Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thành Phố Yên Bái II - Pdf 25

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh Thành Phố Yên Bái II
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Duy Hiền
Lớp : 37B
Mã sinh viên : 37B4000162
Khóa : K37
Khoa : Tài chính Ngân hàng

Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 2014

KÍ TỰ VIẾT TẮT
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
TCKT Tổ chức kinh tế
NH No&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NH Ngân Hàng
VND Việt Nam Đồng
USD Đô La Mỹ
PGD Phòng giao dịch
DANH MỤC BẢNG BIỂU
I. BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình thu nhập và chi phí của Agribank chi nhánh Thành Phố Yên Bái
II giai đoạn 2011 – 2013
B ảng 2.2. Tình hình thu nhập và chi phí của Agribank chi nhánh Thành Phố Yên Bái
II giai đoạn 2011 – 2013

tại No&PTNT chi nhánh Thành Phố Yên Bái II
III. SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ bộ máy tổ chức No&PTNT chi nhánh Thành Phố Yên Bái II
MỤC LỤC
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được vận dụng để thực hiện đề tài nghiên cứu gồm: 2
a) Phương pháp thu thập số liệu 2
b) Phương pháp phân *ch 2
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
No&PTNT CHI NHÁNH THÀNH PHỐ YÊN BÁI II 26
2.2.1. Về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động 27
2.2.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo đối tượng huy động vốn 29
2.3.3. Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo hình thức huy động: 33
2.3.4. Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo kỳ hạn huy động: 37
2.3.5. Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại Aền: 39
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG No&PTNT CHI NHÁNH THÀNH PHố YÊN BÁI II GIAI ĐOẠN 2011
-2013 41
2.4.1. Thành tựu đạt được trong công tác huy động vốn của No&PTNT chi nhánh Thành Phố Yên
Bái II giai đoạn 2011 – 2013: 41
2.4.2. Những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của hạn chế trong công tác huy động vốn
tại NH No&PTNT chi nhánh Thành Phố Yên Bái II: 43
2.5. TÍNH CÂN ĐỐI GIỮA NGUỒN HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN
TẠI NH No&PTNT CHI NHÁNH THÀNH PHố YÊN BÁI II 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THÀNH PHố YÊN BÁI II 49
3.1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY
ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG No&PTNT CHI NHÁNH THÀNH PHố YÊN
BÁI II 49
3.1.1. Phương hướng chiến lược trong công tác huy động vốn tại NH No&PTNT chi nhánh Thành

Ngân hàng trong hoạt động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.
Là một thành viên của hệ thống Ngân Hàng Việt Nam, Ngân Hàng No&PTNT Chi
nhánh Thành Phố Yên Bái II phải chung sức thực hiện nhiêm vụ chung của toàn
ngành, làm thế nào để huy động được vốn đáp ứng cho sự nghiệp Công nghiệp hóa-
Hiện đại hóa đất nước, phất triển kinh tế đất nước là một vấn đề đang được ngân hàng
rất quan tâm.
Trong thời gian học tập tại trường và thực tập tại Agribank chi nhánh Thành Phố
Yên Bái II, tôi nhận thấy công tác huy động vốn luôn giữ vị trí rất quan trọng đối với
hệ thống NHTM trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp
phần thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và NHà Nước. Trước tình hình đó tôi
đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “ Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động
Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi
Nhánh Thành Phố Yên Bái II”. Tôi mong muốn thông qua bài nghiên cứu của mình
có thể giúp cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại nói chung và
ngân hàng Agribank chi nhánh Thành Phố Yên Bái II nói riêng phát triển mạnh mẽ
hơn cả về chất và lượng.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng tình hình huy động vốn của NH No&PTNT chi nhánh
Thành Phố Yên Bái II trong 3 năm từ 2011 đến 2013.
1
- Thấy được mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn tại Ngân Hàng.
- Đánh giá việc huy động vốn của NH No&PTNT chi nhánh Thành Phố Yên Bái
II thông qua các hệ số.
- Từ đó đề ra những giải pháp khắc phục những khó khăn và nâng cao hiệu quả
hoạt động Huy Động Vốn của No&PTNT Thành Phố Yên Bái II.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn của ngân hàng No&PTNT chi
nhánh Thành Phố Yên Bái II.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao chất

Nông Nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thành Phố Yên Bái II.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NHTM.
1.1.1. Khái niệm vốn và huy động vốn
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển
của nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Sự phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát
triển của ngân hàng và sự phát triển của hệ thống ngân hàng là động lực thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt nam bao gồm Ngân hàng nhà
nước (NHNN) và các Ngân hàng thương mại (NHTM) phát triển hiện đại hơn cùng
với các loại hình dịch vụ đa dạng. Hoạt động của hệ thống ngân hàng ngay từ khi ra
đời không chỉ giữ vai trò quan trọng là huyết mạch mà còn là thước đo sự hưng thịnh ,
suy thoái trì trệ của một nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010 của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này để
nhằm mục tiêu lợi nhuận” và “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng
thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi,cấp tín dụng, cung ứng
dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là trung
gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện các chức năng
này và hoạt động có lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động
nhất định. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học: “ Nguồn vốn của NHTM là các
giá trị tiền tệ của chính NHTM, do NHTM huy động hay đi vay, được dùng để tổ chức
các hoạt động kinh doanh của ngân hang như cho vay, đầu tư tài chính, bảo lãnh và
các dịch vụ ngân hang khác”.
Như vậy, trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, ngoài nguồn vốn thuộc chủ sở
hữu thì phần còn lại được coi là nguồn vốn từ huy động (chiếm 90% tổng nguồn vốn),

ngân hàng, đối tượng kinh doanh là tiền tệ, do đó, quá trình tìm kiếm lợi nhuận chủ
yếu thong qua hoạt động huy động và cho vay đối với các chủ thể trong nền kinh tế.
Với lượng vốn dồi dào sẽ giúp ngân hàng có khả năng cho vay nhiều hơn, từ đó tăng
được dư nợ, giúp ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Vì vậy, vốn là yếu tố
quan trọng quyết định quy mô và kết quả kinh doanh của ngân hàng.
5
Với nguồn vốn kinh doanh hạn hẹp sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng hoạt động
kinh doanh, làm giảm khả năng tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Thứ ba, nguồn vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của
ngân hàng: Ngân hàng càng thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử
dụng các dịch vụ của mình thì ngân hàng đó càng uy tín trên thị trường. Trước hết, uy
tín thể hiện ở khả năng sẵn sang thanh toán cho khách hàng bất cứ lúc nào họ yêu cầu.
Ngân hàng có toàn bộ quyền sử dụng vốn tiền gửi nhưng đó vẫn là tài sản của khách
hàng nên khách hàng có thể rút bất cứ khi nào có nhu cầu. Với những ngân hàng có
quy mô nhỏ, họ thường cho vay tối đa nguồn vốn huy động được,dự trữ ít nên dễ dẫn
đến khả năng mất thanh toán. Với những ngân hàng lớn thì họ thực hiện dự trữ đủ khả
năng thanh toán mà vẫn đáp ững được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế nên sẽ có uy
tín ngày càng cao.
Ngoài ra, tuỳ thuộc vào khả năng huy động vốn, nếu ngân hàng huy động được
những nguồn dài hạn, ổn định thì có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài. Từ đó,
ngân hàng có được uy tín lớn với những khách hàng lớn, mang lại nguồn lợi nhuận
chủ yếu cho ngân hàng. đặc biệt, ngân hàng có nguồn vốn tự có lớn thì sức chịu đựng
càng mạnh trong nền kinh tế- xã hội và tình hình hoạt động của ngân hàng gặp khó
khăn.
Thứ tư, nguồn vốn quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng: Để có
thể chiến thắng trong cạnh tranh thì ngoài việc phải có chiến lược cạnh tranh phù hợp
thì yếu tố về khả năng tài chính luôn giữ vai trò quyết điịnh cuối cùng. Nếu ngân hàng
có nguồn vốn lớn thì có thể chủ động mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần
kinh tế cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay
thậm chí trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với khách hàng, thu hút ngày

Trong các hình thức huy động vốn của NHTM, đây là phương thức huy động lâu
đời nhất và đến nay nó vẫn là hình thức quan trọng nhất về mặt kinh tế và chiếm tỉ lệ
lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức,cá nhân dưới hình thức tiền gửi
không kỳ hạn (TG KKH), Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH), tiền gửi tiết kiệm (TGTK)
theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ theo thoả thuận.
a. Tiền gửi không kỳ hạn
TG KKH là tiền gửi của danh nghiệp và cá nhân tại ngân hàng nhằm mục đích
thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Đây là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể
7
rút ra bất cứ lúc nào có nhu cầu và ngân hàng phải đáp ứng được. Do đó, nhìn chung
đây là khoản huy động với lãi suát thấp hoặc bằng không, tuy nhiên người sử dụng
được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng nhanh chóng và hiệu quả. Tiền gửi
không kỳ hạn bao gồm hai loại:
Thứ nhất, tiền gửi giao dịch hay còn gọi tiền gửi thanh toán. Đây là khoản tiền
gửi sử dụng để đáp ứng nhu cầu giao dịch, tiến hành thanh toán,chi trả cho các hang
hoá,dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách
thường xuyên,an toàn và thuận tiện.
Đặc điểm của loại tiền này là mức biến động cao và ngân hàng thường khó có
thể dự báo về quy mô tiền gửỉ giao dịch có thể huy động. Đồng thời, kỳ hạn tiềm năng
của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất do khách hàng có thể rút bất cứ khi nào mà không
cần báo trước, mặt khác mức độ giao dịch trên tài khoản này là rất lớn. Chính vì sự
không ổn định của mình, nên loại tài khoản này thường được trả lãi rất thấp hoặc
không được trả lãi và cũng chính vì sự không ổn định này mà ngân hàng thường phải
có một tỷ lệ dự trữ khá cao đảm bảo khả năng thanh toán. Đối với tài khoản này, khách
hàng được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho uỷ nhiệm chi, séc, và các
lệnh khác.
Thứ hai, tiền gửi không kỳ hạn phi giao dịch, đó là khoản tiền gửi được ký gửi
với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần, khách
hàng có thể đến ngân hàng rút để chi tiêu.

nợ bởi vay trong trường hợp này thì khách hàng sẽ được ưu đãi hơn, chênh lệch lãi
suất không lớn, hoặc là thoả thuận với khách hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi suất
thấp hơn.
Đây là loại tiền gửi tương đối ổn định nên các ngân hàng thường chú trọng các
biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này. Phổ biến nhát vẫn là phương pháp
đa dạng hoá các loại tiền gửi này, đặc biệt việc đưa ra nhiều kỳ hạn thanh toán với
mức lãi suất khác nhau để đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng, thường thì kỳ hạn
càng dài, lãi suất càng cao. Phương thức thứ hai đó là kèm theo các hợp đồng này là
các dịch vụ hậu mãi của ngân hàng hay rút thăm trúng thưởng… Phương thức thứ ba
hạn chế hơn nhưng gần đây rất thịnh thành, đó là cạnh tranh về lãi suất huy động vốn.
đây là phương thức dễ thu hút sự quan tâm của khách nhất nhưng cũng khá nguy hiểm
và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt trong thời kỳ vốn
khan hiếm.
9
c. Tiền gửi tiết kiệm
Theo quy định của khoản 1. điểu 6 Quy chế TGTK ban hành kèm theo quyết
định 1160/2004/QĐ-CP ngày 13/09/2004 “ Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá
nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi
theo quy định của tổ chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm tiền gửi”
Đặc trưng của nguồn vốn này là tính ổn định cao tuy nhiên, chi phí huy động
cao. Đây là nguồn thu nhập của cá nhân chưa sử dụng cho tiêu dùng, họ gửi tiền vào
ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng lãi từ số tiền đó.
TGTK được phát triển dưới hai loại là TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn.
TGTK không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không
được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. sản phẩm này thích
hợp với khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi, muốn gửi ngân hàng với mục tiêu an
toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai, do
đó ngân hàng thường trả lãi thấp cho loại tiền gửi này.
TGTK có kỳ hạn là tiền mà người gửi tiết kiệm chỉ có thể rút tiền sau một kỳ

trung,dài hạn. Căn cứ vào đối tượng khách hàng, Trái phiếu bao gồm Trái phiếu huy
động và Trái phiếu thuộc vốn tự có. Trái phiếu thuộc vốn huy động có thời hạn linh
hoạt, người mua là chủ nợ thường đựoc ưu tiên thanh toán trước. trái phiếu thuộc vốn
tự có có thời hạn từ 10 năm trở lên, người mua là chủ nợ thứ cấp. Nhìn chung, đối với
ngân hàng, đây là nguồn vốn ổn định nhất, ngân hàng chủ động được thời gian, quy
mô vốn,… Tuy nhiên, chi phí huy động cao so với các loại hình khác. Vì thế, trai
phiếu thu hút được sự đầu tư của nhiều người bở tính an toàn và lợi nhuận đáng kể.
Nghiệp vụ này chỉ đựoc tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốn
huy động không đủ. Như vậy, khi thực hiện huy động theo hình thức này, các ngân
hàng phải cân nhắc đầu ra để quyết định khối lượng huy động. Vốn này chỉ được huy
động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ thì ngừng không phát hành
nữa.
b. Vay các TCTD khác
Theo điều 100, Luật các TCTD 2010, NHTM được vay vốn của TCTD, tổ chức
tài chính trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Thông thường, các ngân hàngcó thể vay nhau qua hợp đồng vay vốn hoặc thoả thuận
trước với nhau về hạn mức tín dụng. Ngoài ra, trong trường hợp thiếu hụt dự trữ tại
11
NHNN thì ngân hàng dự trữ dư thừa ngày hôm đó sẽ viết séc hoặc gửi điện tín đến chi
nhánh NHNN tại địa phương, yêu cầu chuyển một phần tiền dự trữ của ngân hàng
mình sang ngân hàng xin vay, thời gian vay rất ngắn, thường chỉ vài ngày. Ngoài ra,
NHTM thiếu vốn có thể đem GTCG đi chiết khấu,vay cầm cố tại ngân hàng khác.
d. Vay NHNN
Theo điều 99, Luật TCTD 2010, NHTM được vay vốn của NHNN dưới hình
thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNN là nơi phát hành tiền, thực thi và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, là
ngân hàng của các ngân hàng. Vì vậy, khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn thì
NHNN là người cứu cánh cuối cùng. Thông thường NHNN cho các NHTM vay trong
trường hợp thiếu hụt vốn hoặc thiếu hụt dự trữ. Cho dù NHNN có áp lãi suất chiết
khấu, phạt cao thế nào đi nữa thì NHNN vẫn phải cho NHTM vay đáp ứng nhu cầu

a. Chính sách huy động
Chính sách huy động vốn của ngân hàng là tổng thể các công cụ,cách thức, biện
pháp và chương trình huy động vốn của một ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút vốn tối
đa từ khách hàng. Chính sách này thay đổi theo từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu cụ
thể của ngân hàng nhưng nhìn chung các nhân tố cấu thành nên chính sách huy động
gồm:
Thứ nhất là chính sách lãi suất, lãi suất là quan tâm hàng đầu của khách hàng
bởi tâm lý ưa thích lợi nhuận. Tại mỗi thời kỳ khác nhau, mức lãi suất ngân hàng đưa
ra là khác nhau nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố hấp dẫn với khách hàng.
Thứ hai là các công cụ và hình thức huy động vốn. Số lượng các công cụ này là
một yếu tố quan trọng đánh giá năng lực của một ngân hàng. Chỉ những ngân hàng có
hoạt động kinh doanh đa dạng, phong phú, trình độ nhân viên cao, có năng lực quản lý
tốt mới có điều kiện phát triển nhiều loại công cụ huy động vốn khác nhau.
Hình thức huy động vốn đa dạng,với các kỳ hạn khác nhau, có cả nội tệ và ngoại
tệ với các mức lãi suất khác biệt tương ứng giúp ngân hàng có được cơ cấu về kỳ hạn
và loại tiền mong muốn để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng vốn, NHTM sẽ tập trung
huy động càng nhiều vốn càng tốt thông qua các hình thức gửi tiết kiệm, hay khi có
nhu cầu vốn lớn và ngắn hạn thì có thể huy động thông qua thị trường liên ngân hàng.
Thứ ba là chính sách khuyến mại, dự thưởng. Đây là một hoạt động cần thiết
nhằm huy động vốn để vừa có mức lãi suất hợp lý, vừa cạnh tranh thu hút khách hàng
với các ngân hàng khác. Bởi, giữa hai ngân hàng lớn, lãi suất như nhau, khách hàng sẽ
13
xét đến các chương trình khuyến mại, ưu đãi nên bên nào có sản phẩm, chương trình
khuyến mại cụ thể,hấp dẫn sẽ thu hút khách hàng hơn.
Thứ tư là chính sách tư vấn khách hàng. Là việc hỗ trợ, tư vấn khách hàng có
được danh mục đầu tư, lựa chọn các loại hình dịch vụ thích hợp mà các ngân hàng
cung cấp. Những lời tư vấn tốt, hữu hiệu sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách, từ
đó tạo lòng tin bền chặt cho khách hàng, lúc này khách hàng sẽ trở thành kênh
marketing hiệu quả cho ngân hàng. Bên cạnh đó, tư vấn chính xác về kỳ hạn gửi tiền
cũng giúp giảm bớt tình trạng rút tiền trước hạn.

i. Cơ cấu theo loại tiền huy động:
Tuỳ vào từng ngân hàng và mục tiêu kinh doanh mà từng ngân hàng có cơ cấu
nôi,ngoại tệ khác nhau. Nguồn ngoại tệ có thể mang đếncho ngân hàng nguồn lợi
nhuận cao cho ngân hàng trong mua bán, hưởng chênh lệch tỷ giá nhưng cũng tiềm ẩn
những rủi ro khó lường như rủi ro tỷ giá.
Nội tệ
Tỷ trọng nội tệ = x100%
Tổng NVHĐ

Ngoại tệ
Tỷ trọng ngoại tệ = x100%
Tổng NVHĐ
ii. Cơ cấu theo đối tượng huy động:
Đánh giá mức độ tập trung của ngân hàng vào từng loại khách hàng, từ đó xem
việc định vị thị trường của ngân hàng đã chính xác chưa.
TG huy động dân cư
Tỷ trọng tiền gửi của dân cư = x 100%
Tổng NVHĐ
Tiền gửi TCKT
Tỷ trọng tiền gửi TCKT = x100%
Tổng NVHĐ
iii. Cơ cấu theo kỳ hạn huy động vốn
15
TG KKH
Tỷ trọng TG KKH = x 100%
Tổng NVHĐ
16
TG CKH
Tỷ trọng TG CKH = x 100%
Tổng NVHĐ

Tốc độ tăng trưởng NVHĐ trong kỳ
Hiệu quả sử dụng NVHĐ =
Tốc độ tăng trường tín dụng ,đầu tư trong kỳ
Nếu hệ số này >1 là dấu hiệu của huy động quá nhiều hoặc tình trạng ứ đọng
vốn. Ngân hàng cần tìm ra nguyên nhân để có biện pháp sử lý kịp thời, đồng thời thực
hiện quy mô phù hợp nhu cầu của thị trường.
Nếu hệ số này , 1 thì hiệu quả sử dụng vốn chưa tốt vì không đáp ứng được nhu
cầu của thị trường. Ngân hàng phải tìm biện pháp tăng cường huy động vốn để không
bỏ qua các cơ hội đầu tư.
Nếu hệ số này = 1 thì cho thấy huy động vốn đã đáp ứng được nhu cầu của thị
trường.
ii) Sự phù hợp về kỳ hạn
Khi cấu trúc kỳ hạn của nguồn vốn không phù hợp với cấu trúc kỳ hạn của danh
mục đầu tư hay cho vay, ngân hàng có thể gặp rủi ro lãi suất. Rủi ro này thường xảy ra
dưới hai dạng là rủi ro tái tài trợ tài sản nợ và rủi ro đầu tư tài sản có. Khi thời hạn
nguồn vốn ngắn hơn thời hạn các khoản đầu tư, nếu lãi suất thị trường có xu hướng
tăng thì ngân hàng sẽ tiếp tục phải huy động vốn với mức lãi suất cao hơn để tiếp tục
đầu tư cho các khoản đầu tư dài hạn.
iii) Vòng quay vốn tín dụng
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn bỏ ra thực hiện đựoc bao nhiêu lần cho vay
trong một năm. Vòng quay càng nhanh thì tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian
thu hồi nợ càng nhanh, chứng tỏ đầu tư càng an toàn và góp phần thúc đẩy huy động
vốn.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn
1.2.3.1. Nhân tố khách quan
a. Môi trường kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng, làm tăng tỷ lệ tiết

Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định luồng
tiền gửi vào và rút ra. Ngược lại, nếu khách hàng mất long tin về dòng tiền tương lai sẽ
gây ra hiện tượng rút tiền hang loạt, là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng.
Ở các nước phát triển, người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởng
những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi. Do vậy ngân gf không gặp mấy khó khăn
về huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư và trong các tổ chức kinh tế.
19

Trích đoạn Hoàn thiện công nghệ ngân hang Làm tốt công tác chăm sóc khách hàng: Thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngân hàng: Ứng dụng hoạt động marketing vào công tác huy động vốn Nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín của ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status