, tức là nó được hiểu,
được biết một cách rõ ràng và đầy đủ.
1.2. Hệ thống các phương pháp dạy học ở tiểu học và một số đặc điểm
của các phương pháp dạy học
1.2.1. Hệ thống các phương pháp dạy học ở tiểu học
Có nhiều cách phân loại dựa trên những cơ sở khác nhau. Dựa vào nguồn
phát sinh tri thức, các PPDH được chia thành các nhóm PP sau:
1.2.1.1. Nhóm các PPDH dùng lời
a, Các PPDH thuyết trình
9
- Giảng thuật: Là một trong những PP thuyết trình có chứa đựng yếu tố trần
thuật và mô tả.
- Giảng giải: Là dùng luận cứ, số liệu để chứng minh các nguyên tắc, định
lí, công thức,…trong Toán học, Từ ngữ, Ngữ pháp,…PP này chứa đựng các
yếu tố suy luận và phán đoán, có nhiều khả năng phát huy trí thông minh,
c, PP ôn tập
Ôn tập giúp HS nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩa xảo giúp GV sửa chữa
những sai lầm bảo đảm cho HS trong lớp tiến bộ đồng đều, rèn luyện những
kĩ năng, kĩ xảo làm việc đúng đắn và phát huy tính tích cực, độc lập tư duy
của HS, giúp HS mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri
thức đã học.
d, PP dùng sách giáo khoa và tài liệu khác
Sách phản ánh những kinh nghiệm đã được hệ thống hóa và khái quát hóa
mà loài người đã tích lũy được qua bao đời nay, mà nhất là phản ánh những
thành tựu mới nhất của khoa học, văn học, kĩ thuật,…Do đó, chúng ta cần coi
trọng việc hướng dẫn HS sử dụng sách, trước hết là sách giáo khoa.
e, PP trò chơi
Trong xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại, người ta đang nghiên cứu
việc sử dụng trò chơi để giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các kĩ
năng sáng tạo điển hình. Trò chơi trong học tập ở tiểu học có nhiều loại: Trò
chơi sắm vai, trò chơi trí tuệ,…PP trò chơi thường được dùng cho các môn
học Đạo đức, Toán, tiếng Việt,…
Tùy theo nội dung bài học và đặc điểm lứa tuổi của các em trong từng năm
học ở tiểu học mà nhà sư phạm khai thác sử dụng các loại trò chơi có ý nghĩa
học tập tối đa. Trò chơi là một kiến thức học tập nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn
HS vào học tập tích cực, vừa chơi vừa học và học có kết quả.
11
1.2.2. Một số đặc điểm của phương pháp dạy học ở tiểu học
1.2.2.1. PPDH tiểu học phụ thuộc vào nội dung dạy học
Nội dung dạy học qui định PPDH. Nội dung dạy học phản ánh cái khách
quan, PPDH là cái chủ quan – cách thức, con đường nhằm chuyển tải nội
dung dạy học.
- PP thực hành – luyện tập
- PP trò chơi
1.3. Vài nét về phương pháp dạy học trực quan trong dạy học
1.3.1. Cơ sở khoa học
1.3.1.1. Cơ sở triết học
Quy luật của nhận thức là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Vì vậy lí luận về nhận thức coi thực
tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích, đồng thời là tiêu chuẩn kiểm tra kiến
thức. Theo quan điểm duy vật biện chứng, quá trình nhận thức trải qua 3 giai
đoạn: giai đoạn nhận thức cảm tính, giai đoạn nhận thức lí tính, giai đoạn tái
sinh cái cụ thể và cái trừu tượng. Vấn đề này Lê-nin đã chỉ ra: “Từ trực quan
sinh động dến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiến đó là
con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức thực tại khách quan.
Quan điểm này cho rằng trực quan là xuất phát điểm của nhận thức, trực quan
là nguồn cung cấp tri thức. Sự trực quan sinh động được đặc trưng bởi quá
trình tâm lí đó là: cảm giác, tri giác biểu tượng các quá trình tình cảm và ý
chí. Sự nhận thức này mới chỉ phản ánh được các thuộc tính bên ngoài, thuộc
tính bản chất. Tuy nhiên, ở đây đã xuất hiện yếu tố cơ sở của tư duy (hình ảnh
trực quan). Để nhận thức được bản chất của sự vật và hiện tượng cần xử lí các
thông tin trong trí óc. Từ hình tượng cảm tính thu được, loại bỏ các khía cạnh
ngẫu nhiên trong bản chất; ghi lại những dấu hiệu cơ bản, giống nhau; nghĩa
13
là để nắm được bản chất cần có tư duy. Như vậy trực quan sinh động, nhận
thức cảm tính, tư duy trừu tượng và nhận thức lí tính là những bộ phận hữu cơ
của quá trình lĩnh hội tri thức. Tri thức cần phải kiểm tra và vận dụng qua
thực tiễn, tức là kết quả cao nhất của nhận thức. Thực tiến cao hơn này lại tạo
thành sự trực quan sinh động cao hơn cho quá trình nhận thức mới. Quá trình
giáo dục học Liên Xô Usin-xki đã khẳng định: “Trong ý thức HS chỉ để lại
dấu ấn sâu sắc nhất khi GV tác đọng cùng lúc đến nhiều giác quan HS, có
nghĩa vừa giảng giải vừa đưa cho HS xem, thậm chí cho HS cảm giác các sự
vật cần nghiên cứu”. Vì vậy, khi giảng bài, GV vừa phải giảng bài, vừa đưa
cho HS xem các tranh vẽ, mô hình, phim ảnh hay vật thật,…để tăng độ rõ của
ấn tượng.
Những nghiên cứu về tâm lý trong dạy học cho thấy rằng mỗi giác quan
của con người có khả năng tri giác một khối lượng thông tin khác nhau trong
cùng một thời gian. Để đánh giá khả năng tri giác thông tin học tập trong một
đơn vị thời gian, người ta đưa ra khái niệm năng lực dẫn thông của đương tiếp
thu thông tin học tập. “Năng lực dẫn thông là khả năng tiếp nhận thông tin”
trong một đơn vị thời gian. Với các giác quan cụ thể, người ta đã rút ra được:
“Năng lực dẫn thông của đường tiếp thu thông tin bằng thị giác là lớn hơn
nhiều (khoảng 100 lần) so với thính giác. Điều đó được giải thích là vì: Khác
với lời nói (thông tin đến với HS chậm, chủ yếu theo con đường thính giác
một cách từ từ theo trình tự và ý nghĩa của từng từ, câu nói), thông tin tryền
theo con đường thị giác cùng một lúc cho một hình ảnh trọn vẹn với tất cả các
chi tiết của đối tượng nhận thức. Điều này nói lên được nhiều ưu điểm của
PPDH trực quan so với PPDH dung ngôn ngữ nhưng không thể coi là tối ưu
và vạn năng được, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.
Như vậy, người GV phải biết sử dụng hợp lí các đường tiếp thu thông tin
để ghi lại các thông tin học tập trong ý thức HS.
15
1.3.2. Tính trực quan trong hoạt động dạy và học
Trực quan trong dạy học chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc giúp trẻ
tiếp thu những kiến thức. Bởi lẽ trực quan trong dạy học sẽ huy động tất cả
các giác quan tham gia vào quá trình nhận thức của trẻ. Theo nghiên cứu về